Vân Tiên ngồi núp bụi môn…
Truyện kể rằng ngày xưa có chàng thư sinh tên là Lục Vân Tiên, văn võ song toàn, trên đường ra kinh ứng thí chàng gặp bọn cướp Phong Lai đang uy hiếp một chiếc kiệu. Lúc ấy Lục Vân Tiên đi hai tay không nên chàng bèn bẻ cành cây làm vũ khí đánh đuổi bọn cướp, giải cứu người ngồi trong kiệu.
Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
Sau đó:
Vân Tiên tả đột hữu xung
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dương
Khi bọn cướp tháo chạy, Vân Tiên đến gần chiếc kiệu thì mới biết người mình vừa cứu là một người đẹp tên Nguyệt Nga.
Giả sử lúc đó Vân Tiên sợ bọn cướp, hoặc vì “vô cảm” dửng dưng trước tội ác mà phớt lờ bỏ đi thì chẳng ai thèm đọc Lục Vân Tiên cả. Việt Nam mất một Nguyễn Đình Chiểu, mất luôn tác phẩm và nhân vật Lục Vân Tiên. Cũng may cả cụ Đồ Chiểu lẫn Lục Vân Tiên đều là người quân tử (mà ngày nay người ta quen gọi là “trí thức”) nên thần tượng Lục Vân Tiên mới được ngưỡng mộ đến bây giờ.
Tóm lại Vân Tiên là một người “trí thức thứ thiệt”. Cái điều làm nên một Lục Vân Tiên trí thức chính là thái độ “kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” (thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là “dũng”, gặp cảnh nguy nan mà không cứu thì không phải là anh hùng.)
Vậy thì chúng ta có gì phải cãi cọ dài dòng về “trí thức”?
Nếu một người “văn võ song toàn” như Vân Tiên mà “kiến nghĩa bất vi” thì dù sau này anh ta có đỗ trạng nguyên cũng chỉ là một phường giá áo túi cơm mà thôi. Nếu như lúc ấy Vân Tiên thấy Nguyệt Nga “lâm nguy” mà anh ta lại “bất cứu” thì sau này gặp lại Nguyệt Nga cũng bị nàng nhổ vào mặt cho dù lúc ấy Vân Tiên đã đỗ tiến sĩ và làm quan lớn.
Những kẻ có chút học vị, chút thành công đã vội tự nhận mình là trí thức, tuyên bố vung vít, phủ dụ tùm lum nhưng họ quên rằng trí thức là danh hiệu rất cao quý, nó là sự kết hợp giữa hai ý niệm “học giả” và “anh hùng” vì vậy các anh chàng có chút học vị này nọ khoan hãy mơ mộng làm trí thức đã, mà hãy gắng sửa mình để làm người. Vì làm người cũng đã khó lắm rồi. Bởi vì nếu hôm ấy Lục Vân Tiên mà phớt lờ bỏ đi thì anh ta cũng không đáng mặt làm người, nói chi tới chuyện trí thức hay không trí thức.
Một thuộc tính rất quan trọng nữa của trí thức là biết xấu hổ. Đó là trường hợp của nhiếp ảnh gia nổi tiếng thế giới Kevin Carter.
Kevin Carter (sinh:13.9.1960 – mất: 27.7.1994) phóng viên ảnh, công dân nước cộng hòa Nam Phi. Ông chụp bức ảnh con kền kền lẽo đẽo đi theo một bé gái da đen sắp chết đói để chờ em chết thì ăn thịt. Bức ảnh đó được chụp vào khoảng đầu tháng 3.1993 tại làng Ayod, miền Nam Sudan. Sau đó tờ The New York Times đã mua lại và công bố vào số báo ra ngày 26.3.1993. Ngày 12.4.1994 (tức hơn một năm sau khi ảnh được công bố) Carter được thông báo thắng giải Pulitzer.
Nhưng ngày 27.7.1994 Kevin Carter tự tử vì bị dư luận lên án đã không cứu em bé mà chỉ lo chụp hình rồi bỏ đi.
Kevin Carter đã tự sát vì biết xấu hổ. Nhưng với hành động tự sát này, anh thực sự là một người trí thức.
