CÁC THỜI KỲ BẮC THUỘC

Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng

Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng

BẮC THUỘC LẦN THỨ NHẤT

Bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt An Dương Vương.

Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị diệt năm 207 TCN

Triệu Đà sau khi diệt Âu Lạc chia làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân.

Năm 111 TCNnhà Hán diệt Triệu Đà, chiếm Nam Việt và chia làm chín quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.

Năm 39, thái thú Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa và đã giành được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi vua, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.

BẮC THUỘC LẦN THỨ HAI

Năm 43, nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang tái chiếm. Hai Bà Trưng chống không nổi phải rút về giữ Cấm Khê rồi tự vẫn ở sông Hát. Dân địa phương lập đền thờ ở Hát Giang.

Sự cai trị của Đông Hán tại Giao Chỉ tương đối ổn định đến cuối thế kỷ 2Nhà Hán suy yếu, năm 192 dân huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam nổi dậy ly khai, lập ra nước Chăm Pa (Lâm Ấp).

Trong lúc nhà Hán suy yếu, thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp tự trị, dù trên danh nghĩa, họ Sĩ vẫn chấp nhận các thứ sử do nhà Hán rồi Đông Ngô cử sang. Một dấu mốc quan trọng thời kỳ này là việc  Giao Chỉ được đổi gọi là Giao châu, trở thành một châu ngang hàng như các châu khác của Trung Quốc theo đề nghị của Sĩ Nhiếp. Năm 226, Sĩ Nhiếp qua đời, nhà Đông Ngô đánh chiếm Giao Châu và chính thức cai trị.

Thời Bắc thuộc lần 2 chấm dứt năm 541 khi Lý Bí khởi binh chống nhà Lương và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân.

BẮC THUỘC LẦN THỨ BA

Năm 602nhà Tùy cho quân sang xâm lược nước Vạn XuânLý Phật Tử chưa đánh đã hàng, bị bắt về phương bắc rồi chết ở đó.

Năm 605, nhà Tùy đổi Giao Châu thành quận Giao Chỉ.

Nhà Đường thay nhà Tùy bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra, khôi phục lại chế độ các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Năm 622, nhà Đường lập Giao châu Đô hộ phủ.

Sau đó, nhà Đường đổi thành Phủ Đô hộ An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam lúc đầu gọi là kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ.

Do chính sách bóc lột nặng nề của nhà Đường, người Việt nhiều lần nổi dậy chống nhà Đường. Tiêu biểu nhất là các cuộc nổi dậy của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (776-791) và Dương Thanh (819-820), song đều thất bại.

Đầu thế kỷ 10, nhà Đường suy yếu nghiêm trọng. Thừa dịp,  Hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã đánh chiếm phủ Đại La và xác lập quyền tự chủ cho người Việt.

Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo lên thay tiếp tục làm Tiết độ sứ. Năm 917, Khúc Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay.

Năm 923 vua Nam Hán  đem quân sang đánh, tiếp tục đô hộ An Nam.

Năm 931, Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo đem quân đánh tan quân Nam Hán và tự xưng là Tiết độ sứ. Năm 937, bộ tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết ông để chiếm ngôi.

Năm 938, bộ tướng khác, đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân giết Kiều Công Tiễn, rồi đánh tan đạo quân xâm lược Nam Hán do Hoằng Tháo dẫn đầu sang tiếp ứng cho Công Tiễn, lập ra nhà Ngô.

Từ đó bắt đầu thời kỳ độc lập ổn định của Việt Nam.

Ba thời kỳ Bắc thuộc này thường được các sử gia Việt Nam gộp lại thành một tên chung là THỜI KỲ BẮC THUỘC kéo dài 1.000 năm.

BẮC THUỘC LẦN THỨ TƯ

Sau thời nhà Ngô đến thời nhà Đinh, Việt Nam chính thức có quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Sang thời Lý, quốc hiệu được đổi là Đại Việt. Trong hơn 400 năm, các triều đại Tiền Lê và Trần, Đại Việt đều đánh thắng các cuộc xâm lăng của Trung Quốc.

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1406nhà Minh đem quân sang, lấy lý do là để khôi phục nhà Trần, nhưng thực chất đã sáp nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung Quốc và cử quan lại người Hán sang cai trị.

Năm 1407, Giản Định vương, con thứ của vua Trần Nghệ Tông xưng làm Giản Định Đế (1407-1409) để nối nghiệp nhà Trần (thành nhà Hậu Trần) và bắt đầu một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại.

