LẠC ĐƯỜNG – Những ánh lửa đốt đồng

LAC DUONG new 02

THÁNG 9/1967 TÔI VÀO SÀIGÒN HỌC ĐẠI HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG TRONG PHONG TRÀO SINH VIÊN ĐẶC KHU SÀI GÒN – CHỢ LỚN – GIA ĐỊNH. 
CHIẾN KHU ĐẦU TIÊN MÀ TỘI ĐẾN ĐỂ HỌC CHÍNH TRỊ VÀ SỬ DỤNG VŨ KHÍ LÀ CẦN GIUỘC.

*

Cần Giuộc đón người đồng chí nhỏ của mình bằng gió tràn trề tuôn chảy từ mặt đất, lướt nhanh trên sóng lúa, xô giạt về phía chân trời bất tận.

Cần Giuộc khác với đồng quê miền Trung vì nó đầy chân trời. Và đầy gió. Một thế giới không có núi, không có rừng, không có biển, nhưng vây quanh tôi là sa mạc lúa xanh và cỏ.

Tôi thì đứng lặng mà gió thì cứ trào lên từ những lỗ chân lông của đất, từ những gốc rạ, những kẻ nứt ẩn giấu bên dưới lá cỏ thấp.

Buổi chiều đó tôi thấy như mình đang trở về quê nhà dù trạm đầu tiên của vùng căn cứ này chỉ là một túp lều tranh xơ xác. Nhưng tôi đã đứng ngây dại bên khung cửa xiêu vẹo ấy nhìn gió lùa trên mái tranh mà rưng rưng nước mắt.

Tôi đã không có món quà nào cho Cần Giuộc nhưng Cần Giuộc đã trao cho tôi niềm xúc động thần thánh của một tình yêu cách mạng đầu đời.

Khi bóng tối trùm xuống túp lều nhỏ thì tôi mới bước vào trong ánh đèn dầu long lanh như một giọt nước đặt giữa tấm ván thô. Cùng ăn cơm với tôi là một người đàn bà gầy yếu trạc ngoài năm mươi. Bà nói:
-Ăn xong cậu nghỉ một lát, đến khuya sẽ có người dẫn đi.
Tôi ăn rau luộc và một chút cá kho mặn. Người đàn bà thì lặng lẽ, chậm chạp và nhẹ tênh.
-Lần sau vô cứ cậu đừng mang giày Ba-ta trắng. Người ta sẽ biết cậu là dân thành thị.

Người đàn bà bưng mâm ra sau nhà. Tôi muốn bước ra ngoài đêm lần nữa nhưng bà bảo tôi đi nghỉ.
Tôi nằm nghe gió. Vẫn rộn ràng như đàn chim thiên di. Vẫn như ngàn cánh nhỏ xao động quanh chiếc lều tranh rách nát. Cứ thế, gió rù rì suốt đêm như đàn trẻ nhỏ.
Tôi đã ngủ trong tiếng thì thầm bất tận ấy.

*

Tiếng gọi phát ra từ dưới hầm trú pháo.
Không biết dì Tư đi đâu mà không trả lời. Hầm trú sâu và rất kiên cố với mái hình chữ A làm bằng những thân cây to, đắp đất lên trên. Tôi nằm cách miệng hầm chừng bốn năm mét và hoàn toàn không ngờ lại có người dưới đó.
-Cô Tư ơi!
Không ai trả lời. Tôi ngồi dậy. Và cầm cái đèn dầu, lần mò xuống hầm.

Một người đàn ông mặc bà ba đen đang lần theo vách hầm tiến lại phía các bực cấp. Dường như ông đang bị thương khá nặng. Tôi ghé vai vào nách ông, dìu ông đi. Nhưng vì ông to con quá nên tôi loạng choạng. Chúng tôi bước từng bước lên những bực cấp bằng đất sét ẩm ướt và lên được mặt đất. Lúc ấy trăng khuya đã lên, mờ ảo như sương đục. Tôi phải rất khó khăn khi đỡ ông ngồi xuống cầu cá tra. Vết thương của ông ở hông bên trái.
-Cậu vô nhà đi.
Nhưng tôi không dám bỏ ông ngồi một mình trên cái nhà vệ sinh ọp ẹp đó. Tôi ngồi đối diện để giữ hai vai ông.
Dưới ánh trăng mờ đục, tôi nhận ra một khuôn mặt vuông vức, mày rậm, râu mọc tua tủa như Lý Quỳ ở Lương Sơn Bạc.