*
Còn một giả định cuối cùng về Lục Vân Tiên, tuy hơi “tiếu lâm” nhưng rất quan trọng, bởi vì ở Việt Nam hiện nay có vài kẻ tự nhận mình là trí thức đã rơi vào trường hợp giả định này. Đó là:
-Vân Tiên không xông vào cứu Nguyệt Nga, Vân Tiên cũng không phớt lờ bỏ đi, nhưng Vân Tiên lại “ngồi núp bụi môn” chờ cho bọn cướp Phong Lai lột sạch vòng vàng, nhẫn kim cương, bông tai hột xoàn, laptop, điện thoại di động…và “vui vẻ” với Nguyệt Nga xong, bỏ đi hết, thì chàng ta mới xuất hiện để “hưởng xái”. Hành động “núp bụi môn để chờ hưởng xái” này, giang hồ gọi là “cơ hội” và trong Blog Quê Choa của Nguyễn Quang Lập được mô tả qua một lời nhắn:
“Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bĩu và chỉ điểm những trí thức chân chính.”
Đó là Nguyễn Quang Lập. Còn ở cái xứ Bình Định của tôi thì trong dân gian có lưu truyền câu ca dao tiếu lâm (chỉ để đùa chơi) về Lục Vân Tiên như sau:
Vân Tiên ngồi núp bụi môn
Chờ khi trăng lặn …SỜ VAI Nguyệt Nga
Nghe hai câu ca dao hài hước này chắc chúng ta hết mơ được “phong hàm trí thức”. Có lẽ chúng ta nên cố gắng sửa mình để sống cho ra con người và đừng có “núp bụi môn, chờ khi trăng lặn” đã là quý lắm rồi.
ĐÀO HIẾU
Gửi Ngô Bảo Châu
Trong bài: Giáo sư Ngô Bảo Châu:Bạn trẻ vẫn đầy niềm tin tương lai” , trả lời câu hỏi: “Giáo sư suy nghĩ thế nào về trách nhiệm phản biện xã hội của giới trí thức cũng như vai trò của giới trí thức trong xã hội?”, Ngô Bảo Châu nói: “Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.” Mặc dầu anh có nói thêm:”Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”, mạng FB vẫn sôi sùng sục.
Sáng 30 tết đáng lẽ nghỉ ngơi thư giản chút ít mà mình cứ bứt rứt không yên. Không thể nghĩ đơn giản: “trí thức là người lao động trí óc“, cũng như không thể nghĩ giản đơn con người là động vật biết tư duy. Muốn biết ai đó là con người hay không, CON NGƯỜI viết hoa ấy, phải xét xem anh ta đã sống như thế nào, tức là tư cách của anh ta. Sản phẩm làm ra của Châu- các công trình toán học của Châu, hoàn toàn xứng đáng giá trị của một nhà toán học, một nhà khoa học, nhưng không vì thế mà người ta coi Châu là trí thức đâu, TRÍ THỨC viết hoa ấy, Châu ạ. Các nhà khoa học được coi là TRÍ THỨC hay không phải xét xem họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội như thế nào, xưa nay đều thế cả.
Định viết bài nói lại với Châu nhưng nghĩ lại mình không viết nữa, dù sao tết cũng đến rồi. Mình đưa bài của Trần Minh Khôi, theo mình đây là bài viết hay, chí lý. Cũng như Châu, Khôi là người bạn mới quen của mình. Cũng như mình, Khôi rất quí mến Châu. Nhưng cũng như mình, Khôi muốn nhắn gửi tới Châu: Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bĩu và chỉ điểm những trí thức chân chính.
TRÁCH NHIỆM TRÍ THỨC
TRẦN MINH KHÔI
Đó là tựa đề của hai bài viết, cách nhau 45 năm, của Noam Chomsky bàn về trách nhiệm trí thức.
Trong cuộc bầu chọn 100 trí thức đương đại có ảnh hưởng nhất trong không gian tư duy Anh Ngữ của hai tạp chí Prospect và Foreign Policy năm 2005, cái tên Noam Chomsky đứng đầu danh sách. Điều này tự nó xác tín thẩm quyền của ông về đề tài mà ông bàn đến.
