NHỮNG ĐỨA EM TÔI – Kỳ 11: Thằng Cầm

THANG CAMMột dạo, tôi được sếp giao một công việc không chính thức và rất chung chung, không theo một văn bản pháp quy nào: theo dõi hoạt động của cơ sở đào tạo nghề B thuộc cơ quan tôi nhưng cách chỗ chúng tôi làm hơn 20 km. Tôi nhận thêm một việc mà không được tính thêm lương hay thù lao, mỗi lần xuống cơ sở B chỉ được thanh toán mỗi tiền đi đường và lưu trú. Được cái khi đến nơi thì được cơ sở đó đãi những bữa ăn khá tươm so với những bữa ăn tập thể ở cơ quan tôi, và khi cơ sở đó liên hệ để mở được vài lớp đại học thì người phụ trách cơ sở đó đồng ý để tôi dạy một môn kỹ thuật, nhờ đó có thêm được ít đồng.

Một hôm, sau giờ dạy, tôi đang ngồi chuyện trò với mấy người ở cơ sở B thì thấy một nhân vật chưa quen mặt đi vào. Có người quay ra giới thiệu với tôi đó là Cầm, cán bộ giảng dạy ở đó. Tôi nhìn mặt Cầm, và trong lòng gợn lên một cảm giác khó chịu ít thấy.

Đó là một người hơi thấp nhưng mập và chắc. Mặt hắn khá rộng, da mịn và trắng như con gái, nhưng quai hàm thì bạnh ra đến mức nhìn thấy phản cảm. Đôi môi hắn rất mỏng, giống như khi nặn ra hắn thì “bà mụ” không chủ làm cái mồm, sau đó mới lấy dao sắc khía ra, rồi vuốt mép trên một chút để thành cái chỏm môi nhọn nhọn, không ăn nhập với cặp môi khía. Cằm hắn như có ai vuốt cho bẹt ra và kéo về phía trước, làm cái miệng như móm, trong khi hai hàm rằng khá chắc. Cái mũi của hắn có thể hình dung như một cái mũi vốn khá đẹp, nhưng bị ấn cho ngắn bớt, to ngang thêm, hơi thấp xuống, và làm gần tịt hai lỗ. Nhưng nét đặc trưng nhất trên mặt hắn là đôi mắt. Chúng rất cạn, lòng đen không rõ, không có độ lồi vồng ra ở giữa mà gần như phẳng, không long lanh, không linh hoạt mà gần như bất động, lại hơi xếch, giống như vẽ trên các bức tượng gỗ. Đôi lông mày khá xa mắt cũng hơi xếch và phẳng, giống như xịt keo vào rồi miết xuống, càng làm đôi mắt trông khó chịu hơn. Còn mái tóc…? Khỉ thật, tôi không thể nào nhớ ra mái tóc hắn như thế nào, hói hay không hói, và kiểu chải ra sao. Có lẽ vì những nét kia đã gây cảm giác quá khó chịu đến mức tôi hoàn toàn không nhớ đến mái tóc hắn nữa.

“Em chào anh Sâm”, Cầm nói với vẻ thân mật dường như chúng tôi đã biết kỹ nhau rồi. Tuy nhiên, đó không phải cái giọng suồng sã như thường gặp. Cầm phát âm thẽ thọt mà tỉa tót, rất giống đàn bà và thể hiện rõ vẻ muốn lấy lòng. Cái giọng thẽ thọt và tỉa tót đó lại càng tương phản với cái cơ thể chắc mập của hắn, cũng không ăn nhập với đôi quai hàm bạnh ra và cặp mắt vô hồn. Tôi thấy ghê ghê trong người. Tôi chào đáp lễ, cố không thể hiện sự khó chịu. Đọc tiếp

NHỮNG NGƯỜI BẠN – truyện ngắn Dino Buzzati

Dino Buzzati sinh năm 1906, mt năm 1972 Milan (Italy). Trước khi viết văn, ông là ha sĩ và nhà báo, tng là phóng viên chiến trường ca t Corriere della Sera. Vi Hoang mc Tácta (1940), ông tr thành mt trong nhng tên tui ln ca thế k 20. Ch để quen thuc ca Buzzati là s chy trn thi gian, đnh mnh loài người, s hãi đi vi hư vô, tht bi ca s sng, bí n ca ni đau và cái ác.