Gió đã lặng. Hình như những cánh đồng đang nằm im, đợi sương xuống.
Chúng tôi trở vô nhà nhưng dì Tư vẫn chưa về. Người đàn ông muốn nằm trên ván một lát.
Rồi dì Tư bước vô, bà nói:
-Không thấy giao liên ra, tui phải đi tìm. Đồng chí xuống trăng-sê đi.
Tôi cùng dì đỡ người thương binh xuống hầm.

Lát sau giao liên tới. Và dẫn tôi đi.
Đi được nửa tiếng, bỗng thấy lửa cháy rần rần trước mặt.
-Gì vậy?
-Đốt đồng.
Với tôi, đó không phải là một đám cháy mà là một bức tranh huy hoàng, giăng ngang chân trời. Trong đêm đen thầm lặng yên ngủ bỗng bừng lên một bình minh lạ thường, một bình minh của thế giới khác, rực rỡ, giàu có và lộng lẫy.
Lửa trải dài như một rừng hoa đỏ thắm, long lanh trong bóng tối dày đặc của đất đen, của những cây chồi đen và đường chân trời đen.

Đó là sự bừng tỉnh của đất, mới mẻ, hùng tráng như một thế lực tiềm ẩn ngàn đời đang phát tiết tinh hoa. Lửa bùng cháy ngây ngất và say đắm như thế giới mà cô Lọ Lem tìm đến lúc đêm khuya.

Tôi thảng thốt nhìn, ngạc nhiên vì vẻ đẹp của lửa trong đêm tối. Tôi đã từng bị mê hoặc bởi những bếp lửa nhỏ trong những buổi sáng lạnh lẽo mưa phùn ở miền Trung hay trên một đồi trà ở cao nguyên. Lửa ở đó thân mật như người bạn tình, như con thú nhỏ quấn quýt…nhưng không ở đâu lửa lại có vẻ đẹp hoang dã, sang trọng, mạnh mẽ, vừa lãng mạn, vừa dữ dội như lửa đốt đồng trong đêm hôm ấy.

Ngọn lửa đó vừa khai sinh một thế giới khác, một ý niệm không gian và thời gian khác, tách biệt hẳn cái không gian ba chiều quen thuộc và buồn tẻ mà ta đang sống. Đó là ngọn lửa thần bí của thiên đường mà suốt đời có lẽ tôi chỉ một lần được gặp.
Cần Giuộc đã đón tuổi thanh xuân tôi bằng gió và lửa cháy.
Đó là mối tình đầu rực rỡ.

ĐÀO HIẾU.
(Trích hồi ký “Lạc Đường”)

Advertisements

LẠC ĐƯỜNG – Trích đoạn 02

LAC DUONG new 02

ĐÁNH SẬP TỔNG HÀNH DINH QUÂN ĐỘI MỸ TẠI QUY NHƠN VÀ CUỘC PHẢN CÔNG TÀN KHỐC.
*
Tóm lược: TRƯỚC LÀN SÓNG BIỂU TÌNH CÀNG LÚC CÀNG DỮ DỘI, CHÍNH QUYỀN “THIỆU – KỲ” BUỘC PHẢI THẢ CHÚNG TÔI RA. 
GIÁO SƯ, THI SỸ VIỆT CỘNG TRẦN QUANG LONG – THẦY DẠY VĂN CỦA TÔI – BỊ BẮN GÃY CHÂN NÊN ĐƯỢC ĐƯA VÀO QUÂN Y VIỆN QUY NHƠN ĐIỀU TRỊ, TÔI ĐẾN BỆNH VIỆN CHĂM SÓC ANH. VÀ ĐÊM HÔM ĐÓ, MỘT BIẾN CỐ KINH HOÀNG ĐÃ XẢY RA.

*

Tôi đẩy xe lăn đưa Long về phòng. Và khi tôi vừa đỡ Long nằm xuống giường thì một tiếng nổ vang rền dữ dội, từ phía thành phố vọng lại.
Sau đó là một phút im lặng ghê gớm.
-Chuyện gì vậy?
Có tiếng hỏi nhau xì xào ngoài hành lang bệnh viện.
Tôi nhìn Long, sửng sốt. Long nghiêng người qua, nói nhỏ vô tai tôi:
-Đặc công!