Năm 1418Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam SơnThanh Hóa.

Năm 1427, cuộc khởi nghĩa thành công, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư, và mở đầu một triều đại mới của Việt Nam: nhà Hậu Lê.

So với giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ Bắc thuộc này tuy không dài bằng, nhưng chính sách đồng hóa và bóc lột được thực hiện mạnh mẽ hơn. Nhà Minh bắt người Việt phải theo kiểu người Trung Quốc, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Các tài sản quý như người tài, sách vở, báu vật đều bị đem về Trung Quốc. Trong số đó có các cuốn sách văn học, lịch sử, binh pháp,… có giá trị và đã được truyền lại từ nhiều đời, hầu hết đã trở thành thất truyền ở Đại Việt kể từ đó. Khoảng 7600 thương gia và nghệ nhân Đại Việt (trong đó có nghệ nhân chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, nghệ nhân kiến trúc Nguyễn An, một thiên tài kiến trúc người Việt đã thiết kế và xây dựng cố cung Bắc Kinh ngày nay) đã bị bắt đưa sang Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc thời bấy giờ. Ngoài ra, nhà Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng (bao gồm cả thuế muối) cùng với việc đẩy mạnh khai thác các sản vật quý phục vụ việc cống nộp.

(Tóm lược theo tài liệu của Wikipedia)

Advertisements

4 comments on “CÁC THỜI KỲ BẮC THUỘC

  1. Lãnh đạo Vn và TQ thường tuyên bố mập mờ rằng tuân thủ thỏa thuận cấp cao giữa lãnh đạo hai bên mà không bên nào nói rõ cái thỏa thuận cấp cao này là cái gì?

    Nếu cứ mập mờ như vậy,người dân không cần biết và có quyền không thực hiện cái thỏa thuận cấp cao bất hợp pháp bởi chưa bao giờ được Quốc hội VN phê chuẩn này .

    • Một trong những thỏa thuận cấp cao giữa 2 đảng CS.được ký đầu năm 2017 là
      đào tạo cán bộ cấp cao giữa 2 đảng CS.mà thực chất hay nói thẳng thừng ra là Tàu cộng đào tạo tay sai cho chúng ở VN.Thử hỏi một nước nhỏ hay đàn em thì tư cách gì đào tạo cán bộ cấp cao cho đàn anh hay quan thầy Tàu cộng ?