Trong bài đầu tiên, được viết năm 1967, khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ở đỉnh điểm của sự tàn phá, Noam Chomsky lên tiếng cảnh báo giới hàn lâm và khoa học về thái độ khúm núm của họ trước quyền lực chính trị và những quyết định của chính quyền (Mỹ) liên quan đến cuộc chiến. Trách nhiệm của trí thức là nói lên sự thật và vạch trần dối trá của chính quyền, ông tuyên bố. Gần nửa thế sau, sự chính trực và thái độ không thỏa hiệp đó của Chomsky vẫn nguyên vẹn. Ông nhấn mạnh đến trách nhiệm đạo đức của trí thức trong việc dùng những đặc quyền và địa vị của mình để đấu tranh cho tình thương, cho hòa bình, công bằng, và tự do. Bài viết thứ hai này có thêm cái phụ đề “đặc quyền để thách thức nhà nước”.
Thách thức quyền lực, và thách thức quyền lực chính trị, thuộc về truyền thống trí thức phương Tây; Socrates và Jesus, Tolstoy và Marx, Montesquieu và Roger Williams, Martin Luther và J.J. Rousseau, và đương nhiên Noam Chomsky và Richard Dawkins, Václav Havel, Christopher Hitchens, Jared Diamond, Salman Rushdie,…Nói đến trí thức là nói đến lòng dũng cảm và sự chính trực đối diện với quyền lực, dù đó là quyền lực nhà nước, quyền lực tôn giáo, hay quyền lực văn hóa và lịch sử. Trí thức do đó bao giờ cũng là sự đe dọa đối với các định chế quyền lực, ngay cả quyền lực hàn lâm. Điều này đưa một hệ luận trực tiếp là khi một người tự nguyện phục vụ quyền lực, hay chỉ mon men quyền lực, thì người đó cũng đã tự nguyện từ chối vị thế trí thức của mình. Trí thức không a dua với kẻ cầm quyền.
Trí thức là một quy chuẩn giá trị, không phải là một quy chuẩn nghề nghiệp. Một người lao động trí óc chỉ là một một chuyên viên, một công chức, một học giả, một nhà khoa học. Dù thành quả lao động của anh ta lớn đến đâu, đẳng cấp chuyên môn của anh ta cao đến đâu, nhưng anh ta vẫn không phải là trí thức cho đến khi thực hiện trách nhiệm xã hội của mình. Trong xã hội công dân, trí thức trước hết thực hiện trách nhiệm công dân, nghĩa là trách nhiệm bảo bệ các quyền căn bản, và sau đó là trách nhiệm đạo đức đối với xã hội của một người được hưởng đặc quyền và địa vị. Trong những xã hội mà ở đó nền pháp quyền chưa đủ mạnh để chế tài quyền lực nhà nước, trí thức thực hiện trách nhiệm bảo vệ công lý và bảo vệ các quyền tự do trước sự bạo ngược của nhà nước.“Trí thức”, cũng như với những khái niệm khác như “tự do”, “quyền”, “dân chủ”,… khi đi vào không gian tư duy tiếng Việt, đã được gọt giũa lại cho phù hợp với cái tâm thức thần dân của nổi sợ hãi truyền thống trước quyền lực các loại. Đã có rất nhiều người bàn về khái niệm “trí thức”, về việc có hay không có một tầng lớp trí thức ở Việt Nam, về vai trò của trí thức đối với người cầm quyền và đối với quốc gia,… nhưng gần như không ai bàn đến quan hệ đối kháng giữa trí thức và quyền lực. Từ đó, “trí thức” bị đánh đồng với chuyên viên, học giả, công chức. “Trí thức” trong tiếng Việt không còn chứa đựng nội hàm của thái độ thách thức quyền lực như trong ý nghĩa nguyên thủy của nó. Điều này tự nhiên trong tiến trình chuyển tiếp từ một xã hội thần dân sang một xã hội công dân. Khi quyền lực nhà nước vẫn còn quá bạo ngược, sợ hãi để tồn tại, “tôi sợ”, tự nó cũng là quy chuẩn đạo đức đáng khâm phục. Nhưng tư biện loanh quanh để lẩn tránh sự sợ hãi, trong nhiều trường hợp là vô hình, như trường hợp với những người mà cuộc sống của họ ở ngoài sự kiểm soát của quyền lực, lại là thái độ hèn nhát, không xứng đáng với trách nhiệm trí thức. Và cũng như với tất cả sự hèn nhát khác, nó vô dụng.