*

Bayle đã chết trong tiếng nổ long trời đó. Nhưng lúc ở trong bệnh viện tôi không hề biết. Tôi cũng không biết là ba của Dã Nhân cũng đã chết trong đêm kinh hoàng ấy.

Lúc bấy giờ đã khuya, trời tối đen. Sau tiếng nổ là một sự im lặng ghê gớm. Tiếng gió hú ngoài biển càng làm cho sự im lặng thêm man rợ. Nhưng chỉ một lát sau đã nghe tiếng máy bay trực thăng quần đảo trên đầm Thị Nại. Rồi từng loạt đạn đại liên M60 trút xuống đầu những ngọn sóng.

Bầu trời bị chấn động, rạn vỡ, tan nát. Những cơn gió rách tả tơi. Những ngọn sóng tóe máu. Thuyền đánh cá vung vãi như giẻ rách. Người chết không một lời kêu cứu. Cuộc trả đũa tàn khốc và mù lòa. Tiếng động cơ máy bay và đạn pháo thì gầm thét nhưng cái chết thì câm lặng, tắt nghẹn, chìm khuất.

Sáng hôm sau tôi đến lầu Việt Cường, nơi đặt Tổng hành dinh của quân đội Mỹ. Tòa cao ốc này sụm xuống như một cái đèn xếp. Lộ ra một mảng trời đục.. Hôm qua, nơi đây cảnh sát đã dọn đường cho phái đoàn quân sự cao cấp Mỹ đến họp. Và sáng nay những người cảnh sát này lại đến, cùng với quân cảnh Mỹ, cô lập khu vực này lại cho công binh Mỹ dùng cần cẩu bốc những tảng bê tông lên và chui vào lấy xác.

Tôi len lỏi vào đám đông. Đột nhiên tôi nhìn thấy Bayle nằm lẩn trong đống xác lính Mỹ vừa được kéo ra xếp hàng trên nền đất.
Bayle nằm sấp, mặt nghiêng về một bên, mũi dập nát và đầy máu. Nhưng tôi nhận ra anh nhờ hai bàn tay. Cũng giống như hai bàn tay tôi – bàn tay của người chơi đàn ghita cổ điển – tay phải để móng dài, tay trái đầu ngón tay bè ra và chai cứng. Trong số những tác phẩm của Tarrega mà Bayle thường chơi có bài “Giọt nước mắt” (Lagrima). Bây giờ giọt nước mắt đang chảy trên má tôi.

Lúc ấy Dã Nhân xuất hiện và kéo tôi chạy ra đầm Thị Nại.
Một đám đông đang tụ lại bên hàng rào kẽm gai. Viên cảnh sát ra lệnh cho các tù nhân đem băng ca xuống bãi cát. Mấy cái xác nằm lẩn trong rác rưới và vỏ sò. Mấy chiếc máy bay phản lực còn bay vòng ngoài biển. Phía trên những ngọn núi còn phủ đầy khói.

Bãi cát ở thụt sâu dưới thấp. Mấy xác chết nằm im lìm như những vết đen trên một nền cát xám ngoét. Những người đến xem đứng dọc theo hai bên đường ray.

Khi xác chết được khiêng lên thì mọi người đều im lặng. Không một âm thanh nào ngoài tiếng động cơ của chiếc máy bay thám thính L19 đang trinh sát trên cao.
Nạn nhân là một người đàn bà và hai người đàn ông. Cái cổ người đàn bà nát bấy, sạch hết máu và thịt đã xơ xác ở miệng vết thương. Cánh tay người đàn ông thì gãy quặp ra đàng sau, co quắp. Chiếc xe chở xác trờ tới. Những người có thân nhân đánh cá ngoài biển đêm qua hấp tấp chạy lại chỗ xe đậu để xem mặt các nạn nhân.

Một phụ nữ nhận ra xác chồng mình liền ngất đi, ngã xuống đường cái, đám đông bu lại lo cứu chữa. Mấy đứa trẻ con khóc nức nở lẫn trong tiếng chó sủa inh ỏi.

Dã Nhân cúi sát xuống xác chết của người đàn ông để nhìn cho rõ nhưng không phải cha mình, người này còn quá trẻ. Anh quay lại, nắm lấy tay tôi, mắt đỏ ngầu.

Chiếc xe chở xác bỏ đi, những người lính và những người đứng xem cũng về hết. Tôi và Dã Nhân trở về dọc theo đường sắt.

ĐÀO HIẾU.
(Trích hồi ký “Lạc Đường”. Mời bạn đón xem trích đoạn ngày mai: NHỮNG ÁNH LỬA ĐỐT ĐỒNG.)

