Em bé gái trên Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell

Em bé ngày xưa, nay là Trung Tá Kimberly M. Mitchell

Feb 18, 2014 at 7:56 am

Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, một em bé 4 tháng tuổi nằm trên xác mẹ trên Đại Lộ Kinh Hoàng; em đang trườn người trên bụng mẹ tìm vú để bú nhưng mẹ đã chết từ bao giờ. Một người lính Quân Cụ chạy ngang, bồng em bé bỏ vào chiếc nón lá rồi chạy qua cầu Mỹ Chánh, trao lại cho một Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đang hành quân.

Bao năm trôi qua, em bé mồ côi mẹ nay trở thành Trung Tá trong Quân Lực Hoa Kỳ còn người Thiếu úy TQLC sang Hoa Kỳ theo diện HO nay đang định cư tại tiểu bang New Mexico. Hai người vừa gặp nhau sau 41 năm bặt vô âm tín. Ngày Thứ Ba 2 tháng 4, 2013 vừa qua, nhân dịp sang California dự lễ cưới, người Thiếu Úy TQLC này đã kể cho phóng viên Viễn Đông câu chuyện cảm động và ly kỳ ngay tại khách sạn nơi ông đang tạm cư ngụ.

Người Thiếu Úy TQLC tên là Trần Khắc Báo. Vào thời điểm 1972 ông còn độc thân và phục vụ tại Đại Đội Vận Tải Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, được biệt phái sang Phòng 4 của Sư Đoàn làm sĩ quan phụ trách chuyển vận. Vào sáng 1 tháng 5 năm 1972, Thiếu Úy Báo được lệnh cấp trên, cùng một số đồng đội mở cuộc hành quân để giúp di chuyển Tiểu Đoàn 7 TQLC ra khỏi vùng vừa bị thất thủ thuộc tỉnh Quảng Trị vì một số đông quân nhân bị thất lạc không tìm thấy vị chỉ huy của họ. Ngoài ra, ông cũng xin lệnh giúp di tản các Quân, Dân, Cán, Chính khác đang tìm đường chạy về phía nam sông Mỹ Chánh là nơi quân đội VNCH còn đang trấn giữ; ông được cấp trên chấp thuận.

Khi đơn vị ông đến cầu Mỹ Chánh (Quảng Trị) thì nơi đây là phòng tuyến cuối cùng của VNCH để ngăn chặn quân Bắc Việt tràn xuống phía Nam. Ông đã chỉ huy 20 quân xa GMC thực hiện cấp tốc cuộc di tản suốt ngày. Đến khoảng 4 hay 5 giờ chiều ông Trần Khắc Báo nhìn thấy thấp thoáng bên kia cầu còn một người đang ôm chiếc nón lá thất thểu đi qua với dáng điệu hết sức mỏi mệt. Ông định chạy qua giúp người này nhưng vị Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 TQLC đang trách nhiệm trấn giữ tại đó la lớn:

Trần Khắc Báo

ông Trần Khắc Báo trong ngày hội ngộ

“Cây cầu tao đã gài mìn, có thể nổ và sẵn sàng phá hủy khi thấy chiến xa Việt Cộng xuất hiện, đừng chạy qua, mày sẽ bị bỏ lại bên đó không về lại được đâu nghe!”
Ông cố nài nỉ:
“Đại Bàng chờ em một chút, cho em cứu người cuối cùng này.”

Và ông chạy đến đưa người này qua cầu. Thấy người này đi không nổi, thất tha thất thểu mà tay còn cố ôm vòng chiếc nón lá, Thiếu Úy Báo nói đùa:

“Đi không nổi mà còn mang theo vàng bạc châu báu gì nữa đây cha nội?”

Người ôm vòng chiếc nón lá nói:

“Em là lính Quân Cụ thuộc Tiểu Khu Quảng Trị, trên đường chạy về đây em thấy cảnh tượng hết sức thương tâm này, mẹ nó đã chết từ bao giờ không biết và nó đang trườn mình trên bụng mẹ nó tìm vú để bú, em cầm lòng không được nên bế nó bỏ vào chiếc nón lá mang đến đây trao cho Thiếu Úy, xin ông ráng cứu nó vì em kiệt sức rồi, không thể đi xa được nữa và cũng không có cách gì giúp em bé này.”