Tiến trình hình thành tầng lớp trí thức ở Việt Nam, nghĩa là tiến trình trả lại đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “trí thức”, song hành với tiến trình xây dựng một xã hội công dân, giới hạn quyền lực nhà nước và bảo vệ các quyền tự do. Nó đòi hỏi lòng dũng cảm và chính trực.
Trí thức, theo Chomsky, là một đặc quyền. Đặc quyền đưa đến cơ hội. Cơ hội đòi hỏi trách nhiệm. Và mỗi cá nhân có chọn lựa của mình, trong đó có chọn lựa trở thành trí thức.
Nhàn đàm về nịnh
Trong giao tiếp hàng ngày, chúc tụng, ca ngợi, động viên cổ vũ, khen nhau khiến cho nhau phấn khởi vui vẻ trong cuộc sống là chuyện thường tình. Thế nhưng nịnh hót, nịnh nọt để thành kẻ nịnh bợ thì cũng không phải là chuyện hiếm.
Các kiểu nịnh xưa nay rất đa dạng, nhưng đều có chung một bản sắc, đó là tự hạ mình ca tụng, khen ngợi bề trên một cách quá mức để tranh thủ cảm tình, cầu lợi cho bản thân.
Xưa nay nịnh chỉ có một chiều: dưới nịnh trên, không hề có chuyện người trên nịnh kẻ dưới, ngoại trừ trường hợp dỗ dành trẻ con. Và lúc này nịnh đã biến thành nựng.
Theo sử sách đông tây kim cổ, kẻ thành đạt, giàu có quyền thế bậc nhất nhờ nịnh hót thì chưa ai vượt qua được Hòa Thân thời vua Càn Long nhà Thanh Trung Quốc. Khi Càn Long hứng chí làm thơ, Hòa Thân ca tụng hết lời: ”Thơ của Hoàng thượng hay tuyệt đỉnh, chữ viết như rồng bay phượng múa. Triều đình ta mấy nghìn năm chưa có ai làm thơ hayvà viết chữ đẹp như thế! “. Hễ có dịp là Hòa Thân ca tụng ”Công ơn của Hoàng thượng như trời bể, tài đức sánh ngang với Nghiêu, Thuấn!”.
Với những lời phỉnh nịnh ngọt ngào như thế, Hòa Thân từ một tên quan lại hạng quèn đã leo lên đến Tể tướng và giàu có tột đỉnh. Tài sản nhà họ Hòa còn lớn hơn ngân khố quốc gia.
Chẳng cứ gì Hòa Thân, xưa nay những kẻ xu nịnh vẫn thường a dua theo đuổi kẻ có quyền thế, phủ nhận và xuyên tạc sự thật bất chấp lẽ phải. Sử Trung Quốc vẫn còn ghi chuyện Triệu Cao, Tể tướng nước Tần, rất được lòng Tần Nhị Thế áp mưu giết hại Thừa tướng Lý Tư, Triệu Cao đem dâng vua một con hươu và bảo nhà vua rằng đó là con ngựa. Tần Nhị Thế hỏi quần thần ”Con vật này là hươu hay ngựa. Bọn quan lại xu nịnh Triệu Cao đều tâu là ngựa!”
Đấy là chuyện bên Tàu. Ở ViệtNamta cũng có khối chuyện vui lý thú. Như chuyện tên đầy tớ nịnh chủ trong chuyện cười ViệtNam. Tên đầy tớ có thói quen phỉnh nịnh, chủ nói gì hắn đều nói theo và phóng đại tô màu! Đi chơi, ông chủ khen. ”Lúa đồng làng này tốt quá?”. Tên đầy tớ ca theo ”Lúa đồng làng ta tốt gấp mười lần ! “ . Chủ khen cô thôn nữ xinh gái. Tên đầy tớ ca theo ”Cô nương nhà ta xinh gấp mười lần”. Khi gặp một bà già, chủ nhận xét bà xấu xí. Tên đầy tớ quen mồm buột miệng ”Bà nhà ta xấu gấp mười lần ! “ . Thì ra nịnh hót đã thành quán tính!
Nghệ thuật nịnh bao giờ cũng dùng lời lẽ rất văn vẻ để người trên vừa lòng như chuyện tên lính hầu phát hiện trên chòm râu quan huyện có dính hạt cơm. Hắn đã quỳ tâu: “ Bẩm quan lớn, có hạt minh châu vương trên long tu ngài”. Quan hiểu ý nhặt bỏ hạt cơm, rất hài lòng khen tên hầu bẻm lép thông minh.
