NGƯỜI MỸ ĐÃ GIẢI QUYẾT CHIẾN TRANH HAI MIỀN NAM BẮC NHƯ THẾ NÀO?

30-4-75VI ANH

LTS: Đọc xong bài này có lẽ những người cộng sản Việt Nam nên xem lại cách thức kỷ niệm ngày 30/4 /2015 và những năm sau này. Có lẽ chúng ta nên xử sự chừng mực và văn minh hơn, vì suy cho cùng, cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn vừa qua là một bi kịch lớn của dân tộc, một điều đáng tiếc, một trang sử buồn lẽ ra không nên có, một vết thương vẫn còn đang rỉ máu.

Trích …

Hoa kỳ và Việt Nam, hai nước đều có trải qua một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc. Hoa Kỳ dùng tình thương xóa bỏ hận thù để chấm dứt chiến tranh, để tác động tốt cho quân sĩ, để hòa giải dân tộc và để tái tạo nội lực quốc gia. Còn chính quyền Việt Nam đã dùng hận thù để chấm dứt chiến tranh, tạo thêm một cuộc “chiến tranh khác” trong thời hậu chiến bình yên, không súng nổ nhưng đầy tù đày, chết chóc, tỵ nạn. Đến nay oan nghiệt vẫn còn.
Năm 1994, tạp chí Readers Digest số 9/ 1994 có đi một bài đầy ý nghĩa: “Chiến tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865) — Ân Xá ở Appomattox (Mercy at Appomattox)”. Tác giả là một nhà khảo sử William Zinsser.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc ở Mỹ từ năm 1861 đến 1865; ở VN, từ 1960 đến 1975. Số thương vong quân sự ở Mỹ gần 600.000 người trong vòng 4 năm; ở VN, không có số thống kê chánh thức nhưng ít ra cũng 3-4 lần nhiều hơn trong 15 năm.

Ở Mỹ lý tưởng tự do, chiến đấu giải phóng nô lệ Da Đen thắng. Còn ở VN, lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ, ở Miền Nam thua, chủ nghĩa Cộng sản ở Miền Bắc thắng. Nhưng khác biệt quan trọng và sâu sắc nhứt là hai bên Nam Bắc kết thúc chiến tranh giữa hai miền.

Sau khi thủ đô Richmond của Miền Nam mất, quân Miền Nam hết sức suy yếu, đói rách, một viên sĩ quan đề nghị với Tướng Lee, tư lịnh Miền Nam, phân tán và đánh du kích. Tướng Lee không đồng ý. Ông giải thích: Tiếp tục đánh nhau chỉ gây thêm đau khổ không cần thiết cho dân miền Nam. Đọc tiếp

NGÀY 30/4 CỦA PHẠM XUÂN ẨN- TG Nguyễn thị Ngọc Hải.

PHAM XUAN ANTác giả Nguyễn thị Ngọc Hải lại viết về PHẠM XUÂN ẨN. Bài báo tập trung vào việc nhận định việc ông ẨN giải cứu ông Trần Kim Tuyến trong ngày 30/4/1975. Theo tôi công trạng lớn nhất của PXA trong cuộc chiến 1954-1975 là ông PXA đã giúp cho Hà Nội hiểu chính xác Người Mỹ , từ đó đề ra được đường lối chiến tranh phù hợp. Còn lại chuyện ông PXA ra sức cứu ông Tuyến chỉ nhỏ bằng cái ” móng tay ” thôi. Măc dù chuyện này cũng làm cho PXA bị mất thêm niềm tin còn ít ỏi ở nhà đương quyền Hà Nội. Mời quý bạn xem bài báo hay của Nguyễn thị Ngọc Hải dưới đây.

