ĐÀO HIẾU – Những mắt nhìn khờ dại

gap-go-va-chia-liaCháu nội đặt tên cho bé là Mì (để nhớ đến con Bún đã chết).

Tôi thường thức dậy vào lúc 4 giờ sáng, lướt qua tin tức trên mấy trang mạng xã hội, và uống trà.

Chỉ một tiếng đồng hồ nữa, khi tôi mở cổng, đi bộ, là sẽ thấy  Mì chờ sẵn nơi đầu tường.

Nó im lặng trong bình minh. Có khi nó nằm, gác mõm trên hai chân trước. Nó nhìn tôi rồi chỉ kêu một tiếng meo rất nhỏ. Tôi đến dưới chân tường, phải leo lên một cái bục mới có thể vuốt ve nó.

-Con chờ ông ngoại hả?

-Meo.

-Con đói hả?

-Meo

Ngôn ngữ của nó chỉ có một từ. Từ ấy chỉ có một âm tiết. Cả tôi lẫn nó đều không cần phải học, không cần diễn giải, không cần mô tả. Giữa hai bên không có rào cản ngôn ngữ. Chỉ cần “meo”. Mọi thứ lập tức khai mở, hoà nhập, thấu thị và ngộ.

“Meo”. Đó là một từ (word) mà cũng có thể là một nốt nhạc, một mặc khải của tạo hoá.

-Con chờ ông ngoại chút nha. Ông ngoại đi chợ mua cá cho con.

-Meo.

Nó dụi mặt vào lòng bàn tay tôi rồi lại gác mõm lên hai chân trước.

Tôi mở công, đi ra chợ. Đọc tiếp

Đào Hiếu – GẶP GỠ VÀ CHIA LÌA

ĐIỂM HẸN TRÊN BỜ TƯỜNG

mi

Sáng hôm sau tôi đi quanh các bụi cây ven bờ sông tìm con mèo nhỏ. Tôi gọi nó nhiều lần nhưng không thấy động tĩnh.

Buổi trưa khi mọi người ngồi vào bàn ăn, không thấy Xíu luẩn quẩn dưới chân, tôi đi tìm nó, thấy nó đang nằm phục ngay cánh cổng sắt trong tư thề rình mồi. Qua khe cửa, tôi thấy con mèo nhỏ đang đứng bên ngoài. Tôi đuổi Xíu vô nhà rồi mở cổng, ngồi xuống bên nó.  Nó bước đến, dụi đầu vào bàn tay tôi. Meo, meo. Ừ, ông ngoại biết rồi. Con đói phải không?

Cháu nội đem đến một miếng cá.

Xíu lại xuất hiện bên cạnh tôi trong tư thế vồ mồi. Tôi phải bế mèo con đặt trên đầu tường và cho nó thêm một miếng cá nữa.

Xíu nhỏm dậy, nghểnh đầu lên nhìn, đuôi nó đập đập xuống đất. Nhưng mèo con không sợ hãi nữa vì nó đang ở trên cao và đang có tôi che chở cho nó.

Lúc nó ăn, tôi quan sát nó. Nó không còn là đứa trẻ đói rách thảm thương như tối qua. Nó đẹp. Lông nửa trắng nửa đen, giống hệt con mèo tên Bún đã chết cách đây hai năm. Đọc tiếp

NGUYỄN TRẦN SÂM – Những điểm yếu của châu Âu

chau-au-copy70 năm qua, kể từ sau Thế Chiến II, châu Âu, nhất là Tây Âu, là khu vực có thể nói là lý tưởng đối với cuộc sống con người: đất nước tươi đẹp, thanh bình, xã hội ổn định, kinh tế và khoa học – công nghệ phát triển, quyền con người được tôn trọng, hệ thống an sinh vận hành gần như hoàn hảo. Thế nhưng, trong vài năm gần đây, những vụ khủng bố dã man được thực hiện bởi các cá nhân và tổ chức cực đoan đang tạo ra những đe dọa cho khu vực này.

Những tai họa vừa xảy ra cho người dân Pháp và châu Âu cho thấy khu vực này có những điểm yếu nghiêm trọng. Vậy những điểm yếu đó là gì?

Trước hết, cần trả lời một câu hỏi khác: Vì sao bọn khủng bố chủ yếu nhắm tới Tây Âu? Điều này có những lý do như sau.