Tuy vậy, trong kho tàng chuyện nịnh trên thế gian này có lẽ chưa có chuyện nịnh nào vượt qua được tầm nịnh trong chuyện ”Nịnh rắm” của nước ta. Chuyện kể rằng trong một buổi thăng đường, huyện quan vô tình tương ra một cái rắm. Quan đang bối rối thì viên thơ lại đã đến bên xun xoe: ”Bẩm quan lớn, con nghe như có tiếng đàn, tiếng sáo!”. Một viên thơ là khác lại thốt lên: ”Bẩm quan lớn con thấy thoang thoảng hương quế, hương lan ! ” .
Huyện quan tỏ vẻ buồn rầu: “Ta nghe nói, trung tiện mà thơm thì ta e chẳng còn sống được bao lâu nữa !” . Hai viên thơ lại cuống quít đính chính. ”Bẩm quan lớn, dạ, bây giờ mới có mùi ạ!”, ”Dạ, bẩm quan lớn, bây giờ thì thối lắm, thối lắm ạ!”
Suy cho cùng, nịnh là để chiếm cảm tình của cấp trên để mưu cầu lợi ích riêng. Nịnh là phép xử thế của những kẻ bất tài, kém sức nhưng lại muốn vươn lên bằng thủ thuật nịnh bợ. Xã hội càng phát triển, thủ thuật nịnh càng tinh vi, đa dạng. Từ những ngôn từ đẹp đẽ tâng bốc đón ý cấp trên, tranh thủ cảm tình đến hạ mình phục vụ hầu hạ, biếu xén quà cáp, hối lộ đất đai, tiền bạc.
Vì vậy các nhà xã hội học đều cho rằng nịnh là có hại cho sự phát triển xã hội. Ngay từ thời Tam quốc, Tào Tháo đã viết xuống chiếu cầu hiền: ”Trị vì đất nước, thiết tập trăm quan, phải thực sự phòng người xu ninh . . . “ .
Cho nên, nhận ra được bộ mặt thật của kẻ xu nịnh không phải là khó nhưng để tránh được sự tâng bốc, phỉnh phờ, đường mật rồi vô tình lạc vào mê cung thì thật không dễ. Phát hiện kẻ nịnh rồi tìm cách tránh, xưa nay không phải là không có.
Chuyện cũ kể rằng quan đại phu nước Tề là Trâu Ký rất khôi ngô, tuấn tú. Qua việc ba bà vợ đều khen ông đẹp trai hơn Từ Công. Ông hiểu là người đời thường xu nịnh nên tâu với Tề Uy Vương tìm biện pháp lắng nghe trực tiếp ý kiến của thần dân Tề Uy Vương ra lệnh: ”Ai vạch chỉ ra lỗi lầm của nhà vua trước mặt triều đình thì được thưởng loại 1 . Ai dâng biểu hạch tội nhà vua được thưởng loại 2. Ai có lời chỉ trích nhà vua được thưởng loại 3″.
Lệnh vua vừa ban ra, dân chúng kéo đến cổng thành đông như họp chợ. Tề Uy Vương mới bừng tỉnh, biết mình trước đây toàn nghe theo lời của bọn nịnh thần nham hiểm…
Trong sử sách cũng còn ghi chuyện Sở Trang Vương lúc nào cũng lo lắng việc nước luôn hỏi han quần thần nhưng lũ nịnh thần lúc nào cũng ca tụng Sở Trang Vương sáng suốt, tài ba. Sở Trang Vương rất buồn, ông than: ”Ta đây đã ngu mà đình thần lại ngu hơn ta nữa thì nước ta có lẽ khó mà giữ được Yên”.
Sau đó Sở Trang Vương loại bỏ hết bọn nịnh thần, trọng dụng người tài khiến nước Sở ngày càng hùng mạnh. Tề Uy Vương, Sở Trang Vương không nghe lời xu nịnh nhưng trên thế gian này vẫn còn vô số những người thích nghe những lời tâng bốc đến nỗi tan tành sự nghiệp, mất cả mạng sống của mình.