NGÀY 30/4 CỦA PHẠM XUÂN ẨN
Nguyễn Thị Ngọc Hải

Tuần báo Newsweek đã miêu tả về ngày 29-4 của Phạm Xuân Ẩn – người được đánh giá là “nhân vật của Thế kỷ XX” một “Điệp viên hoàn hảo”, một “Người Việt trầm lặng” sau này mới rõ dần chân dung ông. Còn ngày 29-4 ấy trong một biến động được miêu tả là “cuộc tháo chạy tán loạn”, là ”Sài Gòn sụp đổ “, thì ông Ẩn đã làm gì?
Tờ Newsweek viết về việc Phạm Xuân Ẩn đã cứu trùm cảnh sát mật vụ của chế độ Sài Gòn, bác sỹ Trần Kim Tuyến, đi được chuyến bay cuối cùng di tản khỏi Sài Gòn như thế nào? “Tuyến sẽ bị giết chết nếu ông ta còn ở lại”, Newsweek viết.
Khi ông Tuyến cuống cuồng gọi điện cho Sứ quán Mỹ tìm sự giúp đỡ của CIA thì được trả lời là tất cả đã đi hết. Quá hoảng sợ lo cho tính mạng, ông quay lại tìm người bạn thân Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên báo Time nhiều quyền lực và có mối quan hệ rộng vào bậc nhất Sài Gòn.. Ông Ẩn vội đưa Tuyến lên chiếc xe của mình tới Tòa Đại sứ Mỹ kiếm tìm cơ hội cuối cùng nào có được.
Nhưng cảnh tượng thật hãi hùng. Tòa đại sứ đông nghẹt những người cầu cứu hoảng loạn. Chiếc xe cũ Renault của ông Ẩn không sao len vào được… Gọi điện khắp các địa chỉ cần thiết khác trong thành phố, cuối cùng ông Ẩn liên lạc được với một nhà báo Mỹ có thể nhắn cho Tòa Đại sứ… Nhờ thế họ mới biết được còn chuyến di tản cuối cùng của CIA tại ngôi nhà của CIA ở đường Gia Long, nơi đã diễn ra biểu tượng cuối cùng của Sài Gòn sụp đổ.
Ở tòa nhà này, họ cũng suýt nữa thì trượt chuyến đi. Khi xe của ông tới nơi, cánh cửa thép của tòa nhà đã đóng lại để tránh dòng người có thể ập vào. “Đề nghị cho gọi ông Polgar”. Ẩn yêu cầu được gặp người sếp mà ông quen. Nếu gặp được Polgar chắc chắn ông ta biết được câu chuyện trầm trọng của ông Tuyến, sẽ giải quyết ngay. Nhưng người lính gác không chịu gọi.
Vừa may lúc vợ của người lính gác mua đồ ăn đến, cánh cửa hé ra cho bà ta vào. Thế là ông Ẩn một tay giữ chặt cửa, tay kia đẩy thật mạnh bạn mình vào lọt. Tờ Newsweek kết luận: “Thế là, vị trùm cảnh sát mật vụ Sài Gòn đã được một điệp viên của Hà Nội cứu thoát, leo lên mái nhà để lên máy bay đi di tản.”
Chuyện gì đã xảy ra sau đó? Vợ con ông Ẩn đã đi theo người của báo Time. Để rồi sau này lại phải vất vả mới về lại Sài Gòn. Chỉ còn mình ông ở lại vì chưa có mệnh lệnh nào. Ông không đi, bởi “ngoài việc đất nước đang sang giai đoạn mới, đã đẩy được người ngoại quốc chiếm đóng ra khỏi xứ sở, còn lý do nữa là mẹ tôi đã quá già yếu không thể đi được”. Đó là lời ông Ẩn trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài.
Vào năm 1992 khi tôi bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên đưa Phạm Xuân Ẩn ra ánh sáng, mãi tới 10 năm sau mới in được, cuốn “Phạm Xuân Ẩn — Tên người như cuộc đời”, một công việc có ý nghĩa trong đời viết lách của mình, tôi đã phỏng vấn Phạm Xuân Ẩn về ngày 30-4 ở Sài Gòn.
Vì sao ông Tuyến lại rơi vào cảnh đó, khi mà ông ta là người đứng đầu bảng danh sách số người mà Mỹ phải đưa đi? Phạm Xuân Ẩn tả lại: “Ông ta là nhân vật thứ ba sau Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Làm giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Chính trị Xã hội, người Mỹ gọi là Sở Mật vụ. Trong suốt cuộc đời tôi hoạt động dưới vỏ bọc làm một nhà báo của Mỹ, ông mến tôi. Sau đảo chính Ngô Đình Diệm năm 1963, ông ta cũng bị bắt. Ông ta đi cùng chuyến máy bay với ký giả Stanley Karnow từ Hồng Kông về và bị bắt ngay trước mắt Stanley. Sau lúc ông bị bắt, tôi tới nhà thăm. Bả đang mang bầu. Vì sao ông ta kẹt lại khi vợ con ông ta đi cả rồi? Vì ông này ghét Thiệu. Trước giải phóng một tháng, ngay sau khi Đà Nẵng đã thất thủ, Tuyến vẫn đang trong một âm mưu lật đổ Thiệu để lập chính phủ mới.
Tối 1-4 bác sỹ Trương Khuê Quang, giám đốc trường Quốc gia Nghĩa tử, người trung gian của Tuyến đưa Tuyến đến gặp Trí Quang. Đêm mùng 3 rạng mùng 4 Thiệu bắt nhốt hết những phần tử âm mưu đảo chính, kể cả nghị sỹ, dân biểu, nhà báo.. Ông Tuyến vẫn nấn ná chờ vì nghĩ rằng Thiệu bỏ chạy sớm sẽ thả đàn em của mình ra… Nhưng mãi khi ông Hương lên rồi, ngày 26 mới thả. Ông Tuyến yên trí thế nào CIA cũng phải đưa mìh đi.”
Tướng Phạm Xuân Ẩn nhớ lại cảnh ông Tuyến chạy đến cầu cứu:
“Người cháu ông Tuyến – một viên thiếu tá – chở ông đến bằng xe Honda. Tôi giục nó về lo cho vợ con, để ông Tuyến lại. Tôi bắt đầu gọi điện. Kêu Tòa Đại sứ. Năm cái telephon tất cả. Sự thể diễn ra đúng như báo chí đã nói rồi.
Tuyến đi chuyến cuối cùng với ông Trần Văn Đôn. Ông Đôn cũng thảm, không sao chen lên được mấy chuyến trước. Con ông phải động viên “Ba, ba đừng bỏ cuộc.” Cô bí thư của ông Polgar chủ nhiệm CIA tên là Hà Hiếu Lang, em đại tá Điệp nhường 3 chỗ cho gia đình tướng Đôn. Người cuối cùng lên được máy bay là ông Tuyến. Trong hình, cái người thấp bé là ổng… Không leo lên được, tướng Đôn phải đưa tay kéo lên.
Chi tiết này sau tôi biết được do đọc báo trong bài người ta phỏng vấn tướng Đôn. Tấm hình minh chứng phút cuối cùng đó của một phóng viên hãng UPI. Hãng được sử dụng 20 năm, gần đây tác giả mới lấy bản quyền.”
Trong bài của Morley Safer, ông ta viết: “Ẩn đã can đảm giúp cho Trần Kim Tuyến thoát khỏi Việt Nam. Tuyến là một trong những viên chức cao cấp nhất của CIA tại Việt Nam. Là một tay âm mưu bất trị làm việc cho Thiệu sau đó chống lại chính quyền Thiệu. Vào ngày cuối cùng của Sài Gòn Tuyến vẫn còn nỗ lực thương thuyết với Phật giáo để lập một chính quyền mới.”
Những việc cứu “kẻ thù” như thế không chỉ diễn ra một lần. Ông đã từng cứu nhiều bạn Mỹ của ông thoát chết trong những hoàn cảnh vô cùng phức tạp và còn nguy hiểm cho ông trong chiến tranh.
Câu chuyện ngày 30-4 của tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn vẫn còn gây tranh luận tới tận gần 30 năm sau – vào năm 2006 khi ông Ẩn mất và giới truyền thông trong ngoài nước viết nhiều về ông.
Một bài do đài RFA phỏng vấn nhà báo Mỹ Don Southerland – người đang là Tổng giám đốc chương trình đài Châu Á tự do, trong đó có lý giải ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn lý giải tại sao ông Ẩn lại cứu bác sỹ Trần Kim Tuyến.
Dan Southerland là người chứng kiến phút giây đó: “Đêm 29-4 trước khi các trực thăng chuẩn bị rời Việt Nam, tôi đang liên lạc với các trụ sở truyền thông nước ngoài thì Ẩn vẫn còn ở lại đó dù vợ con ông đã đi. Ông nói có một vấn đề hệ trọng là cần tìm cách cho bác sỹ Tuyến ra đi. Tôi sau khi liên hệ với một giới chức cao cấp của tòa Đại sứ Mỹ và được bảo là hãy nói cho ông Tuyến hay rằng có thể đến 22 Gia Long có thể gặp được số quan chức Nam Việt nam như Trần văn Đôn và một số người khác để được bốc đi khỏi Sài Gòn.” Và câu chuyện diễn ra như thế nào ta đã biết.
Dan Southerland nhận định như sau:
“Ông Ẩn đã giúp người vốn chống Cộng cuồng nhiệt. Tôi muốn nói là ông Ẩn đã giúp một người có lý tưởng mà ông Ẩn hoạt động gần hết đời để chống lại nó… Lời của đại tướng Võ nguyên Giáp đánh giá rằng “nhờ các tài liệu tình báo của Phạm Xuân Ẩn mà Hà Nội như có mặt tại phòng chiến tranh của Lầu Năm góc” là đúng. Bởi vì Ẩn có thể cung cấp cho Hà Nội một số việc, chẳng hạn cách suy nghĩ, lý luận của người Mỹ. Đó là khả năng lớn nhất của ông Ẩn. Ông ta có thể cảm nhận sự thật.”
“Có thể kết luận việc ông Ẩn hết sức giúp Trần Kim Tuyến ra khỏi Việt nam là chỉ thuần về ơn nghĩa và tình bằng hữu mà chuyện này có thể đã khiến ông mất sự tin cậy của Hà Nội.”
Khi viết cuốn sách “Phạm Xuân Ẩn – Tên người như cuộc đời”, tôi cũng băn khoăn về suy diễn này và đã đem hỏi hai người chỉ đạo trực tiếp của ông là Trần Quốc Hương, Nguyên Bí thư TW Đảng, và Đại tướng Mai Chí Thọ. “Cứu Tuyến, đó là biểu hiện rất đặc biệt về tư chất Ẩn. Con người trung hậu như vậy nhất định sẽ thành công trong sự nghiệp. Đó gần như là Luật Nhân – Quả”(lời đại tướng Mai Chí Thọ). Còn ông Trần Quốc Hương thì nói: “Ẩn xử sự đúng với bản chất con người của mình trọng đạo lý.”
Ngày 30-4-1975 đã lùi xa 40 năm. Giá như tổ chức một cuộc đại phỏng vấn mọi người Việt Nam chung một câu hỏi: Ngày 30-4-75 đến với bạn như thế nào? Câu trả lời sẽ là phần máu thịt toàn vẹn đắp lên phần xương, là những diễn biến sự kiện lịch sử đã ghi lại.
Và trong số đó, ngày 30-4 của Phạm Xuân Ẩn đã hiện lên con người nhân văn nhất trong những giây phút sống còn. Viết về ông, tôi được các tác giả nước ngoài nhận xét tặng những lời ghi nhận quý báu:
Giáo sư sử học Mỹ Larry Berman, tác giả cuốn “Điệp viên hoàn hảo”:
“Cuốn sách của bà đã mở đường cho tất cả chúng tôi” (Your biography of Pham Xuân Ẩn led the way for the rest of us..). “Trong tất cả những người viết về Phạm Xuân Ẩn, bà là người hiểu rõ chủ nghĩa nhân văn của ông ấy hơn ai hết” (You know An’s humanity better than anyone who writes his story”.
Giáo sư người Mỹ Thomas Bass – tác giả cuốn sách mới viết về Phạm Xuân Ẩn “Điệp viên Z 21, kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” đã trả lời phỏng vấn trên “Tuổi trẻ cuối tuần” ra ngày 27-4-2014 như sau:
“Bà Nguyễn Thị Ngọc Hải là tác giả quan trọng hàng đầu về Phạm Xuân Ẩn. Cuốn sách của bà là chỉ dẫn quan trọng cho tất cả chúng tôi những người theo bước chân bà viết về ông”.
Sau cùng, tôi vinh dự còn giữ một kỷ vật quý không công bố, đó là lá thư viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cảm ơn về cuốn sách Phạm Xuân Ẩn.
NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 21-4-15