BUZZATI 02

NHNG NGƯỜI BN

Ông lão làm đàn luýt Amedeo Torti và bà v đang ngi ung cà phê. Lúc đó bn trđã đi ng. Như l thường, hai người nhìn nhau yên lng.  Nhưng đt nhiên bà vnói :

” Tôi phi nói vi ông mt vic…Sut ngày hôm nay tôi luôn có mt cm giác rt l…Như là ti nay ông Appacher sđến thăm chúng ta.”

“Thôi, không có đùa v chuyn này đó nhé!” Ông chng đáp li bng mt thái đcáu gt. Bi vì Toni Appacher, bn thiếtca ông  và là nhà chế to đàn violon, đã chết hai mươi ngày trước đó.

“Em biết, em biết…là mt điu ghê gm” bà v nói” nhưng đó là mt ý tưởng mà em không sao t b được.”

” À, giá như…” Ông Torti  lm bm vi mt s mâu thun mơ h nhưng không mun đào sâu  đ tài. Và ông lc đu.

Hai người im lng. Lúc đó là mười gi kém mười lăm. Mt lát sau có tiếng chuông ca. Tiếng chuông kéo dài, gic giã. C hai  git ny mình.

“Ai mà đến vào gi này?” bà v lm bm.

H  nghe có tiếng dép lết thếch ca  cô làm phòng Ines  trong hành lang, tiếng  m ca, ri có tiếng thì thm. Lát sau cô ta xut hin trong phòng khách; mt tái mét.

“Chuyn gì vy Ines?” Bà v hi

Cô làm phòng lm lét nhìn ông ch, ging cà lăm :” Thưa…mi ông ra… xem…ngoài đó…!”

“Mà ai? Ai vy?” bà ch hi  bng ging gin d, dù đã biết chc người ngoài đó là ai. Đọc tiếp

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ

  • 26/08/2014 07:23
(VTC News) – Một kỹ sư máy tính đã tiết lộ loại máy tính bảng “giá cắt cổ” có phần mềm giáo dục tiếng Việt được nhập vào Việt Nam.
Sở Giáo dục TP.HCM vừa đưa ra đề án về số hóa sách giáo khoa cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 tại TP.HCM với kinh phí khoảng 4.000 tỉ đồng thì tại địa phương này đã xuất hiện thông tin máy tính bảng giá rẻ được nhập hàng chục ngàn chiếc từ Đài Loan về Việt Nam với giá 900.000 đồng nhưng lại bán ra thị trường giá gấp 4 – 5 lần khiến dư luận bức xúc.

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ
Anh H bức xúc khi máy tính bảng chỉ có giá 900.000 đồng nhưng bán ra thị trường tới  3-5 triệu đồng.
Một kỹ sư điện tử tên H. (xin không nêu tên đầy đủ) – giám đốc một công ty chuyên về máy tính ở TP.HCM đã thông tin chi tiết về loại máy tính bảng được cho là sản phẩm giống như mô tả để cung cấp cho đề án này.


Theo anh H, ngày 30/7/2014, anh được khách hàng từ Đài Loan liên hệ và gửi qua email mẫu máy tính bảng rất nhỏ gọn. Giá nhập cho hơn 3000 thiết bị rất hấp dẫn, khoảng 900.000 VND, với màn hình 7inch – hệ điều hành android 4.2.

Ngày 1/8, anh được gửi một chiếc về để dùng thử. Thấy máy tính có những tính năng sách giáo khoa tiếng Việt, chương trình giáo dục và trò chơi bổ ích có thể kinh doanh được nên anh H bắt đầu đi tìm kiếm khách hàng để bán.

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ
 Phía sau vỏ nhựa màn hình ảnh ‘giáo dục thông minh’
 

Ban đầu anh H không biết chiếc máy tính này dành riêng cho giáo dục nhưng khi thấy báo chí viết về đề án số hóa sách giáo khoa của Sở GD-ĐT TP.HCM, anh tỏ ra hoài nghi và lấy máy tính ra xem thì thấy vỏ máy ghi tên công ty AIC Group Smart Education; Made in Taiwan (quốc gia sản xuất Đài Loan).

Loại máy tính bảng này được cài sẵn hệ thống phần mềm Kids, trong đó có nhiều tài liệu ghi ‘người và tôi’, ‘lòng tôn kính’, ‘lòng trung thực’, ‘lòng dũng cảm’… và các chương trình dành cho thiếu nhi.