Nói xong anh ta trao chiếc nón lá có em bé cho thiếu úy Báo.

Ngừng một chút, ông Báo nói với chúng tôi:

“Mình là người lính VNCH, mình đã được huấn luyện và thuộc nằm lòng tinh thần ‘Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm’ nên lúc đó tôi nghĩ trách nhiệm của mình là lo cho dân nên tôi nhận đứa bé và nói với người lính Quân Cụ: ‘Thôi được rồi, để tôi lo cho nó, còn anh, anh cũng lo cho sức khỏe của anh, lên GMC đi để chúng tôi đưa anh về vùng an toàn.’”

Dead Soldiers on Side of Road

Sau đó, người sĩ quan TQLC ôm em bé leo lên chiếc xe Jeep chạy về Phong Điền, cách đó khoảng 20 cây số. Trên đường đi, ông Báo cảm thấy rất bối rối vì em bé khóc không thành tiếng vì đói, khát mà ông thì còn là một thanh niên trẻ (lúc đó mới 24 tuổi) chưa có kinh nghiệm gì nên ông hỏi người tài xế, bây giờ phải làm sao? Người tài xế tên Tài trả lời:
“Ông thầy cho nó bú đi! Ông thầy không có sữa thì lấy bi đông nước chấm đầu ngón tay vào nước để vào miệng nó cho nó bú.”

Ông Báo làm theo lời chỉ và em bé nín khóc rồi nằm im cho đến khi ông đưa em vào Phòng Xã Hội của Lữ Đoàn TQLC. Tại đây, gặp Thiếu tá Nhiều, Trưởng Phòng 4 TQLC, ông trao em bé cho Thiếu tá Nhiều và nói:

“Thiếu tá, tôi có lượm một em bé ngoài mặt trận, xin giao cho Thiếu tá.”

Ông này nhìn ông Báo cười và nói:

“Mày đi đánh giặc mà còn con rơi con rớt tùm lum!”

Ông Báo thanh minh:

“Không! Tôi lượm nó ngoài mặt trận; nó đang nằm trên xác mẹ nó.” Thiếu tá Nhiều bảo:

“Thôi, đem em bé giao cho Phòng Xã Hội để họ làm thủ tục lo cho nó.” Sau đó, ông Báo đưa em bé cho một nữ quân nhân phụ trách xã hội. Cô này nói với ông:

“Thiếu úy giao thì Thiếu úy phải có trách nhiệm, vì em bé này ở ngoài mặt trận thì Thiếu úy phải cho nó cái tên và tên họ Thiếu úy nữa để sau này nó biết cội nguồn của nó mà tìm.”

Lúc đó, ông còn độc thân nhưng trong thâm tâm ông vốn nghĩ rằng sau này khi ông cưới vợ, nếu có con gái ông sẽ đặt tên là Bích, nếu con trai ông sẽ đặt tên là Bảo, nên sau khi nghe người nữ quân nhân nói, ông Báo đặt ngay cho em bé cái tên là Trần Thị Ngọc Bích.

Sau đó ông trở về đơn vị và cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt cho tới tháng 3/1975, đơn vị ông bị thất thủ cùng Lữ Đoàn 2 TQLC ở Huế và ông Báo bị bắt làm tù binh. Mãi đến năm 1981 ông được thả về. Tháng 9/1994 ông được sang định cư tại thành phố Albuqueque, tiểu bang New Mexico…

EM BÉ MỒ CÔI GẶP MAY MẮN

Em bé Trần Thị Ngọc Bích được Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC đem đến Cô Nhi Viện Thánh Tâm Đà Nẵng giao cho các Dì Phước chăm sóc. Số hồ sơ của em là 899.

Một hôm có ông Trung Sĩ Hoa Kỳ thuộc binh chủng Không Quân phục vụ tại phi trường Đà Nẵng tên là James Mitchell vô Cô Nhi Viện xin nhận một trong các em tại đây làm con nuôi. Em Trần Thị Ngọc Bích may mắn lọt vào mắt xanh của ông James Mitchell và trở thành thành viên của gia đình này từ đó đến nay.