NGUYỄN TRẦN SÂM – Tháng Tư với những sự kiện bất thường

Bụi xỉ độc hại bay mù mịt

Bụi xỉ độc hại bay mù mịt

Những sự kiện của tháng Tư năm nay mà chúng tôi điểm qua dưới đây, với một xã hội bình thường thì chúng chẳng có gì bất thường, nhưng với xã hội ta thì chúng lại rất không bình thường.

Sự kiện thứ nhất là hàng trăm người dân Bình Thuận, trong hai ngày 14 và 15 đã phong tỏa quốc lộ 1A, đốt lửa và dùng bom xăng chống trả lực lượng công an. Đã có đàn áp xảy ra. Đương nhiên là như vậy, với xã hội ta hiện nay thì không có mới là lạ. Đã xảy ra điều không lạ. Nhưng vẫn có cả điều lạ, có lẽ là lần đầu: Sang đêm thứ hai thì công an đã lẳng lặng rút lui. Và nếu chúng tôi không nhầm thì đã không có ai trong dân chúng bị bắt. (Nếu ai có tin khác thì xin cung cấp.)

Xin được bày tỏ mối thiện cảm với các chiến sỹ công an thuộc các đơn vị được phân công làm nhiệm vụ trong vụ này. Có thể chủ trương không đàn áp đến cùng là có từ một vài nhân vật cấp trên nào đó, nhưng rõ ràng là trong hàng ngũ công an có nhiều chiến sỹ đã không muốn đàn áp bà con mình, nên vụ việc mới có kết cục như vậy. Giả dụ ngay từ đầu các chiến sỹ công an vừa tới nơi đã xô vào dân chúng mà tới tấp nện dùi cui vào họ thì diễn biến đã khác hẳn. Có vẻ đã đến lúc trong lực lượng công an có nhiều người nhận ra rằng những người dân kia là bà con của mình, không phải là “các thế lực thù địch”.

Việc rút lui của công an Bình Thuận làm ta ít nhiều liên tưởng đến vụ cảnh sát Ukraina quỳ gối xin người dân tha tội. Chúng ta chưa thể lạc quan tếu để hy vọng có chuyện như vậy ở Việt Nam trong nay mai, nhưng nó sẽ xảy ra trong tương lai gần. Đọc tiếp

ĐÀO HIẾU – Mặt đất vẫn còn rung chuyển

LIBERA

“Tác phẩm cải biên” của Libera

Cách đây không lâu trên mạng facebook có người đưa một bức tranh ghép của một nghệ sĩ Ba Lan tên là Libera, tác giả này đã “cải biên” bức ảnh nổi tiếng của Nick Út từng đoạt giải Pulitzer, chụp bé gái Phan Thị Kim Phúc đang bị bom napalm đốt cháy năm 1972 tại Trảng Bàng, Tây Ninh.

Blogger này có lẽ vì sợ độc giả không hiểu nên đã giải thích rằng tuy bức ảnh gốc mô tả nỗi đau của chiến tranh Việt Nam nhưng hiện nay cuộc chiến ấy đã đi vào dĩ vãng, Việt Nam đã có hòa bình, và đang xây dựng đất nước, nên người nghệ sĩ Ba Lan này đã nảy ra sáng kiến sửa chữa các nạn nhân trong ảnh gốc thành những nhân vật sexy, tươi cười, vui đùa trong xã hội mới (mời xem ảnh). Bên dưới tác phẩm ấy, nhiều bạn đọc cũng đã viết những comments với ý kiến tương tự.

Mới đây, một blogger khác cũng đã đề nghị gọi ngày 30/4/75 là ”ngày Hòa Bình”.

CÓ PHẢI VIỆT NAM ĐANG SỐNG TRONG HÒA BÌNH?

Tôi đã sống ở Việt Nam từ ngày 30/4/1975 đến nay nhưng tôi không thấy hòa bình đâu cả. Xã hội Việt Nam không có giây phút nào hòa bình.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: “Ngày 30/4/75 có một triệu người vui nhưng cũng có một triệu người buồn”.  

Tuy con số “một triệu” chỉ là con số biểu kiến, nhưng vì sao lại có “một triệu người buồn” ấy?

Vì thực tế Việt Nam chưa có hòa bình.

Ngày 30/4/75 mở đầu cho những đợt học tập cải tạo rộng lớn, đều khắp trên cả nước. Đó là những trại giam khổng lồ, là những trung tâm thù hận, là chốn lưu đày của những người Việt Nam được gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Tiếp theo là phong trào vượt biên của hàng triệu người chạy trốn khỏi Việt Nam bằng đường biển. Bị bắt, bị tù, bị tống tiền, bị hải tặc trấn lột, cưỡng hiếp, rồi nào là bão tố, biển động, tan xác trên biển, vùi thây trong bụng cá. Đọc tiếp

NỖI LÒNG 30/4 của nữ nghệ sỹ Kim Chi

KIM CHI

Diễn viên điện ảnh KIM CHI (người quấn khăn rằn)

Trước đây mỗi năm tới ngày 30/4 tôi rất vui nên hay tổ chức gặp gỡ bạn bè. Nhiều lần tôi bay vào SG cùng đồng đội về thăm căn cứ cũ ở miền Đông, miền Tây Nam bộ. Chúng tôi thắp hương cho bè bạn đã hi sinh để bày tỏ lòng tri ân với những người đã để lại tuổi xuân ở chiến trường. Rồi chúng tôi quây quần bên nhau cùng ôn lại bao kỉ niệm buồn, vui những năm chiến tranh ác liệt. Trong lòng chúng tôi tràn ngập niềm vui và tự hào vì nghĩ rằng mình đã dâng hiến cả tuổi trẻ để góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Những lần gặp gỡ truyền thống như thế, chúng tôi thường ngồi bên sông Sài Gòn hát bài “Mùa xuân trên TP HCNM” của Nhạc sĩ Xuân Hồng: …”Ôi đẹp biết bao biết mấy tự hào/Sài gòn ơi cả nước vẫy chào/Cờ sao đang tung bay cao,qua hết rồi những năm thương đau…/Mà niềm vui như đến bất ngờ/Ngày đi như trong đêm mơ tuổi lớn rồi mà như ngây thơ”…