  2. Pingback: CÁC THỜI KỲ BẮC THUỘC | Sưphạm ÁO NÂU Đalat

  3. Bốn lần Bắc thuộc thì ba lần triều đình Việt Nam đã thua trận trước quân xâm lược phương Bắc, một lần chưa đánh đã đầu hàng.
    Tra cứu Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, chúng ta thử tìm xem nguyên nhân những thất bại này từ đâu mà ra.
    Bắc thuộc lần thứ nhất:
    Năm 210 TCN, Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn nhưng không được bèn sai sứ giảng hòa, hai bên lấy Bình Giang làm ranh giới. Triệu Đà cho con là Trọng Thủy cầu hôn con gái vua là Mị Châu, An Dương Vương bằng lòng gả và cho Trọng Thủy ở rể. Vua từ đó chủ quan không đề phòng gì nữa, đến khi Trọng Thủy giả vờ về Bắc thăm cha mẹ, báo tình hình dò xét được cho Triệu Đà đem quân sang đánh thì trở tay không kịp. Vua nhảy xuống biển mất năm 208 TCN và nước ta rơi vào vòng đô hộ chỉ vì không đề phòng tính gian ác của triều đình của triều đình phương Bắc.
    Tình trạng lệ thuộc này chấm dứt khi Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định và xưng vương năm 40.
    Bắc thuộc lần thứ hai:
    Năm 43, Hai Bà Trưng chống cự với quân nhà Hán do Mã Viện cầm đầu sang xâm lược nước ta nhưng thế yếu phải nhảy xuống sông Hát tự trầm. Thất bại này la do Hai Bà Trưng mới giành lại độc lập cho nước mới được 3 năm sau một thời gian bị đô hộ kéo dài 248 năm nên công việc tổ chức phòng thủ chưa đủ để đối phó với một đạo quân chuyên nghiệp.
    Thời kỳ bị đô hộ này chấm dứt năm 541 khi Lý Bí đuổi quân xâm lược để lập nên nhà Tiền Lý, nước Vạn Xuân.
    Bắc thuộc lần thứ ba:
    Năm 602 nhà Tùy cho Lưu Phương thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Phật Tử chưa đánh đã hàng, bị đưa về Bắc rồi chết ở đó. Nguyên nước Vạn Xuân dựng năm 541 sau khi đuổi quan cai trị của nhà Lương thì đến năm 545 nhà Lương lại đem quân sang xâm lược. Lý Nam Đế bị Bá Tiên đánh bại nên lui về động Khuất Lão, ủy cho Triệu Quang Phục đi đánh Bá Tiên. Nam Đế nhiễm lam chướng mất năm 548. Triệu Quang Phục cầm cự với Bá Tiên cho đến khi Bá Tiên phải rút về Bắc vì nhà Lương gặp loạn Hầu Cảnh thì quân Lương suy giảm sức mạnh nên quân Nam chém được Dương Sàn và quân Lương tan chạy về Bắc. Triệu Quang Phục xưng vương đóng đô ở Long Biên.
    Người anh của Lý Nam Đế và tướng Lý Phật Tử cũng bị Trần Bá Tiên đánh phải chạy vào động Dã Năng để ở, được dân chúng tôn làm chúa, mất năm 555. Lý Phật Tử nối ngôi, đến năm 557 đem quân xuống miền Đông đánh Triệu Việt Vương nhưng bị kém thế mới xin giảng hòa. Vua nghĩ Phật Tử là họ của Nam Đế nên chia địa giới ở bãi Quân Thần cho ở phía Tây của nước. Sau này con Phật tử xin lấy con gái vua. Vua bằng lòng cho Nhã Lang ở gửi rể. Năm 570, Nhã Lang về thăm cha mẹ, bàn mưu với cha đánh úp vua, chiếm lấy nước. Việt Vương thế cùng phải nhảy xuống cửa biển Đại Nha. Lý Phật Tử cầm quyền trên cả nước được 32 năm, đến khi giặc Lương sang xâm lược thì Lý Phật Tử chưa đánh đã hàng Lưu Phương nên bị bắt đưa về Bắc. Các tướng cũ của Lý Phật Tử bị Lưu Phương bắt đều bị cho là gian ác và bị chém cả.
    Dùng mưu gian độc chiếm cả nước suốt 32 năm mà không làm được gì, Lý Phật Tử chỉ tạo nên một triều đình hèn yếu đến nỗi không chống cự gì rốt cuộc phải chịu làm người tù xa quê còn các tướng dưới quyền bị bắt đều bị giặc đem chém cả.
    Thời kỳ bị đô hộ lại xảy ra một lần nữa và kéo dài cho đến khi Dương Đình Nghệ nổi dậy năm 931 và Ngô Quyền chém Hoằng Tháo (quân Nam Hán) năm 938 thì nước Việt bắt đầu thời kỳ ổn định độc lập.
    Bắc thuộc lần thứ tư:
    Năm 1406 nhà Minh đem quân sang xâm lược giả tiếng là khôi phục nhà Trần bị Hồ Quý Ly cướp ngôi. Nhà Hồ rồi nhà Trần cùng nhiều người dân yêu nước dũng cảm chống lại quân xâm lược nhưng do không phối hợp được với nhau, một số người mắc mưu xảo quyệt của giặc nên cuối cùng đến năm 1414 thì thất bại hoàn toàn. Giặc Minh thi hành mọi biện pháp để cố đồng hóa dân ta, khai thác vơ vét tài nguyên nhân lực, hủy hoại sách vở.
    Năm 1418 Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa ở Lam Sơn, trải qua biết bao gian khổ để chống lại giặc Minh đến năm 1427 thì thắng lợi hoàn toàn, giặc Minh phải rút về Bắc, đất nước khôi phục lại độc lập.
    Thời kỳ Bắc thuộc này ngắn nhưng khốc liệt và đồng thời cũng là chỉ báo cho thấy cách thức cai trị ở nước ta có nhược điểm mang tính hệ thống. Đất nước luôn ở dưới quyền của một họ bất kể họ đó có xứng đáng hay không. Vua thì cầm quyền mãn đời không cần biết có còn sáng suốt, có còn thích ứng được với thời đại hay không. Không có cách thay đổi triều đình một cách hòa bình, mỗi lần thay đổi họ vua là hao tổn xương máu của vua quan lẫn dân thường, xã hội đảo điên một thời gian mới ổn định để rồi lại suy thoái. Tư tưởng trong xã hội thì thủ cựu lúc nào cũng tôn sùng “thánh nhân”, chấp nhận học thuyết Nho giáo từ Trung Hoa đưa sang mà không xem xét đánh giá, không biết rằng “trung quân thì thường khi hại nước!”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s