Sau khi rời khỏi binh chủng Không Quân, ông James Mitchell trở về Hoa Kỳ vào cuối năm 1972. Ông quyết định mang theo đứa con nuôi Trần Thị Ngọc Bích, lúc đó em mới được 6 tháng.

Hai ông bà Mitchell đặt tên Mỹ cho em là Kimberly Mitchell. Em ở tại trang trại của gia đình tại Solon Springs, tiểu bang Wisconsin. Kimberly Mitchell lớn lên tại đây và được bố mẹ nuôi rất thương yêu, coi như con ruột. Em được đi học, tham gia thể thao và vào hội thanh niên. Lớn lên em vừa đi học vừa phụ giúp cha mẹ nuôi bò và làm phó mát. Cái tên Trần Thị Ngọc Bích đã bị quên lãng từ đó, và Kimberly Mitchell cho biết, mỗi khi nghe ai nói gì về Việt Nam, cô thường tự hỏi, Việt Nam là đâu nhỉ?

DAI LO KH 03Khi đã có trí khôn, Kimberly Mitchell nhận thấy mình không phải người Mỹ như bố mẹ, không phải con lai, không phải người Tàu. Cô không biết mình là người nước nào và cứ mang cái thắc mắc đó mãi mà không ai có thể trả lời cho cô.

Một hôm, Kimberly Mitchell đánh bạo hỏi bố:

“Con muốn biết con người gì, nguồn gốc con ở đâu? Tại sao con lại là con bố mẹ?”

Bố nuôi James giải thích cho cô:

“Con là người Việt Nam, bố mẹ xin con từ trong viện mồ côi ở Đà Nẵng, Việt Nam. Nếu con muốn tìm nguồn cội của con, con có thể về Đà Nẵng, may ra tìm được tông tích của gia đình con.”

Ngay từ khi Kimberly còn học lớp ba, bố nuôi em đã muốn sau này cho Kimberly gia nhập Không Quân nhân khi cô được chọn tham dự hội thảo về nghệ thuật lãnh đạo dành cho những học sinh xuất sắc. Nhưng rồi định mệnh xui khiến, cô lại theo Hải Quân. Trong thời gian theo học, Kimberly Mitchell phải bỏ học một năm vì bố nuôi qua đời năm 1991 trong một tai nạn tại trang trại của gia đình. Sau đó cô trở lại trường và tiếp tục học. Năm 1996 cô tốt nghiệp Cơ Khí Hàng Hải và phục vụ trong Hải Quân Hoa Kỳ và hiện nay mang cấp bậc Trung Tá, Phó Giám Đốc Văn Phòng Trợ Giúp Quân Nhân và Thân Nhân tại Ngũ Giác Đài.
Năm 2011, Kimberly Mitchell trở về cố hương với tư cách một nữ Trung Tá Hải Quân, Quân Lực Hoa Kỳ, mong gặp lại người thân. Đến Viện Nuôi Trẻ Mồ Côi Thánh Tâm ở Đà Nẵng, cô may mắn gặp được Sơ Mary, người tiếp nhận cô năm 1972 từ một nữ quân nhân Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC. Giây phút thật cảm động, nhưng Kimberly chỉ được Sơ Mary cho biết:

“Lúc người ta mang con tới đây, con mới có 4 tháng và họ đặt tên con là Trần Thị Ngọc Bích. Họ nói mẹ con đã chết trên Đại Lộ Kinh Hoàng, con được một người lính VNCH cứu đem đến đây giao cho Cô Nhi Viện rồi đi mất, vì lúc đó chiến tranh tàn khốc lắm.”

Kimberly không biết gì hơn và cô quay trở lại Mỹ. Sau khi đã biết mình là người Việt Nam, thỉnh thoảng cô viết trên website câu chuyện của mình.

GẶP LẠI CỐ NHÂN

Ông Trần Khắc Báo đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, một số báo tiếng Việt và mấy tờ báo tiếng Anh đăng hình cuộc gặp gỡ giữa gia đình ông và cô Trần Thị Ngọc Bích, và nói:

“Sau khi ra tù Việt Cộng, tôi cũng cố tìm hiểu xem em bé Trần Thị Ngọc Bích nay ra sao, kể cả người lính Quân Cụ năm xưa, nhưng tất cả đều bặt vô âm tín. Một hôm tình cờ tôi đọc được một bài viết của tác giả Trúc Giang trên tờ Việt Báo Hải Ngoại số 66 phát hành tại New Jersey, tác giả kể lại câu chuyện đi Mỹ của một em bé trong cô nhi viện Đà Nẵng mang tên Trần Thị Ngọc Bích. Đọc xong tôi rất xúc động pha lẫn vui mừng, vì có thể 80, 90% cô Ngọc Bích đó là do mình cứu và đặt tên cho cô.”