By daohieu Posted in Không phân loại

LẠC ĐƯỜNG – Trích đoạn 01

LAC DUONG new 02

SAU NHỮNG CUỘC XUỐNG ĐƯỜNG DỮ DỘI Ở QUY NHƠN CHỐNG “THIỆU – KỲ” ĐÀN ÁP TÔN GIÁO, CHÚNG TÔI BỊ BẮT VÀ BỊ ĐÀY RA ĐẢO PHƯỚC LÝ.
*

Toán lính lại xuống thung lũng, đến một ngôi làng nhỏ. Đó là một ngôi làng đã chết. Cũng có thể nó đang hấp hối. Không một tiếng gà, không nghe chó sủa. Không cả tiếng chim. Chỉ có nắng và cát. Và những thân dừa cụt ngọn, cháy sém.

Rồi từ trong lùm cây xác xơ, vang lên tiếng kèn khò khè lạc điệu. Người đàn ông dẫn đầu, vấn chiếc khăn màu nâu già, hai má phồng lên, thổi cây kèn gỗ nhỏ xíu như món đồ chơi. Sau ông là hai người đàn ông khác vác hai xác chết gói trong manh chiếu. Mấy người đàn bà khẳng khiu đen nhẻm cùng vài đứa con nít đầy ghèn và ruồi nhặng câm lặng theo sau.

Một cái lệnh ngắn từ đâu truyền đến:
-Làng có dịch hạch. Không được uống nước giếng.
Toán lính Việt-Mỹ hỗn hợp đứng né qua bên. Đám tang đi ngang qua cơn nắng cháy, xiêu đổ trên cát nóng.
Toán lính chạy trốn khỏi ngôi làng nhỏ và tới điểm tập kết lúc trăng non đã lên.

Những người lính Sài Gòn đi đi lại lại trên cồn cát, mũi súng M16 đâm thẳng lên như những nét kiếm thẳng tắp. Họ cử động chậm chạp, câm lặng và uể oải. Một viên hạ sĩ đến và ra lệnh:
-Tắt thuốc lá đi nếu không muốn bị Việt cộng bắn trúng ngay mặt.

Dã Nhân búng tàn thuốc lên không và cho hai tay vào túi quần. Viên hạ sĩ quan ra hiệu cho chúng tôi đi theo anh ta đến cái lều vải nhỏ để lãnh mùng mền.

Cùng lúc ấy, Trần Quang Long bị gởi đi Tây Nguyên với vết thương còn rịn máu. Có lẽ anh cũng đang nằm nhìn mặt trăng vàng bệt này trong một khu rừng nào đấy và ở đó cũng có những người lính gác đi đi lại lại.

ĐÀO HIẾU.
(Lạc Đường – Đón đọc trích đoạn 2, ngày mai)

Tiếp tục đọc

NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Đọc “Bàn tay nhỏ dưới mưa”

  • Thứ hai, 11 Tháng 9 2017 16:38
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ

Tiểu thuyết đầu tay của tác giả Trương Văn Dân có tựa đề là “Bàn tay nhỏ dưới mưa” *, một tựa đề khá độc đáo. Nhìn qua ta có cảm giác một cái gì lãng mạn nhưng mong manh dễ vỡ.

Tác giả đã viết về hình ảnh này: “Trong cuộc sống, tôi biết từ đây và mãi mãi về sau, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể giật nẩy mình về những cơn hồi tỉnh bất ngờ của ký ức, và tôi lại thấy bóng dáng người đàn bà mảnh mai, một tay dắt con đi dưới cơn mưa lất phất, bàn tay còn lại đưa lên che những giọt nước từ trời rơi xuống. Những bàn tay quá bé nhỏ nên không sao ngăn nổi định mệnh của đất trời.”

Đây là câu chuyên về một cuộc tình, về một phụ nữ trẻ đẹp cócái tên là Gấm, sống ở Sài Gòn thời hiện đại. Mưa ở đây là định mệnh của trời, của dòng đời nghiệt ngã, của bối cảnh xã hội đương đại với biết bao ngang trái, bất công, vùi dập, là thế giới chạy theo tăng trưởng với vô số hậu quả cho môi trường sinh thái, cho sức khỏe, cuộc sống con người.