Thứ nhất là mâu thuẫn về ý thức hệ và tôn giáo. Các lực lượng cực đoan ở các quốc gia đẻ ra khủng bố luôn thâm thù hệ thống xã hội dân chủ kiểu phương Tây, trong đó cho phép con người có mọi quyền tự do. Luật pháp ở các nước phương Tây thực chất chỉ cấm làm những việc gây hại cho cuộc sống và lợi ích của các cá nhân khác và của cộng đồng, đồng thời kìm hãm sự phát triển. Sự cấm đoán đó được thể chế hóa thành những bộ luật chi tiết. Và khi đã có hệ thống các bộ luật như vậy thì công dân chỉ cần không vi phạm chúng là được. Những gì không bị cấm đoán bởi các bộ luật, người ta đều có thể làm. Đây là điều mà các thủ lĩnh tôn giáo cực đoan, đặc biệt là ở vùng Cận Đông, không thể nào chấp nhận được. Họ cho rằng các quyền tự do của con người là sự thóa mạ đối với ‘chúa’ hay ‘thánh’ của họ, và kẻ thóa mạ phải nhận cái chết. Ngay việc theo tôn giáo khác với họ cũng là điều không chấp nhận được. Đồng thời, các tín đồ tôn giáo của họ phải lãnh trách nhiệm trừ khử những kẻ sống theo lối tự do, vô thần và ‘dị giáo’. ‘Dị giáo’ số một là đạo Ki Tô (Christianity, với ba nhánh chính là Gia Tô (Catholic Church), Kháng Cách (Protestantism, trong đó có Tin Lành) và Chính Thống (Orthodox Church)) chiếm đa số dân theo tôn giáo ở phương Tây. Đọc tiếp

Đào Hiếu – GẶP GỠ VÀ CHIA LÌA

TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN:

gap-go-va-chia-liaTác phẩm này không phải là tiểu thuyết, cũng không phải truyện dài, truyện ngắn hay hồi ký. Chỉ là những suy niệm và ghi chép từ một nỗi đau chợt đến tình cờ vào tuổi bảy mươi.

Bảy mươi năm quá dài mà cũng quá ngắn. Đó là cuộc hành trình mù mịt, vô minh, lạc lối trong vinh nhục, trong khổ ải và hạnh phúc, trong yêu thương và thù hận.

Bảy mươi năm chiến tranh, bom đạn, đói nghèo. Bảy mươi năm làm một anh vi-xi hạng bét, làm một anh lính Cộng hoà binh nhì. Bảy mươi năm xuống đường, tù ngục, đoạ đày, tra khảo. Bảy mươi năm yêu đương, lãng mạn, phụ tình, tình phụ.

Bảy mươi năm tội lỗi…

Tôi đã bơi trong bể khổ trầm luân, không biết đâu là bờ bến. Sống như một sự vùng vẫy. Vùng vẫy đến kiệt sức và muốn nằm im, bồng bềnh trên dòng thời gian, mặc cho nó cuốn trôi về vực thẳm.

Tôi vừa muốn hoà nhập vừa muốn xa lánh cuộc đời này. Tôi vừa yêu thương vừa sợ hãi con người.

Tôi tuyệt vọng.

“Chuyện đời đã tắt lửa lòng. Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi” (Nguyễn Du)

*

Nhưng ngày nọ, tôi đã gặp những đứa trẻ bị bỏ rơi trong đống rác, trong góc chợ, trên bờ sông lạnh lẽo… Chúng là những con vật bé bỏng, thơ dại, yếu ớt, đói và lạnh. Chúng là những sinh linh mỏng manh, bị con người vứt bỏ. Chúng không thể tự bảo vệ mình trước muôn vàn đe doạ đang rình rập chung quanh.

Chúng sắp chết.

Nhưng lạ thay, chúng đã đem lại cho tôi niềm hy vọng mới mẻ khác thường. Chúng làm bừng sáng trong tôi một đức tin về sự cứu rỗi và một tình yêu trong sạch, hồn nhiên, thánh thiện.

Chúng đã đem đến cho tôi niềm tin vào cuộc sống.

Và tôi đã nuôi nấng, đã thương yêu, đã đùm bọc chúng giữa muôn trùng đe doạ bủa vây.