Sau đó, ông nhờ người bạn tên là Đào Thị Lệ làm việc trong New York Life, có chồng người Mỹ và có em cũng ở trong Hải Quân Hoa Kỳ, liên lạc tìm kiếm Mitchell. Và chính cô Đào Thị Lệ là người đầu tiên trực tiếp nói chuyện với Trần Thị Ngọc Bích đang làm việc tại Ngũ Giác Đài.

Theo ông nghĩ, có thể cô Mitchell bán tín bán nghi, không biết chuyện này có đúng không hay là chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ” như ông cha mình thường nói. Nhưng sau khi nói chuyện với ông Trần Khắc Báo, Mitchell quyết định tổ chức một cuộc hội ngộ trước các cơ quan truyền thông. Cô xin phép đơn vị và mời được 7 đài truyền hình cùng một số phóng viên báo chí từ Washington, D.C cũng như nhiều nơi về tham dự.

Cuộc hội ngộ, theo ông Báo cho biết, hoàn toàn do cô Kimberly Mitchell quyết định, địa điểm là trụ sở Hội Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New Mexico vào Thứ Sáu, ngày 29.8.2012. Cô đến phi trường vào tối Thứ Năm 28.8, gia đình ông Báo ngỏ ý ra phi trường đón nhưng cô cho cô Đào Thị Lệ biết là cô không muốn gia đình đón ở phi trường cũng như đưa vào khách sạn. Cô muốn dành giây phút thật cảm động và ý nghĩa này trước mặt mọi người, đặc biệt là trước mặt các cơ quan truyền thông, và cô muốn ông Báo mặc bộ quân phục TQLC như khi ông tiếp nhận cô đưa đến Phòng Xã Hội Sư Đoàn TQLC cách nay 41 năm.

ông Trần Khắc Báo và Kimberly Mitchell

ông Trần Khắc Báo và Kimberly Mitchell

GIÂY PHÚT XÚC ĐỘNG

Gia đình ông Trần Khắc Báo gồm vợ và con gái cùng có mặt. Khi ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia hỏi cô Kimberly Mitchell:

“Cô đến đây tìm ai?”

Cô trả lời:

“Tôi muốn tìm ông Trần Khắc Báo.”

Vị Chủ Tịch quay sang ông Báo đang mặc quân phục và giới thiệu:

“Đây là ông Trần Khắc Báo.”

Lập tức, Kimberly Mitchell Trần Thị Ngọc Bích tiến lại ôm lấy ông Báo và cả hai cùng khóc nức nở.

Giây phút xúc động qua đi, cô Kimberly hỏi ông Trần Ngọc Báo:

“Ông là người đã cứu mạng tôi, tôi mới có ngày hôm nay; tôi xin cám ơn ông, và bây giờ ông muốn gì ở tôi?”

Ông Trần Khắc Báo nói :

“Thực sự bây giờ tôi chỉ muốn cô nói với tôi một lời bằng tiếng Việt, cô hãy kêu tôi là “Tía”. Vì tất cả các con tôi đều gọi tôi bằng Tía, tôi xem cô cũng như con tôi, tôi chỉ mong điều đó.”

Và Kimberly Mitchell đã gọi “Tía”.

Ông nói với chúng tôi:

“Bấy giờ tôi thực sự mãn nguyện.”

Trả lời các câu hỏi của chúng tôi, ông Trần Khắc Báo cho biết, cô Kimberly chưa lập gia đình và cô có hứa sẽ thường xuyên liên lạc với gia đình ông. Ông có nhắc cô Kimberly điều này, rằng cô không phải là đứa trẻ bị bỏ rơi. Cô đã được những người lính VNCH có tinh thần trách nhiệm cứu sống trên bụng mẹ cô đã chết, và chính ông đã đặt tên cho cô là Trần Thị Ngọc Bích. Ông cũng mong rằng sau này, cô có thể trở lại Quảng Trị, may ra có thể tìm ra tung tích cha cô hoặc người thân của mình. Ông Trần Khắc Báo cũng cho biết, ông mất liên lạc với người lính Quân Cụ từ lúc hai người giao nhận đứa bé đến nay.