Ngày còn trẻ khi đang phục vụ trong đoàn Văn công Giải Phóng ở chiến trường, tôi rất tha thiết được kết nạp vào đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Ngày kết nạp tôi đã sung sướng đến trào nước mắt. Tôi nghĩ là mình đang được đứng trong đội ngũ những người tiên phong nhất, tốt đẹp nhất, những con người dám đem cả mạng sống ra để giải phóng quê hương. Ngày ấy tôi tin mãnh liệt vào sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng NHÂN DÂN CÁCH MẠNG. Rằng “Giải phóng miền Nam để chấm dứt chiến tranh. Sẽ xây dựng một Việt Nam ẤM NO, TỰ DO, DÂN CHỦ, HẠNH PHÚC và GIÀU MẠNH”. Vì tin cho nên tôi luôn trong tâm thế sẵn sàng hi sinh cho tương lai tốt đẹp của đất nước…

Ngày 30/4/1975, chúng tôi vui thực sự, vui đến phát khóc. Xuân Hồng viết đúng: “Vui sao, nước mắt lại trào…”! Những văn nghệ sĩ trên chiến trường thời ấy, cũng như tôi, ai cũng tin tưởng sau chiến tranh Việt Nam sẽ có một tương lai tươi sang. Nhưng bây giờ, nếu Xuân Hồng còn sống, chắc ông sẽ chọc tôi: “Buồn chi, nước mắt lại trào?”. Đúng, ngày xưa khóc trong niềm vui chiến thắng, nay tôi lại phải khóc ‘trong nỗi đâu thời cuộc’, trong những nỗi buồn da diết! Đọc tiếp

Lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa

vuong quoc champa 33 nam cuoi cung

 BBT Champaka.info  

Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng (1802-1835) là công trình nghiên cứu của Pgs. Ts. Po Dharma được xuất bản tại Paris vào năm 1987 bởi Viện Viễn Đông Pháp, với nhan đề : Le Panduranga (Campa). Ses rapports avec le Vietnam (1802-1835). Đây là tác phẩm lịch sử Champa cận đại đầu tiên viết về tình hình chính trị, quân sự và mối quan hệ với triều đình Huế kể từ ngày vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802 cho đến khi vua Minh Mệnh xóa bỏ Champa trên bản đồ vào năm 1832, kéo theo sự ra đời phong trào kháng chiến của Katip Sumat (1833-1834) và sự vùng dậy vũ trang của Katip Ja Thak Wa (1834-1835) nhằm chống lại cuộc xâm lăng của triều đình Huế và phục hưng lại vương quốc Champa độc lập có chủ quyền.

Lịch sử 33 năm cuối cùng của Champa là tổng thể của những biến cố tang thương nhất và đẫm máu nhất chưa từng xảy ra trong quá trình hình thành vương quốc Champa kể từ thế kỷ thứ II, một quốc gia hùng mạnh dưới thời cổ đại, nhưng không còn nghị lực và sức lực chống lại chính sách tàn bạo của vua Minh Mệnh (1820-1841) nhằm trừng phạt vô cùng dã man dân tộc Champa về tội theo Lê Văn Duyệt  và hành động chống lại uy quyền của triều đình Huế. Đây cũng là giai đoạn đen tối nhất của một dân tộc Champa có nền văn tự và văn minh từ lâu đời, nhưng đành bó tay đầu hàng và qui phục trước làn sóng Nam Tiến, một chủ thuyết « đế quốc » trong nghĩa rộng của nó, nhắm vào mục tiêu xâm chiếm đất đai và tiêu diệt dân tộc láng giềng bằng bạo lực và súng đạn.

Sau 8 thế kỷ chiến tranh tương tàn để thực hiện chính sách Nam Tiến, Việt Nam chiếm trọn lãnh thổ Champa rộng lớn chạy dài từ tỉnh Quàng Bình đến biên giới Biên Hòa, chỉ để lại cho hậu thế hôm nay một chuổi đền đài điêu tàn và hoang phế nằm ngổn ngang ở miền trung và một cộng đồng người Chăm chưa đầy 100 ngàn người đang sống chui nhủi và khốn cùng tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Chính đó là bức tranh thật sự của lịch sử Champa vào những thập niên đầu của thế kỷ thứ XIX mà Pgs. Ts. Po Dharma đã đưa ra phân tích và trình bày một cách khách quan và nghiêm túc trong tác phẩm mang tựa đề « Lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa, 1802-1835 » do International Office of Champa (IOC-Champa) xuất bản tại San Jose, California (Hoa Kỳ), với sự bảo trợ của Hội Đồng Phát Triển Văn Hóa-Xã Hội Champa (CSCD-Champa). Tác phẩm này tổng cộng 279 trang + 2 bản đồ, chia thành nhiều chương mục.

1). Lời mở đầu

Khởi đầu của tác phẩm là « Lời mở đầu » trong đó Pgs. Ts. Po Dharma nêu ra nguyên nhân của sự chọn lựa đề tài và giải thích tại sao có sự giới hạn không gian của chủ đề từ 1802 đến 1835, tức là chỉ tập trung vào 33 cuối cùng của vương quốc này, nhưng 33 năm của bao biến cố thăng trầm đã diễn ra trên bàn cờ chính trị Champa, cấu thành một tiếng chuông báo động cho sự xụp đổ vĩnh viễn của vương quốc này trên bản đồ Đông Dương vào năm 1832.

Ai cũng biết Pgs. Ts. Po Dharma là người Chăm Ninh Thuận đã từng tham gia phong trào vũ trang Fulro vào những năm 1968-1975 và tiếp tục đấu tranh trong trào phát huy và truyền bá di sản lịch sử và nền văn minh Champa tại hải ngoại cho đến hôm nay. Nhưng trong ngành nghiên cứu, Pgs. Ts. Po Dharma không bao giờ dựa vào lăng kính hay tình cảm của dân tộc Chăm để bảo vệ quan điểm của vương quốc Champa hay lên án vua chúa Việt Nam, mà là dựa vào nguồn tư liêu thuyết phục cũng như phương pháp trình bày và lý luận khách quan của một nhà lịch sử học để hoàn thành tác phẩm : Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng, 1802-1835.

2). Nguồn tư liệu 

Lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa là tổng thể của những biến cố đã xảy ra trong quá khứ được ghi chép lại trên nhiều nguồn tư liệu, nhất là văn bản viết bằng tiếng Chăm và biên niên sử Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn. Tiếc rằng, mỗi tư liệu viết bằng tiếng Chăm hay Hán của nhà Nguyễn chỉ là tiếng nói của vua chúa thời đó, thường trình bày yếu tố lịch sử theo quan điểm và nhìn qua lăng kính của cung đình hơn là bài viết mang tính cách khách quan và khoa học. Chính vì thế, một biến cố đã xảy ra vào một thời điểm nhất định, nhưng tư liệu Chăm và biên niên sử Việt Nam nêu ra hai xuất xứ và đưa ra hai quan điểm hoàn toàn khác nhau. Đây là vần đề khó khăn nhất trong ngành sử học. Để giải quyết vấn đề trên, Pgs. Ts. Po Dharma lúc nào cũng thận trọng và đi tìm những kiểm chứng trước khi sử dụng nội dung của nguồn tư liệu này để xây dựng cho một yếu tố lịch sử. 