Bảy mươi tuổi, tôi bắt đầu một cuộc chiến đấu mới, dù đang kiệt sức và muốn nằm im. Nhưng nằm im là chết. Tôi phải sống để bảo vệ chúng giữa cuộc đời hung ác. Tôi như lão ngư phủ Santiago, một mình chống lại đàn cá mập đang cố rỉa thịt con cá kiếm của lão, dù biết rằng cuối cùng sẽ chỉ đem được vào bờ một bộ xương trơ trụi.

Vì thế, cuốn sách này sẽ không có chuyện thời sự, sẽ gạt bỏ chuyện chính trị, nó chỉ là câu chuyện kể về những con vật nuôi bé nhỏ đã thương yêu tôi, đã được tôi thương yêu, đùm bọc và chiến đấu giành lại quyền sống cho chúng. Đó là cuộc chiến đầu đơn độc, thầm lặng và bi thảm của một lão già mệt mỏi, muốn yên nghỉ nhưng không đành lòng yên nghỉ. Đọc tiếp

Đào Hiếu – LỜI NÓI ĐẦU CỦA MỘT TÁC PHẨM VỪA HOÀN TẤT

BAO LAM 01Nhan đề sách: GẶP GỠ VÀ CHIA LÌA

(Sẽ công bố khi có dịp thuận tiện)

ĐÀO HIẾU

*

Năm sáu mươi tuổi, tôi viết tự truyện “Lạc Đường”, một tác phẩm gây tiếng vang khá rộng rãi, vượt ra khỏi biên giới Việt Nam. Có thể nói đó là một thành công ngoài mong đợi của tác giả.

Năm bảy mươi tuổi là năm buồn nhất của đời tôi. Dường như đó là thời điểm mà con người buộc phải đối diện với lẽ tử sinh thường xuyên nhất.

Sinh nhật thứ bảy mươi, tôi trốn khỏi gia đình. Các con tôi gọi điện thoại hỏi: “Ba đi đâu vậy? Ba quên sinh nhật rồi sao?”. Tôi không quên, nhưng với tôi, sinh nhật luôn là ngày buồn. Những năm trước, các con tôi đều có tổ chức sinh nhật cho tôi. Tôi thương chúng mà dự. Nhưng lần sinh nhật thứ bảy mươi này tôi đi trốn. Có vui vẻ gì khi thêm một tuổi?

Ông quan thi sĩ đời Đường bên Tàu là Đỗ Phủ, chiều chiều đi làm về thường ghé quán cóc bên sông uống rượu đến say mèm. Có hôm hết tiền, phải cởi áo cầm cố cho chủ quán và tự chữa thẹn bằng một bài thất ngôn bát cú mà trong đó có hai câu gần như ai cũng biết:

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hy.

(Nợ rượu thì ở đời ai cũng có, nhưng sống được đến bảy mươi tuổi thì xưa nay hiếm.)

Thời nay, người ta sống đến bảy mươi là chuyện thường. Nhưng bảy mươi, tám mươi, hay một trăm tuổi cũng chỉ là cái chớp mắt của thời gian. Vô nghĩa. Cát bụi. Và lãng quên. Và mất tăm như một que diêm tắt phụt trong đêm tối vô tận.

Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử viết: “Thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ” (Bảy mươi tuổi thì có thể sống thuận theo lòng mình mà không sợ ra ngoài khuôn phép). Tôi lại nghĩ khác: Bảy mươi tuổi là tuổi nguy hiểm nhất. Đọc tiếp

Nguyễn Trần Sâm – VIỄN TƯỢNG ĐEN TỐI BAO TRÙM KHẮP HÀNH TINH

dai-suy-thoai-o-my

Chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà tiên tri cũng như các văn bản tôn giáo cách đây hàng trăm năm đã tiên đoán về ngày tận thế hoặc những thảm họa khủng khiếp xảy ra vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Mặc dù có những chi tiết sai, nhưng có vẻ như những lời tiên tri đó là sự cảnh báo mà loài người không được phép bỏ qua. Trên thực tế, những sự kiện lớn ở Việt Nam và trên thế giới xảy ra trong những năm qua, đặc biệt là trong năm 2016 này, làm những người thường xuyên theo dõi tình hình khó có thể lạc quan về tương lai của nhân loại.