Trong cuộc hội ngộ, trả lời câu hỏi của các phóng viên Hoa Kỳ, nữ Trung Tá Kimberly Mitchell cho biết, cô có hai cái may. Cái may thứ nhất là cô được tìm thấy và mang tới trại mồ côi. Cái may thứ hai là được ông bà James Mitchell bước vào trại mồ côi và nói với các Sơ rằng, ông muốn nhận em bé này làm con nuôi.”

Câu chuyện sau 41 năm kết thúc tốt đẹp, cô Trần Thị Ngọc Bích đúng là viên ngọc quý trên Đại Lộ Kinh Hoàng như ý nguyện của người đã cứu mạng em, vì chính cô đã làm vẻ vang cho dân tộc Việt khi cố gắng học hành để trở nên người lãnh đạo xuất sắc trong Quân Lực Hoa Kỳ, một quân lực hùng mạnh vào bậc nhất thế giới.

Người quân nhân binh chủng Quân Cụ và người sĩ quan TQLC Trần Khắc Báo đã thể hiện tinh thần của một quân nhân Quân Lực VNCH, luôn đặt Tổ Quốc – Danh Dự và Trách Nhiệm trên hết.

THANH PHONG

Nguồn: THỜI BÁO (The Vietnamese Newspaper)

TƯ LIỆU ĐỌC THÊM

Cuộc rút lui và thảm sát trên Đại lộ Kinh Hoàng

Ngày 31 tháng 3, căn cứ hỏa lực của TD4 TQLC tại núi Ba Hô và Sarge bị tràn ngập, phải di tản vào lúc 9 giờ 40 tối sau khi tổn thất nặng. Ngày 1 tháng 4, các căn cứ Đông Hà, Cam Lộ, Ái Tử bị pháo kích nặng nề nhưng nhờ hải pháo của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ nên QĐNDVN vẫn chưa chiếm được. Tuy nhiên trước sức tấn công mạnh mẽ của QĐNDVN, lần lượt các căn cứ hỏa lực A-1, A-2, A-3, A-4 do SD3BB trấn giữ, bị tấn chiếm, còn căn cứ Fuller và Khe Gió thì di tản chiến thuật. Căn cứ Holcomb của TQLC cũng bị tràn ngập lúc 12 giờ 30 khuya đêm 2 tháng 4

Ngày 30 tháng 4, tư lệnh chiến trường kiêm tư lệnh SD3 Bộ Binh Việt Nam Cộng hòa là Chuẩn tướng Vũ Văn Giai, triệu tập phiên họp đặc biệt và quan trọng để bàn kế hoạch giữ thành phố Quảng Trị và bỏ căn cứ hỏa lực Ái Tử. Do đó, trong cuộc lui quân, trên 2.000 quân Việt Nam Cộng hòa khi qua cầu Thạch Hãn thì cầu bị sập, khiến cho một số lớn chiến xa, xe cộ, đại bác và quân trang quân dụng… phải bị bỏ lại phía bên kia cầu. Cùng với dòng lính đang rút chạy, nhiều thường dân cũng nhập lại thành một đoàn dài lẫn lộn cả dân và lính. Lúc đó Quốc lộ 1, đoạn từ Hải Lăng về Mỹ Chánh, đang bị QĐNDVN chiếm và đóng chốt, nhất là cầu sông Nhung, nằm giữa Quốc lộ. Đoàn người xuôi Nam hỗn loạn, lớp lính, lớp dân, lớp dân trộn vào với lính, bằng đủ loại phương tiện, từ chạy bộ quang gánh đến quân xa, thiết giáp, xe đò, xe lam, xe máy. Một số quân nhân còn khả năng tác chiến cá nhân hay ở cấp đơn vị nhỏ, mạnh ai nấy đánh và mạnh ai nấy chạy nhưng không còn khả năng hành quân nhổ chốt mở đường. Tình trạng này đã làm gián đoạn giao thông, đoàn xe di tản của dân và lính, dài hơn ba cây số.