Máy tính bảng này còn có chương trình giáo dục cho học sinh THPT, THCS, sách giáo khoa dành cho lớp 10, lớp 12…và các bài giảng chi tiết về chương trình vật lý, hóa học của Việt Nam.

Theo đánh giá của anh H, chất lượng của máy tính bảng này rất thấp, chạy được vài chương trình là máy gặp vấn đề. Chiếc máy được thiết kế bằng vỏ nhựa, pin 1.5A, dùng liên tục được vài giờ là hết pin. Loại pin này chỉ sạc được khoảng 500 lần là chai pin, mỗi cục pin thay với giá từ 200 – 300 ngàn đồng.

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ
 Máy tính được cài phần mềm Kids, trong đó có nhiều tài liệu cho các em học sinh nhỏ tuổi
 

Ngoài ra, máy tính bảng này có độ phân giải kém, không thể dùng bút cảm ứng viết được lên màn hình.

Theo phán đoán của anh H, tuổi thọ của máy tính chưa đến 2 năm là phải mua máy mới. Anh H khẳng định, loại máy tính bảng này được mua với giá chỉ 900.000 đồng nhưng khi bán ra thị trường thì đội lên từ 3 – 5 triệu đồng/chiếc.


“Tôi rất bức xúc khi biết giá nhập vào của thiết bị và giá bán dự định của nó, ăn lời 2-3 triệu trên một thiết bị. Mà đối tượng mua máy tính là các học sinh tiểu học. Bạn có chấp nhận được không? Thật là xấu hổ khi kinh doanh kiểu này.” 

Anh H tính toán, nếu đúng là những chiếc máy này được bán cho hơn 327.000 em học sinh theo đề án của Sở GD-ĐT TP.HCM thì có nghĩa là một năm có khoảng 300.000 thiết bị biến thành rác thải công nghiệp. Lợi nhuận thu về cho các đơn vị kinh doanh thiết bị này lên tới hàng chục tỷ đồng/năm.

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ
 Chi tiết nhất là các chương trình sách giáo khoa như hóa học, vật lý… cho học sinh lớp 10, 11…
 

Lần theo thông tin công ty AIC Group Smart Education ghi trên vỏ máy, phóng viên thấy tên công ty này trùng hợp với tên Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế (AIC) có trụ sở ở Hà Nội.

Tuy nhiên, trả lời báo chí, bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tiến bộ quốc tế – AIC cho biết, công ty bà không có sản phẩm máy tính bảng nào có tên là AIC Group Smart Education được nhập với giá 900.000 đồng.

“Thực tế, chúng tôi có nhập máy tính bảng từ bên Đài Loan về, nhưng sản phẩm này chỉ để phục vụ trong nội bộ công ty và hoàn toàn không bán ra thị trường” – bà Nhàn nói.

Đề án trang bị máy tính bảng 4.000 tỷ: Kỹ sư tiết lộ tin bất ngờ
Cận cảnh chiếc máy tính bảng bằng vỏ nhựa giá chỉ 900.000 đồng nhưng bán ra thị trường gấp 3-4 lần.
 

Sáng 25/8, phóng viên đã liên hệ với lãnh đạo Sở GD-ĐT TP.HCM nhưng vẫn chưa nhận được câu trả lời thỏa đáng về việc này.

VTC News tiếp tục thông tin vụ việc tới độc giả.

» Để giảm sức nặng chiếc cặp học sinh đâu cần tới 4.000 tỷ?
» Sắm 321.000 máy tính bảng cho trẻ: Giật mình tư duy ‘nhà giàu’
» Phải sắm 320.000 máy tính bảng

Sỹ Hưng

 

Những nỗi sợ kỳ cục

AFABC_YouthTee.inddCon người khác các loài động vật khác ở chỗ có khả năng nhận thức. Nhận thức không chỉ giúp con người đạt được mục đích này nọ trong cuộc sống, mà bản thân nó cũng là mục đích. Mặt khác, vì những bí ẩn của sự tồn tại là vô cùng vô tận, nên hoạt động nhận thức phải là hoạt động thường xuyên, liên tục.

Do tính thường xuyên, liên tục của hoạt động nhận thức nên vốn tri thức và cách nhìn nhận của con người thay đổi không ngừng. Bên cạnh một số những điều bất biến, luôn có rất nhiều thứ phải xem xét lại. Thậm chí, đôi khi phải rà lại xem những thứ ta tưởng là bất biến có thực sự là bất biến hay không.