Để thực hiện tác phẩm Vương quốc Champa : Lịch sử 33 năm cuối cùng, 1802-1835, Pgs. Ts. Po Dharma phải dựa vào một khối tự liệu đáng kể trong đó có 32 tác phẩm viết bằng tiếng Chăm, 20 biên niên sử Việt Nam và hơn 150 bài khảo luận hay tác phẩm khoa học đã xuất bản bằng tiếng Pháp, Anh và Quốc Ngữ. Đây là kho tàng tư liệu liên quan đến lịch sử 33 năm cuối cùng của vương quốc Champa mà Pgs. Ts. Po Dharma trích dẫn trong công trình nghiên cứu của mình, chứ không phải tài liêu tham khảo ghi vào danh sách cho có lệ, mà độc giả thường thấy trong nhiều tác phẩm khoa học xuất bản tại Việt Nam hôm nay

3). Tổng luận đầu sách 

Gần một thế kỷ qua, hầu hết các nhà khoa học chuyên về Đông Nam Á đều có chung một quan điểm về cụm từ « Thủ Đô », tức là trung tâm chính trị và quyền lực của một vương quốc, nơi ngự trị của vua chúa và gia đình hoàng gia của một quốc gia. Một khi thủ đô bị chiếm đóng thì chủ quyền quốc gia đó không còn nữa. Sự thất thủ Sài Gòn vào tháng 4 năm 1975 đánh dấu cho sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là một thí dụ điển hình.

Nói đến vương quốc Champa, thì người ta phải nói đến ngày thất thủ Vijaya (Đồ Bàn) vào năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Dựa vào sự sụp đổ thủ đô Viyaya, nhà sử học Pháp là G. Maspero đưa ra nhận định trong tác phẩm Vương Quốc Champa (1828) cho rằng Champa hoàn toàn bị xóa bỏ trên bản đồ kể từ năm 1471 và không còn lý do để tồn tại trên lãnh thổ miền trung Việt Nam nữa. Kể từ đó các nhà nghiên cứu thường lập đi lập lại lý thuyết của G. Maspero, nhưng không cần kiểm chứng lại giả thuyết này có đúng hay không !

Pgs. Ts. Po Dharma là nhà nghiên cứu đầu tiên không tin vào giả thuyết của G. Maspero. Theo tác giả, vương quốc Champa không phải là quốc gia có hệ thống chính trị « trung ương tập quyền » theo kiểu Đại Việt hay Trung Quốc vào thời cổ đại, mà là quốc gia liêng bang tập trung năm tiểu vương quốc : Inrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara và Pandurang. Mỗi tiểu vương quốc có lãnh thổ riêng và vua chúa riêng. Chính vì nguyên nhân đó, sự sụp đổ thành Đồ Bàn vào năm 1471 chỉ biểu tượng cho sự xụp đổ của tiểu vương quốc Vijaya ở miền bắc. Vì rằng vương quốc Champa vẩn còn hiện hửu ở miền trung Việt Nam sau năm 1471, nhưng lãnh thổ đất đai Champa bị thu hẹp lại trên lãnh thổ của tiểu vương quốc Khauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Ninh Thuận và Bình Thuận) cho đến năm 1832.

« Tổng luận đầu sách » là chương khởi đầu của tác phẩm trong đó Pgs. Ts. Po Dharma phát họa lại hệ thống tổ chức hành chánh và chính trị của vương quốc Champa sau ngày thất thủ thành Đồ Bàn vào năm 1471 và trình bày một cách hệ thống lịch sử của tiểu vương quốc Panduranga xuất hiện lần đầu tiên trên bia ký Champa vào năm 817. Hay nói một cách khác, « Tổng luận đầu sách » là phần tóm lược lịch sử Champa từ năm 1471 cho đến ngày lên ngôi của vua Gia Long vào năm 1802.

3). Champa dưới triều đại Po Saong Nyung Ceng (1779-1822)

Chiến thắng trên thành Đồ Bàn của Lê Thánh Tông vào năm 1471 chỉ là hồi chuông báo động cho sự suy thoái của thời hậu Lê, kéo theo sự phân tranh giữa chúa Trịnh ở miền bắc và chúa Nguyễn ở miến nam. Năm 1569, Nguyễn Hoàng quyết định hình thành một triều đại riêng trên lãnh thổ Champa bị chiếm đóng.

Vì không đủ tiềm lực tiến quân ra bắc chống lại chúa Trịnh, Nguyễn Hoàng chỉ còn cách mở cuộc Nam Tiến về phía nam trên lãnh thổ Champa để xây dựng uy quyền của mình. Năm 1611, nhà Nguyễn xua quân xâm chiếm Phú Yên và năm 1653 đặt nền đô hộ trên tiểu vương quốc Kauthara (Khánh Hòa). Năm 1692, nhà Nguyễn tấn công Champa, thay đổi danh xưng « Chiêm Thành » thành « Trấn Thuận Thành » và thành lập phủ Bình Thuận đầu tiên trên lãnh thổ của vương quốc này, tập trung những cư dân người Kinh sinh sống ở Champa nhưng họ là công dân của triều đình Huế.

Sau mấy thập niên yên bình và thịnh vượng, Champa trở thành nạn nhân của cuộc chiến kể từ năm 1771, giữa Tây Sơn làm chủ ở phương bắc và Nguyễn Ánh chiếm đóng Sài Gòn để làm hậu cứ. Nằm trên địa thế bị kèm kẹp giữa lãnh thổ của Tây Sơn  và Nguyễn Ánh, vương quốc Champa bị lôi kéo vào cuộc chiến giữa người Việt và chấp nhận phải qui phục phe thắng trận dù là Nguyễn Ánh hay Tây Sơn. Kể từ đó, định mệnh sống còn của Champa hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

Năm 1802, Nguyễn Ánh thắng trận, lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, quyết định phục hưng lại nền độc lập Champa và giao cho Po Saong Nyung Ceng, người đã từng giúp đỡ Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn, quyền cai trị của vương quốc này. Bên cạnh đó, vua Gia Long còn ban cho người kế cận của mình trong chiến trường chống Tây Sơn là Lê Văn Duyệt lên làm Tổng Trấn Gia Định Thành và giao cho Lê Văn Duyệt quyền bảo trợ vương quốc Champa ở phía nam của triều đình Huế. Kể từ đó, nền hòa bình và thịnh vượng trở lại trên vương quốc Champa, một quốc gia đặt dưới quyền đô hộ của triều đình Huế qua trung gian của Lê Văn Duyệt, phó vương ở miền Nam Bộ thời đó.

Sau ngày băng hà của vua Gia Long vào năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, tìm cách xóa bỏ qui chế Gia Định Thành của Lê Văn Duyệt và đưa vương quốc Champa vào vòng kiểm soát trực tiếp của triều đình Huế. Thế là chiến tranh giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt bắt đầu bùng nổ để gây ảnh hưởng trên vương quốc Champa.

Vừa mới lên ngôi, Minh Mệnh cách chức trấn thủ Bình Thuận về tội quá thân cận với Lê Văn Duyệt và triệu tập phó vương Champa là Po Klan Thu (Nguyễn Văn Vĩnh) về Huế trong khi đó quốc vương Po Saong Nyung Ceng đang lâm bệnh nặng. Năm 1822, Po Soang Nyung Ceng băng hà vì tuổi già yếu. Minh Mệnh đề nghị người thân cận của mình là Bait Lan lên nối ngôi Champa, nhưng không thành, vì có sự chống đối của Lê Văn Duyệt.  

4). Champa dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) 

Lợi dụng tình hình rối ren ở Champa sau ngày từ trần của Po Saong Nyung Ceng vào năm 1822, Ja Lidong xua quân vùng dậy chống phá doanh trại quân sự của triều đình Huế, trong khi đó phó vương Po Klan Thu vẩn còn giam giữ ở Huế. Để giải quyết vấn đề nan giải này, Minh Mệnh chấp nhận Po Klan Thu trở về Champa để nối ngôi vua, với điều kiện là tân quốc vương Champa phải dẹp tan quân phiến loạn của Ja Lidong.