Theo RFA thì “hàng chục ngàn thường dân đã chết trên đoạn đường này, và cái tên Đại lộ Kinh Hoàng được nhắc tới từ ngày đó”.

Ngày 23 tháng 7 năm 2005 Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tại đây, sau khi dâng hương cúng tại đài liệt sĩ, Hòa thượng Thích Chánh Liêm, Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Trị, cho biết: “Năm 1972, trận chiến ở Quảng Trị đã làm hàng chục nghìn người chết, con đường quốc lộ đoạn qua Hải Lăng bấy giờ được gọi là ‘đại lộ kinh hoàng’, người chết la liệt. Tháng 8/1973 đã diễn ra một lễ đại cầu siêu kéo dài 7 ngày 7 đêm. Hơn 3.000 tăng ni và hàng nghìn Phật tử đã về đó tìm xác, chôn cất người chết. Tất cả đều được chôn cất đàng hoàng và được làm lễ cầu an sinh linh. Bây giờ đi trên quốc lộ 1A, qua đó vẫn thấy Đài Địa Tạng lưu giữ dấu ấn về đại lễ cầu siêu năm đó”.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

DAI LO KINH HOANGHÌNH NHỜ ĐĂNG

Có một độc giả tên là Nguyễn Đình Hướng (Email: ndhuong54@gmail.com) gởi cho chúng tôi một bức ảnh nói đó là “ông nội” của “Em bé trên đại lộ kinh hoàng”. Ông này tên là Lê Quang Chung 91 tuổi hiện cư trú tại làng An Lưu, Triệu Phong, Quảng Trị.

Chúng tôi đăng hình này theo yêu cầu và vì lòng nhân đạo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin này.

Advertisements

19 comments on “Em bé gái trên Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972

  1. Không dám đọc kỹ bài viết. Chỉ ghi nhận đại ý.
    Nhắc lại nhửng chuyện kinh hoàng làm thêm đau buồn, con đường đi của dân tộc Việt từ thế kỷ 20 đến sang thế kỷ 21.
    “Lạc đường” và đầy đau thương, chưa hồi kết, chưa tìm ra đường.

  2. “hàng chục ngàn thường dân đã chết trên đoạn đường này, và cái tên Đại lộ Kinh Hoàng được nhắc tới từ ngày đó”.
    Ai giết họ?

  3. Trong chuyện này, còn người lính quân cụ, tấm lòng mới nhân hậu làm sao, vẫn ôm đứa bé trong tình trạng kiệt sức. Nếu ông còn sống họp mặt cùng với ông Bảo, cô Bích cùng những người liên quan biết chuyện thì vui hơn nữa. VN trãi qua cuộc chiến tang thương, nhiều cảnh còn đau lòng hoặc li kì không kể xiết.

  4. Đọc chuyện này tôi sinh lòng ghen tị. Liệu rằng những anh bộ đội cụ hồ có chuyện nhân dức nào tương tự thế này kể ra để nhân dân biết các anh là quân đội nhân dân đi chứ nhỉ!

  5. Tôi có đọc một câu chuyện về người bạn cũ củaBủi văn Bồng : Sau trận đánh một người lính Mỹ bị bỏ lại vì hỏa lực ở dưới quá mạnh ,một ông sĩ quan của VC đã không cho người cấp dưới bắn chết vì anh muốn tha cho anh Mỹ còn quá trẻ! Sau này anh bị người cấp dưới tố cáo là không đối xử đúng với tinh than người Cộng Sản ! Anh bị đuổi ra khỏi quân đội,người vợ sắp cưới từ hôn,gia đình phải bán cả nhà và ruộng vườn để trả nợ cho tiền chi phí mà chính phủ đã chu cấp cho anh khi còn tại ngũ,anh và gia đình phải đi kinh tế mới! Anh lính Mỹ sau ngày về nước vẫn nhớ ơn người cứu mình ,biết tên anh qua cái bi đông đựng nước mà anh để lại cho .Sau này anh Mỹ tìm gặp lại anh,mời anh sang Mỹ chơi,bao anh làm bộ răng giả.