Như vậy, những ai không chịu thường xuyên xem xét lại nhận thức của mình, người đó vẫn còn ở mức phát triển thấp. Và sẽ là cực kỳ nguy hiểm cho cả một quốc gia, khi những người chịu trách nhiệm định ra đường lối phát triển có nhận thức vừa mù mờ, vừa xơ cứng, và không chịu thường xuyên xem xét lại quan điểm của chính mình, không cho phép và khuyến khích sự xem xét lại.

Ấy thế mà đã có thời kỳ người ta sợ cái từ “xét lại” như sợ một con quái vật ba đầu sáu tay. “Chủ nghĩa xét lại” (revisionism) bị xem là bệnh dịch. Người ta thầm thì to nhỏ với nhau với vẻ nghiêm trọng về những kẻ xét lại. Người ta viết báo, viết sách chửi bới những kẻ xét lại ở nước khác. Người ta đấu tố và hãm hại những kẻ xét lại trong nước. Dân tình thì hoang mang, không biết tin vào đâu (rồi cuối cùng cũng nhắm mắt, cố tự trấn an để tin vào những vị đang cầm quyền). Đọc tiếp

ĐOÁ HOA VÔ THƯỜNG – Trịnh Công Sơn

https://www.youtube.com/watch?v=6lbABNXNuOk

Tưởng nhớ 11 năm ngày mất cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, 01/04/2001 – 01/04/2012. Tập thể anh em CLB Guitar LNT xin cảm ơn anh Bằng đã ghi bài ,Acoustica Studio & TiTi Entertainment đã giúp chúng tôi hoàn thành MV này. Do chỉ có gần 1 tháng để phối khí + tập luyện + Thu âm + quay và dựng Clip nên Clip không tránh khỏi những sai sót, rất mong các bạn thông cảm và bỏ qua cho. Xin cảm ơn !
Dựng bài: Lê Hùng Phong
Vocal: Thanh Ngọc
Guitar: Xuân Hà – Duy Phong – Việt Đức – Xuân Thủy – Mã Đức
Guitar Bass: Hữu Trung http://www.facebook.com/trungvh
Percussion: Tường Việt

Tôi ngạc nhiên tại sao các em còn quá trẻ mà lại có thể hiểu tác phẩm ĐHVT của TCS một cách sâu sắc và diễn đạt xuất thần đến như vậy. Đây là tác phẩm hay nhất, lớn nhất của Trịnh Công Sơn và hôm nay lại được phô diễn hết vẻ đẹp mầu nhiệm của nó. CLB guitar LNT thật tài năng. Tôi rất khâm phục. ĐH

Cuộc đời ngắn ngủi của nhà văn Pháp Alain-Fournier

220px-Alain_FournierNăm 2014 là năm kỷ niệm lần thứ 100 ngày mất của nhà văn Pháp Alain-Fournier, tác giả tiểu thuyết nổi tiếng “Le Grand Meaulnes”.

Alain-Fournier tên thật là Henri Alban Fournier. Tháng 12 năm 1907 khi xuất hiện trên báo La Grande Revue với bài viết “Le corps de la femme” (Cơ thể phụ nữ), ông chọn bút danh Alain-Fournier để khỏi bị lẫn với một người đua ô tô nổi tiếng.

Henri Fournier sinh ngày 3 tháng 10 năm 1886 ở Chapelle-d’Angillon, phía bắc quận Cher, trong ngôi nhà nhỏ bé của ông bà ngoại. Là con giáo viên, cậu bé theo cha mẹ đến sống ở Berry. Sau 5 năm ở Marçais, gần Saint-Amand-Monrond, cậu theo cha, lúc đó được phong hiệu trưởng trường Epineuil-le-Fleuriel, một làng ở phía nam của quận, không xa Montluçon.

Cậu bé học tại trường của cha cho đến 1898, trước khi vào lớp 6 và được cấp học bổng ở trường trung học Voltaire tại Paris. Cậu sống và học tập ở đó 3 năm.

Năm 1901, mơ thành lính thủy, chàng trai Henri lại đi học trung học lần hai tại Brest để chuẩn bị thi vào trường hàng hải. Nhưng sau một năm, cậu bỏ ý định. Tháng 1 năm 1903, cậu thi đỗ tú tài ở trường trung học Bourges.