Gấm đã trải qua hai cuộc hôn nhân bất hạnh, phải tự mình chăm nuôi một đứa con. Nhưng rồi Gấm gặp một nhà báo, một người đàn ông, một tâm hồn đồng điệu làm cô nhanh chóng thăng hoa trong một cuộc tình mới, chia sẻ đồng đều cho cả hai. Gấm đã tìm thấy hạnh phúc trong cuộc đời tưởng chừng như một phép lạ.

Bàn tay lãng mạn dưới mưa của nàng đã đem lại cho chàng những giây phút tuyệt vời của tình ái:

Bàn tay nàng vuốt dọc từ bàn chân lên đùi, làm tôi có cảm giác là những sợi thần kinh xúc giác đang đê mê chuyển động” [393-394]

Nhưng hạnh phúc lứa đôi sẽ không dài. Sau ba năm mặn nồng, bác sỹ phát hiện Gấm bị ung thư phổi, “tình trạng không thể dùng phẫu thuật để cắt bỏ”.

Bàn tay lãng mạn kia đã đổi khác một cách phũ phàng:

“Tôi cúi nhìn mấy ngón tay khô khốc của mình. Bàn tay tôi cầm bàn tay mình khô héo. Tôi nhận thấy chiếc nhẫn hôm nào anh cẩn trọng đeo vào bây giờ lỏng le trong ngón tay gầy ốm!” (298).

Cốt truyện của “Bàn tay nhỏ dưới mưa” giản dị chỉ có thế.

Nhưng đó không phải là chủ đích của tác giả.

Thật vậy, tuy là tiểu thuyết đầu tay, Trương Văn Dân muốn “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, là một cuốn tiểu thuyết đặc biệt, chất chứa những thông điệp sâu sắc hơn nhiều.

I. Trước hết, tác giả muốn gửi gắm đến độc giả một quan niệm tuyệt đối về tình yêu:

“Lúc thức dậy, tôi thấy mình nằm trong vòng tay anh.Tôi có cảm giác mìnhsẽ không thể chết. Bởi tình yêu mầu nhiệm có thể chữa lành mọi thứ, cóthể cản ngăn những tế bào phát triển. Kể cả ung thư.”

Hay đoạn văn hoành tráng về tình yêu thân xác sau đây:

“Anh quàng lấy thân người tôi đang run rẩy “Em hãy bay đi!” rồi siết mạnh và tình tứ nhìn tôi. Cái nhìn vuốt ve, đắm đuối, cái nhìn như cơn bão xoáy, cuốn hút rồi lốc tôi rơi vào giữa đại dương êm ái. Tôi miên man ngụp lặn. Bờ môi tôi cuống quít áp lên cổ rồi trườn xuống lồng ngực đầy nam tính của anh đang phập phồng. Tôi hôn anh nhẹ nhàng. “Anh ơi, em si mê anh…lúc nào em cũng khao khát thèm muốn anh” “…Anh ơi ôm chặt em đi, mau đi anh…”. Rồi…Những tiếng rên rỉ làm không gian rung lên. Đất trời vần vũ, chuyển mình trong lôi cuốn huyền hoặc của tình yêu. Ngọn lửa đam mê trong lòng như đốt tôi thành hơi nước, thăng hoa trong tiếng rên rỉ và giãy đạp của cảm xúc…Tôi không còn biết gì, toàn thân ngây dại, chỉ nghe tiếng trái tim mình đập liên hồi, theo cái nhịp gấp gáp của anh đang bóp thắt trong tôi”.

Bởi thế, Gấm không muốn chết vì ung thư. Nàng đã chọn cái chết trong lúc đang yêu, đang nằm trong vòng tay người yêu, trong giây phút tuyệt đỉnh nhất:

“Tôi bất chợt ưu tư khi thấy bàn tay nàng lạnh giá. Tôi ôm nàng, hốt hoảngkhi thấy hòn than trước đó bây giờ tắt ngúm, Tôi chưa kịp nói gì thì nàngđã tiếp: “ Em mãi mãi yêu anh”. Rồi hai tay nới lỏng vòng ôm. Buông xuôi.Như cành cây bị gãy”.“Nàng đãra đi. Đã đoạn tuyệt vòng đời chật hẹp. Gấm đã chết!”

Thật ra quan niệm về sự hiện hữu bất diệt của tình yêu không mới. Nhưng dưới ngòi bút Trương Văn Dân, tình yêu đã thành một thực thể vĩnh cửu, vẫn mãi tồn tại sau khi Gấm đã từ giã cõi đời, tồn tại trong tâm khảm người yêu còn sống sót và ngay cả sau này, chan hòa cùng trời đất cỏ cây, vũ trụ..