Sau ngày lên ngôi của Po Klan Thu vào năm 1822, người ta không có tin tức gì về mối quan hệ giữa Champa và Lê Văn Duyệt nữa. Nhưng sự im lặng của Lê Văn Duyệt chỉ mang tính cách chiến lược để xem xét tình hình mà thôi.

Sau 7 năm trị vì, Po Klan Thu băng hà vào 1828. Tin từ trần của Po Klan Thu không phải do quan lại của triều đình Champa cung cấp mà là phát xuất từ vị trấn thủ của phủ Bình Thuận. Điều này đã chứng minh rằng Po Klan Thu không chết trên lãnh thổ Champa mà là ở một nơi khác, có thể tại Huế trong lúc bị giam giữ, vì lý do gì đó.

champa sau 1471

Lãnh thổ Champa sau năm 1471

5). Champa dưới triều đại Po Phauk The (1828-1832)

Sau ngày từ trần của Po Klan Thu vào năm 1828, vua Minh Mệnh tìm cách đưa người trung thành với mình lên làm quốc vương Champa trong khi đó Lê Văn Duyệt quyết định giao quyền quốc vương Champa cho Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) tức là phó vương dưới triều đại Po Klan Thu (1822-1828) và cũng là con của vua Po Saong Nhung Ceng (1799-1822), một vị chiến hữu của vua Gia Long. Sau ngày lên ngôi của Po Phaok The vào năm 1828, vương quốc Champa chấm dứt mối liên hệ với triều đình Huế, chỉ gửi triều cống cho Lê Văn Duyệt. Kể từ đó, nhân dân Champa hoàn toàn đặt dưới quyền che chở của tổng trấn Gia Định Thành, không còn phục tùng vua Minh Mệnh nữa. Hoàn cảnh lịch sử này đã đưa Champa vào con đường bế tắc và hoàn toàn lệ thuộc vào kết quả của cuộc tranh chấp giữa vua Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt. Nếu Minh Mệnh thắng trận, vị vua này sẽ có thái độ vô cùng tàn bạo để trừng trị dân chúng Champa về tội theo Lê Văn Duyệt và ngược lại.

Vào cuối năm 1831, một nhóm quan lại trong triều đình Champa đã đứng ra phản đối thái độ của vua Po Phaok The về việc ly khai với triều đình Huế để tuân thủ mọi chỉ thị của Lê Văn Duyệt ở Gia Định Thành. Lợi dụng tình hình rối ren ở Champa và sức khỏe suy yếu của Lê Văn Duyệt ở Gia Định Thành, Minh Mệnh ra lệnh bắt quốc vương Po Phaok The và phó vương Cei Dhar Kaok vào tháng 3 năm Thìn lịch Chăm (1832) đưa về trại giam tại Huế. Khoảng một tháng sau, tức là tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832), Lê Văn Duyệt băng hà ở Gia Định Thành. Thế là vua Minh Mệnh ra lệnh xóa bỏ Champa trên bản đồ và sáp nhập đất đai của vương quốc này vào lãnh thổ Việt Nam.

6). Minh Mệnh trừng phạt dân tộc Champa (1832-1833)

Trước những hình phạt dã mang của vua Minh Mệnh dành cho người Việt theo Thiên Chúa Giáo hay bản án đào mồ của Lê Văn Duyệt vào năm 1835, người ta không ngạc nhiên cho lắm về chính sách tàn bạo của vua Minh Mệnh để trừng trị dân tộc Chăm về tội theo Lê Văn Duyệt và không qui phục triều đình Huế.

Khởi đầu cho cuộc trừng phạt, Minh Mệnh ra lệnh cách chức và bắt giam tất cả quan lại Champa ; tịch thu tất cả tài sản của họ và sau đó đưa vào gông cùm để tra tấn; buộc người Chăm phải khai báo những gì liên quan đến phong tục tập quán của vương quốc này ; ra lệnh trừng phạt chức sắc Chăm bằng cách bắt buộc các vị tu sĩ Chăm Bani (Hồi Giáo) phải ăn thịt heo, thịt dông và tu sĩ Chăm Bà La Môn phải ăn thịt bò ; ra lệnh đồng hóa người Chăm thành người Kinh bằng cách buộc người Chăm phải mang đồng phục người Kinh, ngăn cấm tuyệt đối người Chăm không có quyền cúng quẩy hay thực thi nghi lễ tín ngưỡng của họ; bắt buộc dân chúng Chăm phải làm nô dịch vô cùng nặng nề như việc nộp cống các loại gỗ quý, voi rừng, ngà voi, v.v, chưa nói đến khổ dịch mang súng đạn và xung phong trên chiến trường chống lại cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành vào năm 1833-1834.

Minh Mệnh còn cho phép quan lại người Kinh đứng ra chỉ đạo, dùng roi gậy đánh đập người Chăm nếu họ làm nô dịch quá chậm chạp ; buộc người Chăm phải nộp những món thịt của thú rừng như hưu, nai, thỏ, bò, v.v.. Một khi người Chăm không tìm ra món thịt thú rừng, các quan lại người Kinh san bằng nghĩa trang Chăm, chưa nói đến việc đưa người Chăm ra xử trảm.

Sau đó Minh Mệnh còn buộc người Chăm phải lấy tên họ theo người Hoa như Quảng, Hứa, Đàng, Lâm, Châu, Thành, v.v., xóa bỏ tất cả những chức vụ quan lại Champa để thay vào đó những chức vụ mà hệ thống hành chánh Việt Nam đã qui hoạch như chánh tổng, lý trưởng, trùm, biện, hào mục, v.v.

Chính sách trừng phạt của triều đình Huế đã làm đảo lộn hoàn toàn hệ thống tổ chức xã hội Chăm để rồi trong gia đình người em không còn biết người anh là ai; cháu không còn tôn trọng bậc chú bác; các thành viên trong gia đình đối xử với nhau như người Chăm-Kinh, không ngần ngại kéo nhau ra thưa kiện trước pháp lý Việt Nam.

Hết nộp thuế nặng nề, dân chúng Champa phải nộp một số lượng gỗ cho chính quyền Việt Nam dùng để đóng tàu chiến, xe bò hay đốt lò gạch ; phải xây dựng đập nước và hệ thống dẫn thủy nhập điền cho ruộng lúa của người Kinh ; ra lệnh tịch thu tất cả ruộng muối của người Chăm, được xem như là mạch máu kinh tế của dân tộc này,

Sau năm 1832, dân tộc Chăm tiếp thu thêm một khái niệm mới về tham nhũng mà họ chưa từng nghe đến trong đời. Những quan lại người Kinh không ngừng đòi tiền hối lộ của người Chăm để được miễn nô dịch ; không ngần ngại chia đất đai người Chăm thành mảnh vụn để đóng thuế và hình thành chính sách cho vay nặng lãi để rồi chủ nợ người Kinh tha hồ chiếm đoạt tài sản và ruộng rẫy của người Chăm thiếu nợ, hay bắt họ làm vật thế chấp.

Nếu người Chăm than van về thuế má quá nặng nề, hành động thối nát và tham nhũng của các quan lại người Kinh nhằm bóc lột người Chăm, thì nông dân Việt Nam vào thời điểm đó cũng không thoát khỏi nanh vuốt của triều đình Huế. Dân tộc Việt cũng bị các cường hào quan lại tướt đoạt tài sản và bị đè bẹp bởi nô dịch và thuế má. Một khi không chịu nổi cơ cực nữa, nông dân Việt Nam chỉ còn cách là nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi ở Gia Định Thành và cuộc vùng dậy của Lê Duy Lương và Nùng Văn Vân ở phía bắc vào năm 1833 là thí dụ điển hình.