Tháng 10 năm 1903, Henri Fournier chuẩn bị thi vào École Normale Supérieure tại trường trung học Lakanal ở Sceaux. Tại đó, cậu gặp Jacques Rivière, một chàng trai con nhà tư sản ở Bordeaux, và hai người nhanh chóng trở thành bạn thân.

Từ 1905 đến 1914, quan hệ giữa hai người bạn đã đem lại cho cả hai những điều tốt đẹp. Năm 1909, Jacques trở thành em rể của Henri khi cưới Isabelle Fournier, cô em gái kém Henri 3 tuổi.

Ngày 1 tháng 6 năm 1905, ngày lễ Thăng Thiên, Henri Fournier, khi đó đang học tại trường trung học Lakanal, đã đến Phòng Khánh Tiết ở Đại Điện. Khi đi xuống theo cầu thang lát đá, mắt chàng bắt gặp tia mắt của một cô gái trẻ tóc hoe thon thả và duyên dáng đang khoác tay một mệnh phụ luống tuổi. Chàng đi theo cô gái đến Cours-la-Reine, cho đến khi nàng lên thuyền ở bến sông. Chàng đi bộ theo thuyền đến nhà nàng ở đại lộ Saint-Germain. Những ngày tiếp theo, chàng nhiều lần đến đứng ngóng dưới cửa sổ nhà nàng. Đọc tiếp

Romania những ngày cuối năm 1989

nicolae-ceausescu_1682818aTrong thế kỷ XX, Romania là một trong số những quốc gia bị cai trị bởi một thể chế độc tài hà khắc nhất. Ngay cả trong hệ thống XHCN cũng chỉ có vài ba nước mà mọi người dân từng giây từng phút phải thể hiện sự tôn sùng lãnh tụ như ở nước này. Không những “lãnh tụ” Nicolae Ceauşescu mà cả vợ ông ta là Elena Ceauşescu cũng là đối tượng của sự tôn sùng đến mức lố lăng (bà ta được phong viện sỹ hàn lâm và có quyền sinh quyền sát không kém gì chồng).

Vì trong xã hội Romania trước cuối năm 1989, những biểu hiện bất mãn với chế độ là không đáng kể, và một số ít ỏi những kẻ thể hiện thái độ như vậy bao giờ cũng nhanh chóng bị loại trừ, nên ngay đến đầu tháng 12 năm 1989 cũng không ai ngờ rằng chỉ mấy ngày sau đó chế độ Ceauşescu đã sụp đổ, và vợ chồng ông ta bị xử tử. Trước ngày đó, có lẽ trong xã hội mọi người đều tin rằng đại đa số cũng chán ghét vợ chồng Ceauşescu như mình, nhưng không ai dám thổ lộ với người khác, vì nhỡ ra…

Rất giống Mao ở Trung Quốc, họ Kim ở Triều Tiên và ở một vài nước khác, tại Romania Ceauşescu cũng đã được gọi là Người Dẫn Đường và Thiên Tài vùng Carpat. Ông ta sống và xử sự với dân chúng như một ông vua. Ngày kỷ niệm lớn nhất hàng năm của dân tộc là ngày sinh ông ta. Trong ngày đó, ai có vẻ mặt không vui sẽ dễ gặp nguy hiểm. Ceauşescu không thể ngờ… (Và không chỉ ông ta. Mọi loại độc tài đều nghĩ toàn dân tuyệt đối trung thành với mình, mình sẽ cai trị suốt đời và truyền ngôi cho con cháu hoặc những kẻ tâm phúc.) Đọc tiếp

Những cái tên cầu!

Trước năm 1975, nhà ngoại tôi ở giữa đoạn đường Võ Xu và Võ Đắc, tỉnh Bình Tuy, nhà tôi ở Cam Ranh. Khi đó muốn đi thăm ngoại, xe đò phải qua vùng Rừng Lá, trong đó có nhiều ông du kích thích “bắn sẻ”. Chỉ “cắc-đùm” một cái, trúng ai nấy chịu, lỡ trúng ông… tài xế kể như toi cả xe. Nhưng sợ nhứt là từ Ngã Ba Ông Đồn về Võ Đắc, có cây cầu gỗ nhỏ, mấy ông Việt Cộng thường đặt mìn dưới cầu, nhiều xe đò banh xác cùng bao sinh mạng, nên qua đây ai cũng kêu là cầu… nín thở, bởi sợ quá nên không… dám thở. Riết rồi thành tên, sau 1975 và sau này, cầu xây lại bằng xi măng, dân vẫn kêu là cầu Nín Thở!