Trong văn chương Việt Nam hiện dại, rất khó tìm được những lời ca tụng thân xác, da thịt người phụ nữ ngọt ngào và nồng nàn như sau đây:

“Ánh trăng như một làn sóng xanh tràn qua song, thả xuống nửa giường một vầng sáng. Những luồng sáng uốn lượn theo từng đường cong trên người Gấm. Thân thể nàng hiện lên như một vũ trụ, có đủ thảo nguyên bát ngát. Đồi núi ngút ngàn. Hương cỏ thơm tho. Trong khung cảnh mơ màng đó, dường như tất cả hương nồng của trái đất đang trải rộng ra. Mùi hương nhài Gấm trồng ngoài cửa sổ toả ra thơm ngát, hoà với mùi thoang thoảng của những chiếc lá non mới nhú. Tất cả trộn lẫn, ướp vào hơi thở sâu của những chiếc hôn ngọt ngào. Cảm giác sắp được hiến dâng, tiếp nhận làm chúng tôi thấy vô cùng khăng khít. Có một lúc tôi nhìn thấy ánh trăng. Hình như còn có một luồng sáng của nó phản chiếu từ chiếc gương trên tủ áo hắt lên tường một thứ ánh sáng mờ nhạt, ve vuốt hai thân hình trần trụi đang ôm chặt lấy nhau, bất động. Gió ngoài cửa sổ mà tôi tưởng như gió đang thổi vào tai mình, rúng động toàn thân, làm bật lên những tia lửa đam mê cháy bỏng. Người tôi như bềnh bồng trôi giữa ánh trăng. Tôi ngậm lấy bầu vú của nàng theo bản năng của đứa bé thời thơ ấu vẫn thạo vú mẹ mình. Tôi chiêm ngưỡng thân thể trắng ngần, ngà ngọc của Gấm như nhìn thấy một nửa thân thể của mình”.

Hay lúc họ cùng nhau ân ái trong giai đoạn nàng đang bị chứng nan y:

”Nỗi đau biến mất..

 Rồi mặt trời mặt trăng chuẩn bị nuốt chửng nhau

Chuẩn bị che lấp, chuẩn bị chồng lên nhau.

Rồi nhập vào nhau thành một cơ thể

Cảm xúc vở òa.Rồi như có tiếng sấm trong tai và những tia chớp ngoằn ngoèo dọc theo sương sống. Rồi cảm giác nóng lạnh, rùng mình từ cột sống xốc lên đỉnh nảo, lan tỏa khắp toàn thân”.

Bàn tay của Gấm vẫn sống mãi với anh về sau, ngay cả khi đã qua đời:

“Trong một thoáng đột ngột, tôi không còn nghe bàn tay, đôi vai, gò má… những phần thân thể của mình mà Gấm mới chạm vào. Thế nhưng hơi ấm của bàn tay nàng như còn đọng lại. Tôi giật mình. Tỉnh giấc giữa mênh mông”…

II. Sau đó và có lẽ quan trọng hơn, tác giả muốn trong cuốn tiểu thuyết này gửi gắm những quan điểm, suy tư, lo ngại của tác giả về những tổn thất của xã hội loài người vì những nguy cơ hiện hữu,như tình trạng chạy đua theo lợi nhuận, về sự tàn phá của môi trường sinh thái, về những tinh vi mới trong giao thương, trao đổi hàng hóa, chất chứa hóa chất độc hại, nông sản biến đổi gien, về sự thống trị ngày càng trầm trọng của giới tài phiệt quốc tế…

Đọc những thông điệp này, ta có cảm giác tuy không nhắc đến Việt Nam, nhưng tác giả gợi ý cho bạn đọc Việt Nam về những nguy cơ trên, với cường độ trầm trọng bội phần!

Tác giả đã không ngần ngại hư cấu ra những nhân vật chẳng dự phần nào vào cốt truyện như bác Thuận, nhà văn Nguyễn Quang, chị Kim Ngân, anh Tú, anh Hưng, họa sỹ Lâm, nhờ họ chuyển tải cho bạn đọc những chuyên đề mà mình tha thiết. Vì vậy,”Bàn tay nhỏ dưới mưa” có dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết luận đề thời hiện đại. Đây là cái mới ít thấy trong văn chương Việt Nam ngày nay. Trong những phần này, tác giả đã không giấu được gốc gác mình là một người Việt sống lâu năm ở nước ngoài, hấp thụ được nền văn hóa Châu Âu đa dạng đa chiều, thật sự có tự do ngôn luận, tự do phản biện với tinh thần trách nhiệm của một trí thức dấn thân.