Còn nhớ, vào đầu thập niên 1960, ở Việt Nam xuất hiện bản dịch một cuốn sách nước ngoài với tiêu đề “Thế kỷ hai mốt”. Tôi không nhớ tên tác giả là gì, chỉ nhớ nội dung nói về những thành tựu to lớn mà khoa học và kỹ thuật đem lại cho loài người. Cộng với sự lạc quan kiểu cộng sản thời đó, tác giả cuốn sách vẽ ra cuộc sống của con người trên Trái Đất đúng như ở thiên đường. Mọi việc đều có máy móc tự động làm. Con người chủ yếu chỉ bấm vài cái nút rồi ngồi hưởng thụ mọi khoái lạc. Mọi người ở mọi nơi đều như vậy, “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Xã hội thì gồm toàn những con người thông minh, nhân ái,… Tóm lại là thực hiện được lý tưởng của các vị như K. Marx, F. Engels, V. Lenin,… Đọc tiếp

NGUYỄN TRẦN SÂM – Chuyện trò với một quan chức về Obama

ti-xung-1_zpsvnrriysgN vốn là bạn học cũ của tôi thời học phổ thông. Lực học của N khi đó chỉ vào loại khá, nhưng khi gặp lại sau khoảng chục năm, lúc N đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành xã hội học và làm việc mấy năm ở ban tuyên huấn, thì điệu bộ của N trở nên trịnh trọng. Bước đi ra vẻ thong thả, khi nói chuyện thì hầu như không nhìn người nghe, dường như để tạo điều kiện cho người khác ngắm vẻ đường bệ quan trọng của mình.

Mấy hôm trước, tôi và N gặp nhau tại nhà một người bạn chung. Bây giờ thì N đã là PGS TS về “lý luận”, điệu bộ càng trịnh trọng, mỗi lời nói đều mang tính giáo huấn. Trao đổi xong mấy câu xã giao, N bắt đầu phổ biến tinh thần “chỉ đạo”, “định hướng” về các vấn đề thời sự gần đây. Câu chuyện có liên quan đến việc đánh giá xã hội “ta” và “tây”, và dẫn đến sự kiện Obama thăm Việt Nam vài tháng trước.

“Vừa rồi, Obama sang ta.” N nói. “Công nhận là tay này có những ưu điểm đáng kể, nhất là về ngoại giao. Nhưng mà dân ta cũng tỏ ra tôn sùng và yêu quý quá đáng. Người dân chỉ nhìn được bên ngoài. Họ đâu có điều kiện để nhìn vào hậu trường như cánh này. Những thứ mà dân ta gọi là “thành tâm”, “giản dị”, “đẫm tình người”, thực ra cũng có phần đúng, nhưng chủ yếu là dàn dựng theo kịch bản định sẵn cả thôi. Phải thừa nhận là tay này sắm vai giỏi và có một đội ngũ cố vấn và phục vụ vừa hùng hậu, vừa đắc lực.” Đọc tiếp

VŨ THẠCH – Những cách đấu tranh để đừng thắng

saigontin_bieu-tinh-o-tphcm-va-ha-noi-sau-vu-ca-chet

Ai muốn ứng dụng cách đấu tranh để nắm chắc phần thua trong tay không? Ai muốn học cách để đi từ thất bại này đến thất bại khác không?

Câu hỏi nghe như đùa nhưng chính chúng ta (bao gồm cả tác giả) lại là những chuyên gia “không tập mà giỏi” của loại chiến thuật đó. Chúng ta còn rất sẵn lòng truyền bá cho người khác và rất hăng hái góp phần thực hiện luôn.  

Này nhé,

– Có phải cứ hễ thấy có người hoạt động hăng say ngoài đời hay phát biểu thẳng thắn trên mạng về những điều cấm kỵ, một thời gian dài mà không bị bắt, ta lại bắt đầu nghi ngờ và truyền tiếp cho người chung quanh cái dấu hỏi to tướng về người đó: “Liệu hắn có phải là công an hay người công an gài không?”. Hay lại “Động cơ của hắn là gì?”. Cho đến khi công an đến nhà đọc lệnh lôi “hắn” đi giam thì ta mới hết nghi ngờ và ca ngợi “hắn” là người đấu tranh can đảm.

Và như thế ta tự cho nhau công thức số 1: Chỉ những anh chị em đang ngồi tù mới là những người đấu tranh thật.