  6. Pingback: Partial List of References used for Republic of Viet Nam Day Resolution Project Materials |

  7. Chiến tranh đã qua gần tròn 40 năm,đau thương không còn nữa nhưng nỗi “kinh hoàng” năm xưa như còn vọng lại!Đọc bài này tôi đã khóc nhiều lắm vì cảm động sau nỗi đau thương ,kinh hoàng mà kết cuộc có hậu.Đoàn người tán loạn năm nào như hiện lại trong tôi,Ôi! tàn khốc quá!Dù từ đó đã ra đi, nhưng dãi đất nghèo và khắc nghiệt của quê tôi còn in đậm.Ước gì cuộc sống hôm nay khá hơn để để bù đắp một thời đau thương và nghèo khổ.

  8. Đây là hình của ông Lê Quang Chung 91 tuổi hiên cư trú tại quê là làng An Lưu, xã Triệu Sơn Triệu Phong Quảng trị, người có đứa cháu nộigái 3 tháng tuổi thất lạc tại Cầu Dài- Mỹ Chánh năm 1972.
    Ông nói rằng: Vì không biết cách nào để liên lạc xác minh; hơn nửa cô ta đang làm việc ở bộ quốc phòng Mỹ mà ông ta đang là quân đội hưu trí. Nổ lực của mình đôi khi ảnh hưởng đến tiền đồ, tương lai của cổ. Vừa rồi có anh Trần Giáo; người làng về có cắt móng tay để nhờ người bạn nào đó xét nghiệm ADN… chưa nghe phản hồi thông tin.Mong là mọi điều tốt lành đến với những người đã mất mát người thân, sớm đoàn tụ.(con trai là Lê quang Chỉ, còn đứa cháu gái cũng đã đặt tên…)

  9. Tôi copy dán vào nhưng sao ko được có lẽ do còn yếu kém về tin học. xin thông cảm. Bạn có thể vào facebook tìm Nguyen Dinh hay gởi mail về ndhuong54@gmail.com tôi sẽ gởi hình đến bạn.

  10. Dù ở bất cứ nơi đâu cũng có Tình Người?Trong hoàn cảnh Chiến tranh Cuộc chiến đang xảy ra khốc liệt! Ai cũng lo bảo vệ lấy thân mình?Thế mà..Trái tim Người Lính .Trước kẽ địch không hề nao núng?Tay cầm súng cũng sẽ ..Sát như ai để sinh tồn!Điều đó lẽ dương nhiên?Nhưng khi dưới làn bom rơi đạn nổ ấy..Người chiến sĩ vì Tình Người-Một cái Tình ”Thương Người như thể thương Thân ”Mà Thân ở đây ,vào trường hợp lại là ..Thương như những người Thân của mình-Thương và Cứu giúp kẽ bất hạnh-Một đứa bé thơ vô tội Đang nguy khốn giữa trận chiến đang xảy ra !Người Chiến sĩ VNCH ấy ..Trong tâm trạng bất ngờ !Phải đối diện điều bất trắc đầy nguy hiểm Nó sẽ xảy ra cho mình và đứa bé Nếu xông pha giữa làn mưa đạn để cứu bé..Và động lực muốn cứu người ,đã thôi thúc phải hành động ngay tức thời?Và có lẽ Người đã nghĩ ..Đứa bé như con cháu mình?Thế là phản xạ tự nhiên của một người lính -Có trái tim rất Người ấy đã ..Làm những gì như chúng ta đã biết..Cứu bé gái ấy một cách vô điều kiện.Quên bản thân mình có thể hy sinh ngay lúc đó!?Thật là …Một hành động rấtTình Người Rất đáng khâm phục phải không?Như vậy là khác với những gì người ta thường nói”Những người lính chiến, thường có trái tim sắt đá lạnh lùng?Nhưng đâu có nghĩa là..Mất Nhân Tính phải không?