Tôi hoàn toàn đồng ý với Gấm khi nói về anh: Anh viết như dâng tặng tấm lòng mình cho người đọc, như chia sẻ tâm tư, như giãi bày tâm sự, mời gọi mọi người cùng suy ngẫm. ..anh không hề có ý định thuyết phục mà chỉ bày tỏ lòng mình. .. Cái đẹp của văn anh là nội dung,cảm xúc, những trăn trở nhân sinh…”

Tôi cũng xin nói thêm là có lẽ vì những luận đề này mà”Bàn tay nhỏ dưới mưa”có lúc làm người đọc phải ngừng lại, gấp sách chờ mai đọc tiếp. Cái lạ của tình cảm đôi lứa chỉ cần cảm nhận nhưng cái lạ của kiến thức khoa học và xã hội làm người đọc phải động não, suy ngẫm!

Đọc mà ”Bàn tay nhỏ dưới mưa”cần thời gian là vì vậy!

Tôi cũng có liên tưởng là tác giả đã lấy cảm hứng cho cuốn tiểu thuyết này từ một người phụ nữ đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời mình:

Thoáng nhìn một sợi tóc rơi

Nợ em một đời thiếu nữ

Đường đời em đi ngược gió

Anh nợ một lần dìu em

Anh ngồi xâu chuỗi bình yên

Bão giông cuộc đời nghiệt ngã

Nợ ngày anh lại nợ đêm

 

”Bàn tay nhỏ dưới mưa” đích thực là một cuốn tiểu thuyết đầy tính nhân văn, nhưng đa sắc thái, chứa đựng khía cạnh lý trí nhuần nhuyễn của Tây phương và tình cảm tinh tế của Á đông. Tuy sống ở trời Âu cả mấy chục năm, Trương Văn Dân vẫn giữ được giọng văn Việt mượt mà, tha thướt nhiều lúc đầy chất thơ…

Một cuốn tiểu thuyết nên đọc, những động tác đầy quyến rũ của một bàn tay dưới mưa, trên đường đời và trong không gian tri thức, với nhiều bất trắc trái ngang của con người, của thời đại hôm hay…

Sài Gòn ngày 10/9/2017

(*): Bàn tay nhỏ dưới mưa. Tiểu thuyết. Nhà xuất bản Hội nhà văn. Hn. 2017

 

 

ĐÀO HIẾU – Việc lớn, việc nhỏ

MÈ VÀ VỪNG

Chiều qua, có anh bạn rất thân, tiến sỹ vật lý (bằng thiệt), giảng viên đại học… đến chơi, thấy tôi đang lui cui dọn cứt mèo, dọn xương cá mèo làm đổ vương vãi dưới sàn… thì cả cười mà rằng:

-Trời ơi! Sao cực quá vậy? Sao cứ tự làm khổ mình vậy?

Nó cười, tôi cũng cười. Chớ biết nói gì bây giờ?

Nó lại hỏi:

-Mày nuôi bao nhiêu con?

-Ba con mèo nhà, bốn con mèo hoang. Và số mèo hoang có thể tăng lên nếu tụi nó cứ rủ rê tới xin ăn.

Hai thằng ngồi ghế đá trước nhà.

-Không được rồi! Thằng bạn nói. Cứ lún sâu vào những chuyện lặt vặt thế này thì sẽ khổ cả đời. Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU – Vinh quang của người sợ vợ

tho-vui-ninh-vo-8-3Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi  viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ. Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.” Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU – Hạnh phúc trong một chiếc lá

LÁ

Nhiều người hỏi: Hạnh phúc là gì? Là được yêu. Là giàu có. Là không còn đau khổ. Khái quát hơn, người ta nói: Hạnh phúc là thỏa mãn được ước mơ của mình. Nhưng ước mơ là một thứ vô hình, vô định. Nó có thể lớn như một tòa lâu đài, có thể xa như một vì sao, long lanh như một hạt ngọc, nhưng cũng có thể nhỏ như một hòn bi, gần như một vòng tay và giản dị như một chiếc lá.