Tôi mới vừa đọc trên báo NLĐO về một cây cầu ngay trong thời hiện đại, tên nó là cầu Máng, ở Quảng Nam, nhưng người dân gọi là Cầu Vĩnh Biệt vì nó dài 300 m nhưng bề rộng không quá 0,8m, và nó vừa kết thúc một cuộc đời của một phụ nữ sáng nay, khi chị và xe ngã xuống sông vì cầu hẹp, bị dòng nước cuốn trôi. Được biết đã có 12 sinh mạng oan uổng như vậy. Đúng là cầu Vĩnh Biệt!

Báo VNN có nói về một cây cầu khác cũng có tên Nín Thở nhưng ở thời hiện tại dù nó sát thành phố Quy Nhơn, tên là cầu Bến Gỗ. Có khoảng 1.000 hộ dân thường xuyên qua lại trên cây cầu này. Nó dài khoảng 100m, rộng chừng 1,5m được ghép bằng gỗ, tre nứa, chằng buộc bằng đủ thứ sợi thép và có cả lốp xe đạp… Nó cũ kỹ, ọp ẹp, xộc xệch và yếu đến nỗi một nửa chiếc cầu nằm chìm dưới mặt nước… nên khi đi qua đây ai cũng nín thở vì sợ!

Nghĩ đến chuyện thiên hạ vẽ vời… sinh nhật Hai Bà Trưng, máy tính bảng cho học trò, vay nghìn tỷ mua tàu mà choáng. Sự mục ruỗng phải lớn đến đâu thì trái thối mới rơi?

Nguyendinh Bon's photo.

100 năm trước, người Việt sinh sống như thế nào?

Những hình ảnh hiếm về con người Việt Nam những năm 1900 đã được các nhiếp ảnh gia người Pháp ghi lại và lưu giữ tới hôm nay. Dù trong thời nào, lao động vẫn là những giá trị căn bản của cuộc sống.
Những hình ảnh hiếm về con người Việt Nam những năm 1900 đã được các nhiếp ảnh gia người Pháp ghi lại và lưu giữ tới hôm nay. Dù trong thời nào, lao động vẫn là những giá trị căn bản của cuộc sống.
 

Muôn kế sinh nhai của người Việt cách đây hơn một thế kỷ đã được khắc họa khá rõ nét và tập hợp trong bộ ảnh “Bắc Bộ 1900″. Vào thời gian đó, bộ ảnh được triển lãm tại chính Paris để người Pháp có cái nhìn đầy đủ về đời sống người Việt. Cách đây không lâu, bộ ảnh lại một lần nữa được đăng tải trên một tạp chí Pháp. Bộ ảnh là tập hợp những ảnh của các nhiếp ảnh gia người Pháp trong các chuyến tham quan Bắc Bộ đầu thế kỉ 20.

Hãy cùng Depplus tìm hiểu, 114 năm về trước, người Việt sinh tồn bằng những nghề nghiệp gì.

Chiếc xe cút kít một bánh là công cụ kiếm sống của những người làm nghề cửu vạn.

Phút nghỉ ngơi của những người làm nghề cửu vạn bên các công cụ làm việc.

Xe kéo tay là nghề phổ biến của không kể đàn ông, phụ nữ, những người nghèo thời thuộc địa.

Quầy đồ gốm

Nghề lấy ráy tai dạo.

Sản xuất và bán dép cao su ngay tại xưởng.

Quầy chiếu cói bên vệ đường của một ông lão.

Thanh niên trẻ bên những thúng khoai chất cao.

Xe cút kít còn dùng chở lợn ra chợ bán.

Năm 1900, làm ô lọng thủ công vẫn còn là một nghề được trọng dụng.

Nghề khảm trai mỹ nghệ đòi hỏi sự tỉ mỉ, cầu kỳ.

Một nghệ nhân thêu cờ phướn.

Xưởng thuộc da trâu bò với những tấm da lớn được căng rộng.

Quầy nước kiêm quầy hàng gia dụng thủ công.

Một cô ả đào hút tẩu trong lúc rảnh rỗi.

Ngựa là phương tiện di chuyển và chuyên chở của một số người.

Một gánh tuồng thời bấy giờ.

Dạy nghề điêu khắc.
NGUỒN: Bạn bè