Danh tướng Quan Vũ (Quan Vân Trường) một trong ngũ hổ thời Tam quốc, oai phong lẫy lừng là thế nhưng lại mất cảnh giác trước lời tâng bốc, phỉnh nịnh của Lục Tốn – đại tướng Đông Ngô, để rồi bị Lục Tốn đánh úp chiếm đóng Kinh Châu và chặt đầu Quan Vũ!
Nói công bằng, có người ưa nịnh thì cũng có người khẳng khái không ưa nịnh, luôn giữ bản chất trong sạch của mình trước kẻ cường quyền dù đó là vua của một nước. Nhan Súc, học giả nổi danh của nước Tề không chịu xu nịnh. Tề Tuyên Vương là một ví dụ .
Chuyện kể rằng khi vua đến chơi nhà Nhan Súc, vua gọi: ”Nhan Súc, lại đây!”, y như kiểu gọi một đứa trẻ. Nhan Súc điềm tĩnh đắp lại: “Hoàng thượng! Lại đây!”. Các quan theo hầu hạch tội. Nhan Súc giải thích:”Vua gọi mà Nhan Súc lại để xun xoe thì Súc là người xu nịnh ham muốn quyền lực. Súc gọi mà nhà vua lại thì vua là người quý trọng hiền sĩ. Nếu để Súc này mang tiếng hâm mộ, xu nịnh quyền thề thì sao bằng để nhà vua được tiếng quý trọng hiền tài!”. Thật là một lập luận biện hộ hết sức tài tình.
Trong cuộc sống ngày nay, xu nịnh vẫn luôn tồn tại ở đâu đó, dưới nhiều hình thức, nhiều kiểu cách, mức độ khác nhau. Phân biệt được khen ngợi chân tình, thực lòng hay tâng bốc nịnh nọt thực ra không khó lắm.
Nhưng khổ một nỗi, loại bỏ thói xu nịnh lại chẳng dễ dùng vì con đường tiến thân bằng xu nịnh lại thường bằng phẳng, ít chông gai và vì xu nịnh đều dùng lời đường mật dễ thấm vào lòng người.
Chẳng thế mà thời nay đã hình thành câu cửa miệng: “Bằng lòng hơn bằng cấp”, song hành cùng câu tục ngữ thời xưa ”Mật ngọt chết ruồi”.
TRẦN TRUNG HẢI
Theo: chungta.com
THƯ MÙA XUÂN
tranh Rosa Foetida
.
THƯ MÙA XUÂN
Một nụ hồng vừa nở dưới hiên
Ta thầm đọc câu thơ mới viết
Có bóng trăng và một con thuyền.
.
Ở đâu đó nồng hương nếp mới
Tiếng chim chiều vui không gian xanh
Trên trang viết thêm vần thơ nhỏ
Riêng tặng em nơi quê yên lành.
.
Xuân làm nở mai vàng trên núi
Ly rượu mời đọng chút hoàng hoa
Ta lại nhớ những người bạn cũ
Những người thân, du tử, phương xa.
.
Xuân mới về theo mùa chuyển dịch
Để tháng ngày thêm tuổi cho ai
Xin nâng cốc chúc mừng tất cả
Chúc hôm này chúc cả ngày mai.
.
ĐOÀN THUẬN
Blog Lề Trái chúc Tết
Blog LỀ TRÁI kính chúc nhân dân Việt Nam từ năm
NHÂM THÌN (2012) trở đi sẽ được làm người tự do.
Nhà văn Võ Thị Hảo nói gì?
NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO NÓI GÌ?
mời các bạn click vào đường link dưới đây:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120121_vn_intelligentsia_vothihao.shtml
Thuyền trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh vì tổ quốc
Ngụy Văn Thà (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1943 mất ngày 19 tháng 1 năm 1974) là một sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, Thuyền trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, tử trận trong hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1năm 1974 và được truy phong hàm Trung tá Hải quân.
Tiểu sử
Ông sinh ngày 16 tháng 1 năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Ở độ tuổi trưởng thành, ông gia nhập lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và theo học khóa 12 Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Nha Trang. Ông tốt nghiệp khóa Đệ nhất Song ngư, ngành Chỉ huy vào tháng 3 năm1964 với cấp bậc thiếu úy.