Hạnh phúc gắn liền với sự vô định, sự mong manh, sự tạm bợ. Vì thế tất cả những cái gì là cố định, là trường tồn, là vĩnh cửu đều không phải là hạnh phúc. Một đóa hoa không bao giờ tàn thì không phải là hoa, một hương thơm không bao giờ phai thì không còn sự quyến rũ, một trận cười bất tận sẽ biến thành cơn điên. Một nhan sắc vĩnh cửu với thời gian sẽ làm mọi người sợ hãi.

Đó là bi kịch của hạnh phúc. Mọi người đều cầu mong được hạnh phúc, nhưng bản chất của hạnh phúc là mong manh, là tạm bợ, trong khi nhân loại khát vọng vĩnh cữu và trường tồn. Nhưng vĩnh cữu và trường tồn để làm gì nếu không có hạnh phúc? Nói cách khác: trường tồn để làm gì nếu không có sự tạm bợ và mong manh?! Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU quê một cục

TRANH CHOECó một dạo lão Đào Hiếu rất buồn. Bạn bè lão người nào cũng làm quan lớn, kẻ thì chủ tịch, người thì giám đốc, tệ lắm cũng được chức trưởng phòng hay trưởng ban gì đó, còn lão thì suốt đời làm nhân viên quèn, nói nôm na là làm lính. Lão nghĩ mình cũng chẳng phải là một thằng cù lần hay thất học vậy mà ông trời không ngó lại.

Ngày nọ như chợt tỉnh cơn mê, lão nhớ câu: “nhân định thắng thiên”, bèn quyết định gom góp tiền bạc rắp tâm mở công ty, tự nghĩ: nếu trời không cho ta làm giám đốc thì ta mở công ty tự xưng làm giám đốc vậy. Bèn đem một gói bạc đến cửa quan xin mở công ty. Quan nói phải có 300 triệu để làm vốn điều lệ. Đào Hiếu đã chuẩn bị sẵn, liền đưa ra. Quan lại hỏi:

-Hiện giờ ngươi đang làm chi?

-Làm nhân viên nhà nước.

-Thế thì không được. Luật pháp cấm nhân viên nhà nước làm kinh doanh.

Đào Hiếu “quê” quá, lủi thủi ra về.

Đó là lần quê thứ nhất. Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU – Những bầy cừu đi vào bãi nắng

KIEU MAILY vert 02Tôi đọc được thơ của Kiều Maily có lẽ nhờ thói quen, không phải nhờ ngôn ngữ hay cú pháp. Thơ của cô không có ngôn ngữ. Chỉ có những hình bóng kéo về từ quá khứ, từ chân trời, từ cồn cát và biển.

Những vần thơ không ngôn ngữ, có lẽ vì nó bị xoá nhoà, bị chói chang trong ánh lửa của nắng xế.

Làm thơ mà chỉ dùng chữ nghĩa như điểm tựa hư ảo để máng vào những hình ảnh và hoài niệm của quá khứ, chẳng phải tác giả đã thoát ra được cái khuôn khổ tục luỵ của chữ nghĩa sao?

Nếu như âm nhạc có thể rũ bỏ ca từ để hoá thân thành những sonate, những rhaphsody, những symphony … thì khi thơ rũ bỏ được cái xác ve khô rốc của “chữ viết” để chỉ còn giữ lại tiếng kêu ran, thì sẽ làm bừng sáng một mùa Hạ.

Nhưng âm điệu thơ Maily không kêu ran tiếng ve, mà chỉ là lời vọng trầm của cơn gió bị thất lạc từ quá khứ.

Và hình ảnh hiện ra trong đó, lùa vào tâm hồn tôi trực diện, mạnh mẽ, đầy ám ảnh và rung động.

Đọc thơ của cô, tôi không cần biết chữ.

Đó chẳng phải là điều đáng ngạc nhiên sao?

*

Một bạn trẻ ở thành phố này đã reo lên: “Ô! Đây là lần đầu tiên em thấy một con cừu” vì suốt đời người ấy chỉ thấy xe cộ, nhà cao tầng và những siêu thị.

Nhưng những con cừu vẫn gặm cỏ trên mặt đất, trên thảo nguyên. Chỉ có những con cừu của Maily là đi tìm một giọt nước. Hình ảnh ấy có gì mà làm tôi mủi lòng? Có phải vì thương dân tộc cô, một thuở huy hoàng? Có phải vì thương những con cừu đang đi tìm giọt nước? Tiếp tục đọc

By daohieu Posted in Không phân loại