7. Phong trào Hồi Giáo của Katip Sumat (1833-1834)

Katip Sumat là vị tu sĩ Chăm Hồi Giáo sinh ở Campuchia, đã từng sang Mã Lai du học về triết lý Hồi Giáo. Nghe tin vương quốc Champa bị xóa bỏ trên bản đồ vào năm 1832, Katip Sumat rời Mã Lai trở về Champa để hình thành một phong trào đấu tranh chống triều đình Huế vào năm 1833. Mục tiêu của Katip Sumat là giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của Việt Nam. Muốn tiến đến mục tiêu này, Katip Sumat dùng triết lý Hồi Giáo làm khung cho chủ thuyết đấu tranh đó là hình thành mặt trận “thánh chiến Hồi Giáo” (Jihad) chống lại triều đình Huế.

Sự vùng dậy của Katip Sumat đã biến dân chúng Champa thành nạn nhân của chiến cuộc. Để dập tan quân phiến loạn, Minh Mệnh ra lệnh cho binh lính của triều đình Huế tha hồ giết hại người Chăm vô tội và tung ra “chiến trường đỏ lửa” bằng cách đốt phá tất cả làng mạc người Chăm theo Katip Sumat, nhất là những làng mạc gần bờ biển hầu ngăn chặn người Chăm chạy sang nước ngoài, trong khi đó dân cư người Kinh ở Bình Thuận sẵn có súng đạn trong tay tìm cách giải quyết mối hận thù riêng bằng cách giết hại người Chăm không gớm tay

Trước lực lượng hùng mạnh của vua Minh Mệnh, Katip Sumat buộc phải lui về miền núi nằm ở phía tây và ra lệnh cho quân lính Chăm tiếp tục đương đầu với triều đình Huế ở đồng bằng, nhưng không gặt hái kết quả gì.

Ai cũng biết, Minh Mệnh là vị quốc vương rất tôn sùng giá trị văn hóa của dân tộc Việt và không bao giờ chấp nhận một tôn giáo ngoại lai nào du nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó, cuộc khởi nghĩa của người Chăm dựa vào chủ thuyết Hồi Giáo du nhập từ bên ngoài có thể gây ra những mối nguy cơ mà vua Minh Mệnh phải dập tan bằng mọi cách, càng sớm càng tốt.

8). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa (1834-1835)

Xuất thân từ Palei Ram (thôn Văn Lăm, Ninh Thuận), Ja Thak Wa không phải người Hồi Giáo chính thống mà là vị tu sĩ Chăm Bani, quyết định ly khai ra khỏi tổ chức cũa Katip Sumat để hình thành một cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng Champa ra khỏi ách thống trị của triều đình Huế. Nhằm tiến đến mục tiêu, Ja Thak Wa thành lập một chính phủ Champa lâm thời vào cuối năm 1834, tôn vinh Po War Palei, gốc người Raglai, tức là em rể của phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) lên làm quốc vương nhằm phục hồi lại vương niệm Champa thuộc dòng tộc Po Rome gốc người miền núi (Kaho hay Churu, tùy theo dị bản) ở Đổng Nai Thượng, nắm quyền Champa từ năm 1627 cho đến triều đại Po Cei Brei (1783-1786). Cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa bùng nổ vào tháng 7 năm Ngọ lịch Chăm (1834). Đây là cuộc chiến vô cùng khốc liệt, vang dội như sấm sét làm rung chuyển cả trời đất.

Nhằm dập tan cuộc khởi nghĩa này, biên niên sử Chăm cho rằng vua Minh Mệnh ra lệnh cho mỗi binh lính người Kinh phải chặt ba cái đầu của người Chăm vào mỗi buổi sáng mới nhận được tiền lương. Lợi dụng chỉ dụ này, người Kinh tha hồ chém đầu người dân Chăm vô tội, càng nhiều càng tốt, để đem nộp cho chính quyền Việt Nam hầu nhận tiền thưởng. Đây là cuộc chém giết người Chăm vô cùng kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử Đông Nam Á.

Đầu năm 1835 là giai đoạn đánh dấu cho những trận chiến khốc liệt tại đồng bằng Phan Rang, nơi mà Ja Thak Wa bị tử trận trên bãi chiến trường. Lợi dụng cơ hội này, vua Minh Mệnh ra lệnh tử hình quốc vương Po Phaok The (Nguyễn Văn Thừa) vá phó vương Cei Dhar Kaok (Nguyễn Văn Nguyên) vào tháng 6 năm Ất Vị (1835) ; đốt phá tất cả thôn làng người Chăm dọc theo bờ biển; chém giết những người Chăm nào tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Ja Thak Wa ; đập phá nghĩa địa tổ tiên của người Chăm; đào mồ mả vua chúa Champa và đốt phá cả đền Po Rome ở khu vực Phan Rang ; cắt đứt hẳn mối liên lạc giữa người Chăm và dân tộc miền núi để họ không còn tụ tập chiến đấu chống triều đình Huế nữa.

9). Thay lời kết luận

Trong phần « thay lời kết luận », Pgs. Ts. Po Dharma đưa ra những lời nhận định sau đây:

• Trước cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt, Việt Nam phải mất gần 8 thế kỷ để xâm chiếm toàn diện lãnh thổ Champa vào năm 1832. Điều này đã chứng minh rằng cuộc Nam Tiến đã gặp những sự đối kháng vô cùng quyết liệt của dân chúng Champa.

• Trong suốt thời kỳ chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh (1771-1802), Champa đã chấm dứt sự tồn tại của mình trên mặt địa lý. Nhờ vua Gia Long mà vương quốc Champa được phục hưng lại. Nhưng người ta cũng đặt ra câu hỏi tại sao vua Gia Long quyết định phục hưng lại nền độc lập Champa vào năm 1802 với mục đích gì? Và người ta cũng không biết tại sao vua Minh Mệnh chấp nhận cho vương quốc Champa được tồn tại thêm mười năm nữa (1802-1822).

• Dưới triều đại Gia Long, Champa là quốc gia đặt dưới quyền bảo hộ của triều đình Huế. Nhưng quyền kiểm soát của Champa hoàn toàn nằm trong tay của Lê Văn Duyệt. Trong khoảng thời gian này, Champa là vương quốc thanh bình. Nhưng sự thanh bình và thịnh vượng này chỉ là kết quả của mối liên hệ rất thân thiện giữa vua Gia Long và Lê Văn Duyệt, tức là hai nhân vật nắm toàn quyền về sự sống còn của vương quốc Champa.

• Sau ngày lên ngôi của vua Minh Mệnh vào năm 1820, Champa trở thành chủ đề tranh chấp trong nội bộ chính trị của Việt Nam. Kể từ đó, Champa chỉ là con tốt trên bàn cờ chính trị đối kháng giữa triều đình Huế và Lê Văn Duyệt.

• Là nạn nhân của cuộc tranh chấp giữa Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt, vương quốc Champa bị đưa đẩy vào thế đứng nằm giữa hai gọng kiềm: chọn Minh Mệnh hay Lê Văn Duyệt để làm người bảo hộ cho mình. Kể từ đó, tương lai của Champa hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của cuộc tranh chấp giữa Minh Mệnh và Lê Văn Duyệt. Một khi đã lựa chọn, Champa phải chấp nhận những hậu quả kinh hoàng, nếu phe mình bị bại trận.