Sau khi tốt nghiệp, ông thực tập trên hải vận hạm LST-1166/MSS-2 Washtenaw County thuộc Hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Trong thời gian phục vụ trên một số chiến hạm của Hạm đội Hải Quân Việt nam Cộng Hòa, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ:
Thuyền phó Tuần dương hạm Ngô Quyền HQ-17,
Chỉ huy phó Giang đoàn 23 Vĩnh Long,
Thuyền trưởng tuần duyên đĩnh (Patrol Boat) Kèo Ngựa HQ-604,
Thuyền trưởng giang pháo hạm (Landing Ship Infantry Light) Tầm Sét HQ-331, và
Thuyền trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 từ ngày 16 tháng 9 năm1973.
Ông được chính phủ Việt Nam Cộng hòa tặng thưởng 13 huy chương đủ loại, trong số đó có Đệ ngũ Đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu.
Trận đánh cuối cùng
Ngày 18 tháng 1 năm 1974, hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 do Thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy đang tuần tiễu tại vùng biểnĐà Nẵng thì được lệnh hành quân trực chỉ Quần đảo Hoàng Sa, tiếp ứng lực lượng hải đội Việt Nam Cộng hòa tại đây. Bấy giờ, tàu HQ-10 đang có một máy chính và radar hải hành đang ở trạng thái hư hỏng không sử dụng được.
Lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974, trận giao chiến giữa lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc đã nổ ra. Phía Trung Quốc, hai chiến hạm Trung Quốc mang số 389 và 396 đồng loại tấn công thẳng vào soái hạm của Việt Nam Cộng hòa là chiếc tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. HQ-10 lập tức can thiệp, pháo kích dữ dội, bắn trúng đài chỉ huy của tàu 389 và làm cháy phòng máy khiến 389 bị hư hại nặng, không thể điều khiển được nữa. Các tàu Trung Quốc 389 và 396 chuyển làn nhắm vào HQ-10 và phản pháo. HQ-10 bị bắn trúng tháp pháo và buồng điều khiển, làm thuyền trưởng và thuyền phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng, tay lái không còn điều khiển được nữa và HQ-10 cũng bị rơi vào tình trạng bị trôi dạt như 389.
Trước tình hình tàu bị hư hại nặng, thuyền trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho thủy thủ đoàn dùng bè đào thoát, nhưng một số pháo thủ và ông tiếp tục ở lại bắn vào tàu Trung Quốc. Cả hai 389 và 396 đều bị HQ-10 bắn hư hại nặng; 389 dạt vào một bãi san hô, và 396 bị HQ-10 bắn trúng hầm máy gây nổ và phát hỏa, cơ khí trưởng là Trung úy Huỳnh Duy Thạch cùng các nhân viên cơ khí khác cũng bị tử thương [3]
Tới 11 giờ 49 phút, khi các chiến hạm khác của Việt Nam Cộng hòa đã rút khỏi vùng giao chiến, hai chiến hạm Trung Quốc là 281 và 282 tiến vào vùng Hoàng Sa và tập trung hỏa lực bắn vào HQ-10. Hộ tống hạm Nhựt Tảo chìm cùng thuyền trưởng và một số thủy thủ ở vị trí cách 2,5 hải lý về hướng Nam bãi ngầm Sơn dương (Antelope Reef), lúc 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974.[4]
Sau khi Thiếu tá Ngụy Văn Thà tử trận, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã truy tặng Đệ ngũ Đẳng Bảo quốc Huân chươngkèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu và truy phong ông lên hàm Trung tá Hải quân.
Đề nghị vinh danh
Hiện nay nhiều người Việt trong và ngoài nước đang đề nghị chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nên vinh danh ông cùng 73 tử sĩ khác đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa. Những người đề nghị cho rằng dù là quân đội Việt Nam Cộng Hòa hay Cộng Sản thì sự hy sinh trong khi bảo vệ tổ quốc, chống trả lại sự xâm lăng của ngoại bang cần thiết phải được vinh danh và đó cũng là một tín hiệu tích cực cho sự hòa giải dân tộc.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
‘Chồng tôi hy sinh cho đất nước’
MỜI BẠN CLICK VÀO DƯỜNG LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ NGHE
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/01/120119_banguyvantha.shtml
Ngày 19/1/1974, Trung Quốc chính thức chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa sau trận chiến đẫm máu với hải quân chế độ Sài Gòn.
Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng một số thủy thủ hy sinh theo chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 sau khi tàu này bị Trung Quốc bắn chìm.