– Có phải cứ hễ thấy ở nơi nào đó tổ chức một sự kiện lớn thành công, từ hội họp cả trăm người đến biểu tình cả ngàn người tham dự, mà không bị đàn áp, ta nghi ngờ ngay và truyền tiếp cho người chung quanh: “Chắc phải có thương lượng gì đó với công an rồi. Không thể có giải thích nào khác được”. Và chỉ khi đến những lần tổ chức kế tiếp bị trấn áp hung bạo, ta mới hết lòng thương quí và cảm phục “những anh chị em đã dấn thân”. Đọc tiếp

NGUYỄN TRẦN SÂM – Sỹ phu nước Việt và lời nguyền “học con chữ, cái chữ”

revisionThật khá vô duyên, khi trong những ngày mà thảm họa môi sinh như một con quái vật trăm đầu, ngàn tay, vạn cái vòi đang lộ ra với toàn bộ sự tàn khốc của nó, cùng với hiện trạng non sông đang bị kiểm soát bởi một đội quân ngoại bang đội lốt các nhà đầu tư và người lao động nắm giữ các tử huyệt của đất nước, lại đi viết về chuyện “học con chữ, cái chữ”. Nhưng xét cho cùng thì không lẽ chỉ nói mỗi chuyện thảm họa môi trường? Hơn nữa, hiện trạng đất nước cũng có liên quan đến cả cái sự học của đám người được gọi là “sỹ phu” và ngay cả đám con nít trong nhà trường.

Trong những ngày qua, nhiều người không phải không có lý khi nêu câu hỏi: 24 ngàn tiến sỹ biến đi đâu cả mà không ai trả lời được cho dân là cái gì đã gây ra cái chết cho hàng triệu con cá ở biển miền Trung? Cái gì đang cướp đi cuộc sống của đám dân nghèo? Cái gì đang đầu độc môi sinh ngày một trầm trọng, đến mức hầu như đã hết hy vọng có một môi trường sống trong lành? Nguyên nhân chính của thảm họa đối với đất nước tất nhiên không nằm ở sự học. Thậm chí nó chủ yếu nằm ở sự vô học, sự “phản học”. Tuy nhiên, chính cái sự “học không ra học” cũng là đồng lõa của sự vô học và phản học. Sự đồng lõa này đã giúp cho những kẻ vô học thao túng xã hội, đẩy dân tộc tới tình trạng đen tối không thấy đường ra.   Đọc tiếp

TRẦN DƯƠNG: Bệnh nghề nghiệp

th-1Từ khi xã hội có sự chuyên môn hóa, tức là sinh ra những nghề nghiệp khác nhau, thì một thứ gọi là “bệnh nghề nghiệp” cũng bắt đầu hình thành. Người ta đã nói nhiều về căn bệnh này, nhưng xem chừng nó không thuyên giảm mà có vẻ ngày càng trầm trọng. Nó là một trong những nguyên nhân để các tầng lớp người trong xã hội không thống nhất được với nhau trong cách tiếp cận và giải quyết những vấn đề chung.

Bệnh nghề nghiệp có hai khía cạnh. Một là nhìn các vấn đề của cuộc sống dưới lăng kính của nghề mình. Hai là cho rằng trong các nghề trên đời thì chỉ nghề của mình là quan trọng nhất. Ở đây nói về khía cạnh thứ hai.

Người làm Toán cho rằng trên đời không có gì quan trọng bằng Toán. Toán là nữ hoàng của mọi khoa học. Không biết tính toán thì không thể làm được việc gì, đến đi chợ mua thực phẩm cũng trả nhầm tiền. Cao hơn nữa, các bộ môn khoa học và kỹ thuật đều cần đến Toán. Thời bây giờ mà không có máy móc, không điều chế được các loại hóa chất thì con người sống giống như thời nguyên thủy. Mà muốn có những thứ đó thì phải có các khoa học và kỹ thuật. Khoa học và kỹ thuật lại không thể phát triển, nếu không có Toán. Vậy nên Toán là quan trọng nhất, là tiền đề để có mọi thứ. Làm Toán lại khó nữa, nên người làm Toán xứng đáng được xã hội kính trọng nhất. Nếu chứng minh được bổ đề này nọ thì ngang thượng đế! Đọc tiếp