• Năm 1832, Lê Văn Duyệt băng hà vì tuổi già. Nhân danh phe thắng trận, vua Minh Mệnh xóa bỏ ngay tên gọi Champa trên bản đồ và ra lệnh trừng trị vô cùng khủng khiếp các quan lại và dân chúng Champa về tội theo Lê Văn Duyệt. Sự quyết định trừng phạt Champa của vua Minh Mệnh không biểu tượng cho sự thù hằn dân tộc Chăm-Việt, mà là phản ứng tự nhiên trong quá trình hình thành lịch sử dưới thời cổ đại.

• Những biện pháp trừng phạt nhân dân Champa vô cùng dã man kể từ năm 1832 không ám chỉ cho chính sách diệt chủng của vua Minh Mệnh đối với người Chăm. Và chính sách trừng phạt này không mang nội dung hận thù dân tộc hay phân biệt màu da giữa người Chăm và Kinh mà là hành động mang màu sắc chính trị dành cho những ai, dù họ là người Kinh hay Chăm đi nữa, không tôn trọng uy quyền của triều đình Huế vào thời điểm đó. Nhưng trên thực tế, những cư dân người Kinh và quan lại thuộc phủ Bình Thuận là tập thể có ý đồ hành hạ và ngược đãi dân tộc bản xứ Champa, lúc nào cũng tìm cách tước đoạt tài sản của những người không cùng màu da với mình. Và chính họ là những người đã gây ra những cuộc vùng dậy của dân tộc Champa vào những năm 1833-1835.

10). Phụ Lục

 

Trong phần phụ lục, tác giả đính kèm: 

• Nội dung của tác phẩm viết bắng tiếng Chăm : Ariya Po Ceng

• Nội dung của tác phẩm viết bắng tiếng Chăm :  Ariya Po Phaok

• Lịch trình biến cố theo niên đại liên quan đến tiểu vương quốc Panduranga

• Bản đồ           

(nguồn champaka.info)

Nước Nga mến yêu

GIO

Blogger NGƯỜI BUÔN GIÓ

Thứ Hai, ngày 06 tháng 4 năm 2015

Hồi còn bé, nước Nga gọi là Liên Xô. Lúc ấy mình thích Liên Xô lắm, đầu tiên mình nghe được là người Liên Xô coi Việt Nam như đứa em, giúp đỡ hết mình, viện trợ (tức là cho) đủ thứ từ bột mỳ đến cái máy cày.

Thứ ngoại ngữ mình học được ở trường là tiếng Nga, cuốn sách dạy tiếng Nga là cuốn sách đẹp nhất trong số SGK, bìa dày bọc vải gai sần, bên trong giấy trắng bóng, hình minh hoạ in màu cực đẹp.

Bọn trẻ con chơi ngoài đường, phá phách cái gì đều bảo nhau – tội đâu Liên Xô chịu.

Liên Xô hào hùng và lãng mạn qua những bộ phim và các cuốn tiểu thuyết, dạo ấy ra đường nhìn thấy người nước ngoài đều nghĩ đó là người Liên Xô tất. Nhất là người lính tình báo đẹp trai, giỏi đấm bốc trong cuốn Đứng Vững Đến Cùng.

Liên Xô là thiên đường trong bộ óc của mình suốt cả tuổi thơ.

 

Bỗng nhiên một hôm mình đọc được cuốn Những Đứa Con phố Arbat, sách có 3 tập, mình chỉ đọc được 2 tập. Tập 3 kiếm mãi không thấy. Đọc xong 2 tập sách, mình thấy kinh hoàng, tình trạng của những thanh niên phố Arbat không khác gì những người thanh niên ở Hà Nội. Cũng tập trung cải tạo, cũng công an mật theo dõi, hàng xóm cũng tố giác nhau. Rồi cũng vì vài ba câu thơ vui vui mà một chàng trai trẻ phải đi đầy trong trại tù rừng thẳm Xi Be Ri.

Mình so sánh với chú Quý, một người đàn ông gầy gò. Vợ bỏ do chú ấy bị đi tù, ai cũng xa lánh chú ấy, mọi người nói chơi với thằng ấy là nguy hiểm, nó làm mình chết lây đấy. Chú Quý làm thợ hàn, lúc có việc lúc không, nhà chú trống hoác chả có gì. Một mình chú rang một đống lạc pha muối ăn dần với cơm. Con gái chú rất xinh, nó ở với mẹ. Nó cũng ghét bố vì mẹ nó nói bố nó là người hư hỏng. Đọc tiếp

Những đứa trẻ của ngày 30/4/1975

NHUNG DUA TRE 30-4-75Ngày 30/4/1975 tôi có 3 đứa con: năm tuổi, bốn tuổi và một tuổi. Bây giờ chúng đã là những viên chức, có chỗ đứng tốt trong xã hội. Chúng có học vấn, có cuộc sống ổn định. Chúng sống bình lặng, khiêm nhường và lương thiện như mọi công dân Việt Nam khác. Nhưng không phải ai cũng sống bình thường như vậy.

Bởi vì cũng có những đứa trẻ của ngày 30/4/75 đang sống khá đặc biệt. Đó là những người hiện nay thuộc lứa tuổi từ 50 trở xuống (tức là ở thời điểm 30/4/75 các vị ấy chỉ vừa mới cất tiếng khóc chào đời cho đến 12 tuổi), chẳng những không hề tham gia cách mạng mà thậm chí không biết cách mạng là gì, chiến tranh là gì, nhưng hiện nay họ là những ông bà quan lớn cách mạng, giàu có và đầy quyền lực.

Đọc tiếp

Luật Sư VÕ AN ĐÔN, Lục Vân Tiên thời nay

VU AN06:00 ngày 19/02/2015

5 bị cáo nguyên là sĩ quan công an.

Để đưa 5 cựu công an dùng nhục hình làm anh Ngô Thanh Kiều (SN 1982, ở xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) tử vong, ra trước ánh sáng pháp luật, có sự góp công của luật sư (LS) Võ An Đôn, người bào chữa cho gia đình bị hại.  

 Dáng mảnh khảnh nhưng ý kiến tranh luận đanh thép, sắc sảo, LS Đôn nhớ lại: “Sau khi chồngchết, vợ anh Kiều đang mang thai sắp sinh bế theo cháu nhỏ đến trình bày. Tôi hướng dẫn gia đình làm đơn khiếu nại, yêu cầu các cơ quan chức năng làm rõ. Tôi nhận lời bảo vệ miễn phí vì quá xót xa, đau lòng trước cảnh hai đứa trẻ mồ côi, trong đó cháu bé sinh ra mà chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cha, trong khi nhà lại quá nghèo”. LS nhận lời bảo vệ dù biết vụ án này không hề dễ, bản thân LS sẽ gặp điều gây khó dễ.  

“Theo vụ án này đến cùng và đề nghị khởi tố những nhân vật “cộm án”, anh lo ngại không?”. Luật sư Đôn trả lời: “Hầu hết các vụ án kiểu như thế này đều không xác định nguyên nhân, chủ yếu nói người bị tạm giam, tạm giữ tự tử; cũng không có cơ quan nào quan tâm, làm rõ. Để người dân khỏi chết oan và bị tù oan, tôi quyết định làm rõ vụ án này, đưa ra ánh sáng. 

Mục đích của tôi là tìm ra công lý, xử lý những người thi hành công vụ mà làm sai luật pháp. Vì vậy, tôi chẳng có gì phải lo sợ. Mặt khác, tôi được người dân ủng hộ, pháp luật bảo vệ. Nếu lỡ có ai trả thù, đe dọa tính mạng thì tôi cũng không sợ vì tôi đang làm việc đúng”. Đọc tiếp