Hiện bà quả phụ Ngụy Văn Thà đang tạm trú ở TP Hồ Chí Minh, mong chờ tới ngày được về căn nhà mới để có chỗ lập bàn thờ chồng.
BBC Cập nhật: 14:55 GMT – thứ năm, 19 tháng 1, 2012
Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng: Tướng Thệ, tướng Hương đồng loạt lên tiếng
Thảo Lăng (GDVN) - Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng, Hải Phòng đang là tâm điểm chú ý của nhiều tướng lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Em dâu ông Vươn: “xã hội đen vơ vét tôm cá”
MỜI QUÝ VỊ CLICK VÀO ĐƯỜNG LINK DƯỚI ĐÂY:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/01/120117_phamthihien_iv.shtml
Đồng chí Tổng bí thơ về thăm quê Đào Hiếu
Bỗng nhớ ra ông bạn Đào Hiếu, mình quay lại nhìn, thì thấy mặt lão hầm hầm, mình ái ngại hỏi:
-Tớ đã làm gì sai sao?
-Còn hỏi nữa! Đồng chí tổng bí thư về thăm quê của tôi chứ có thăm quê của ông đâu mà xúc động dữ vậy. Đừng có ham!
9 Sự thật kinh ngạc về Bill Gates
Đó là một vài ví dụ trong số 9 so sánh thú vị xung quanh tài sản khổng lồ của tỷ phú Bill Gates, người sáng lập hãng phần mềm Microsoft.
1. Bill Gates kiếm được 250 USD mỗi giây, khoảng 20 triệu USD mỗi ngày và 7,8 tỷ USD một năm.
2. Nếu ông ấy đánh rơi một USD, ông ấy sẽ không buồn nhặt lại vì như vậy sẽ mất 4 giây, tức khoảng 1.000 USD.
3. Nợ của nước Mỹ là 5,62 nghìn tỷ USD, nếu được giao trả món nợ này, Bill Gates sẽ trả xong trong chưa đầy 10 năm.
4. Bill Gates có thể làm từ thiện khoảng 15 USD cho mỗi người trên trái đất mà vẫn còn giữ lại cho riêng mình được 5 triệu USD.
5. Michael Jordan là vận động viên được trả lương cao nhất ở Mỹ. Nếu vận động viên này không ăn không uống, giữ lại toàn bộ thu nhập khoảng 30 triệu USD mỗi năm, thì phải đợi đến đến năm 227 tuổi mới giàu như Bill Gates hiện nay.
6. Nếu Bill Gates là một quốc gia, ông ấy sẽ là quốc gia giàu có thứ 37 trên trái đất.
7. Nếu bạn có thể đổi tất cả tiền của Bill Gates thành tờ 1 USD, bạn có thể làm con đường nối từ trái đất đến mặt trăng. Để làm con đường bằng các tờ tiền 1 USD này, bạn phải mất 1.400 năm và sử dụng 713 máy bay Boeing 747 để chở số tiền đó.
8. Năm nay, Bill Gates đã ở tuổi 54. Nếu giả dụ sống thêm 35 năm nữa, ông ta phải tiêu 6,78 triệu USD mỗi ngày mới hết số tiền ông ấy kiếm được hiện nay.
9. Nếu người dùng hệ điều hành Microsoft Windows có thể lấy được 1 USD với mỗi lần máy tính treo vì lỗi của hệ điều hành, Bill Gates sẽ phá sản chỉ trong 3 ngày
Putin và tệ tham nhũng (tiếp theo và hết)
Lịch sử làm giàu của bạn bè và người thân của Putin không dừng lại ở tổ hợp “Ozero”. Trong chương này chúng tôi sẽ kể chi tiết về ngài Timchenko, bạn cũ của Putin, và anh em Rotenberg, vốn là bạn học judo với ông ta từ khi còn trẻ.
Công an ‘đánh chết dân’ bị tù 4 năm
Ông Nguyễn Văn Ninh ra tòa vì cáo buộc đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng hồi đầu năm 2011. Con gái ông Tùng, cô Trịnh Kim Tiến cho biết “gia đình hoàn toàn không đồng ý với phán quyết này và sẽ kháng án”.“Nếu như thế thì tội giết người cũng sẽ chỉ giống như tội trộm cắp,” Trịnh Kim Tiến nói.