    • Đọc được những dòng chữ này,tôi đã rất xúc dộng vì chính tôi cũng ở trường hợp này và trong suốt hơn 40 mấy năm qua tôi vẫn luôn nhớ đến một bé gái mà tôi đã cứu được tại hầm chữ A nằm trong khu vực nhà thờ LA VANG.Tôi là một quân nhân Nhảy Dù,tên họ là Nguyễn Văn Kình số quân:72.119120.KBC 3418.Đơn vị.pháo đội A,tiểu đoàn 3 pháo binh dù.Ngày đó vào khoảng tháng 7/8/1972 đơn vị tôi dến tiếp quản khu vực nhà thờ LA VANG khi đến nơi,ở ngay trên đầu nhà thờ là nhà máy đèn của nhà thờ và ngay đó có một cái hầm chữ A lúc tôi xuống hầm kiểm soát,một mùi tử khí nồng nặc,dưới hầm rất tối nên tôi phải dùng đèn pin để chiếu sáng và cảnh tượng trước mắt tôi là xác một phụ nữ khoảng ngoài 30 tuổi đắp mền đã bốc mùi,ngoài ra không có gì khác tôi đã định lên hầm bỗng trực giác mách bảo như có gì không ổn,khi tôi nhìn kỹ xác người đàn bà tôi đã thấy có một đứa trẻ sơ sinh.Lúc này tâm trạng tôi rất xúc động.tôi vội đưa cháu lên từ từ cho uống sữa,rất may ;lúc đó đơn vị đang có tiếp tế và tôi xé miếng vải trắng ghi rõ họ tên số quân đơn vị của tôi và đặt tên cho cháu bé là Nguyễn Thị Lệ THỦY.Sau này nghe nói cháu được gửi vào cô nhi viện HUẾ.
      Từ đó đến nay lúc nào tôi cũng nhớ đến cháu và chỉ mong có ngày được gặp lại.Với những dòng chữ này,hy vọng cháu nhận được và hồi âm để cha con được đoàn tụ…

  11. Chien. Tranh that khoc liet,nhung nam tuoi tho cuaa toi cung song tren vunng hoa tuyen. Do.that bat ngo khi biet duoc so phhan em be mmo. Coi. Dduoc nhu. Bay giio.xin. ccam oon thuong de da an bai

  12. Đọc được những dòng chữ này,tôi đã rất xúc dộng vì chính tôi cũng ở trường hợp này và trong suốt hơn 40 mấy năm qua tôi vẫn luôn nhớ đến một bé gái mà tôi đã cứu được tại hầm chữ A nằm trong khu vực nhà thờ LA VANG.Tôi là một quân nhân Nhảy Dù,tên họ là Nguyễn Văn Kình số quân:72.119120.KBC 3418.Đơn vị.pháo đội A,tiểu đoàn 3 pháo binh dù.Ngày đó vào khoảng tháng 7/8/1972 đơn vị tôi dến tiếp quản khu vực nhà thờ LA VANG khi đến nơi,ở ngay trên đầu nhà thờ là nhà máy đèn của nhà thờ và ngay đó có một cái hầm chữ A lúc tôi xuống hầm kiểm soát,một mùi tử khí nồng nặc,dưới hầm rất tối nên tôi phải dùng đèn pin để chiếu sáng và cảnh tượng trước mắt tôi là xác một phụ nữ khoảng ngoài 30 tuổi đắp mền đã bốc mùi,ngoài ra không có gì khác tôi đã định lên hầm bỗng trực giác mách bảo như có gì không ổn,khi tôi nhìn kỹ xác người đàn bà tôi đã thấy có một đứa trẻ sơ sinh.Lúc này tâm trạng tôi rất xúc động.tôi vội đưa cháu lên từ từ cho uống sữa,rất may ;lúc đó đơn vị đang có tiếp tế và tôi xé miếng vải trắng ghi rõ họ tên số quân đơn vị của tôi và đặt tên cho cháu bé là Nguyễn Thị Lệ THỦY.Sau này nghe nói cháu được gửi vào cô nhi viện HUẾ.
    Từ đó đến nay lúc nào tôi cũng nhớ đến cháu và chỉ mong có ngày được gặp lại.Với những dòng chữ này,hy vọng cháu nhận được và hồi âm để cha con được đoàn tụ…

  13. Pingback: Em bé gái trên Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 | Quảng Ngãi Nghĩa Thục

  14. Mẹ của cô chết tại đại lộ kinh hoàng từ cầu Mỹ Chánh ra Quảng Trị chừng 3 km nằm phía bên phải. cách đường quốc lộ 1 hiện nay chừng 3m

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s