LẠC ĐƯỜNG 17 – Linh hồn của chuyến công tác

RUS32Tóm lược: CUỐI THÁNG 8/2001 TÔI ĐI MOSCOW DỰ HỘI CHỢ TRIỂN LÃM SÁCH. HÀNH TRÌNH TỪ TÂN SƠN NHẤT ĐI SEOUL RỒI SANG NGA. TÔI Ở HÀN QUỐC CHỈ MỘT TUẦN LỄ NHƯNG ĐẤT NƯỚC ẤY ĐÃ LÀM TÔI SỮNG SỜ KINH NGẠC VỀ SỰ HIỆN ĐẠI CỦA NÓ.

NHƯNG NƯỚC NGA HUYỀN THOẠI MỚI THỰC SỰ GHI NHỮNG DẤU ẤN BẰNG LỬA CHÁY TRONG TÂM HỒN TÔI, ĐẶC BIỆT Ở ĐÓ TÔI ĐÃ GẶP OSAMA BIN LADEN GIỮA CƠN MƯA BỤI MỊT MÙ NƠI CUNG ĐIỆN MÙA HÈ Ở SAINT PETERSBURG.

*

Tôi không thích gã, chẳng phải vì gã lầm lì, xa cách nhưng vì gã quá keo kiệt.

Đoàn có bốn người: một bà giám đốc nhà xuất bản, một cán bộ ngoại giao đã về hưu, tôi và gã. Gã được giới thiệu là một quan chức cao cấp của ngành phát hành sách. Như vậy gã đâu có thiếu tiền. Có thể nói gã là người giàu nhất trong đoàn. Vậy mà trong suốt chuyến đi gã gần như không ăn sáng, chỉ uống một ly cà phê nhỏ. Trong các bữa ăn chung tại phi trường hoặc suốt tuần lễ lang thang ở Seoul gã thường từ chối các lời mời mọc nhậu nhẹt, kẹt lắm thì cũng ngồi chơi, uống một chai nước suối nhỏ, ăn một cái bánh mì kẹp chừng một ngàn won (10.000 VNĐ). Hỏi có bị tiểu đường không thì trả lời là không. Tim mạch cũng không, thận rất tốt. Chẳng có gì phải kiêng cữ. Vậy mà ăn nhín nhịn thèm, tiết kiệm từng đồng won, đồng đô- la…

Thôi, cứ tạm cho gã là một cán bộ mẫu mực, cần kiệm liêm chính. Tiếp tục đọc

Advertisements

LẠC ĐƯỜNG 16 – Những con chó rơm của Khổng Tử

Tóm lược: KHI ĐÃ THOÁT RA ĐƯỢC CÁI VÒNG DANH LỢI, TÔI CHUYÊN TÂM VÀO SÁNG TÁC VĂN HỌC VÀ ĐÃ XUẤT BẢN ĐƯỢC HƠN MỘT CHỤC TRUYỆN DÀI, NHIỀU TRUYỆN NGẮN VÀ CẢ TRĂM BÀI BÁO. CHÍNH NGHỀ BÁO ĐÃ BỔ SUNG VỐN SỐNG CHO TÔI RẤT NHIỀU TRONG CÁC SÁNG TÁC. GIỜ ĐÂY, KHI ĐÃ ĐẾN TUỔI BẢY MƯƠI, NHỮNG VỐN SỐNG MÀ TÔI TÍCH LUỸ ĐƯỢC TRONG HƠN 20 NĂM LÀM BÁO VẪN CÒN ĐỌNG TRONG TÔI NHIỀU CẢM XÚC MẠNH MẼ, ĐỘC ĐÁO, KHÔNG GÌ CÓ THỂ SÁNH NỔI.

TÔI THANH THẢN SỐNG CUỘC ĐỜI RIÊNG CỦA MÌNH, NGOÀI VÒNG DANH LỢI. VÀ DÃ NHÂN, THẦY TÔI, ĐÃ TRỞ THÀNH TRI KỶ.

*

moi nhoKhách đi xe hơi đến. Xe và tài xế ở lại dưới chân núi. Một mình khách theo đường mòn đi lên. Cây, đá đều lẩn trong sương. Trời cũng chìm khuất trong mây. Mây thấp, la đà dưới thung lũng.

Dã Nhân nói:

-Ta không muốn tiếp nó.

-Vậy thì thầy lánh mặt đi.

Khách là bạn cũ của tôi và Dã Nhân. Trước đây hắn cũng ở trong phong trào sinh viên chống Mỹ. Tốt nghiệp đại học. Ở rừng về. Đảng viên. Tuy hắn chỉ giữ một chức quan nhỏ nhưng nhờ quen biết lớn hắn nhảy vào kinh doanh địa ốc trở thành một trong những đại gia của thành phố.

Thủ đoạn kinh doanh của hắn có thể tóm tắt như sau: thông qua các quan lớn, hắn biết được các khu quy hoạch của thành phố. Hắn tiếp xúc với các quan trong địa phương có đất quy hoạch, cùng họ lên phương án đền bù giải tỏa. Hắn họp dân lại, treo cái bản đồ quy hoạch tổ bố trên tường để dằn mặt dân, sau đó hắn ra một cái giá rẻ mạt cho mỗi mét vuông, bắt dân phải bán đất.

Trước đây tại một khu quy hoạch ở Nam Sài Gòn, người nông dân bị buộc phải bán cho hắn mười chín ngàn đồng một mét vuông đất ruộng. Về sau này, nông dân biểu tình phản đối cướp đất, hắn đi con đường mềm dẻo hơn. Hắn cho họp dân để “hiệp thương” tức là hai bên thương lượng giá. Nhưng hắn lại đưa ra một cái khung giá do nhà nước quy định. Ở thời điểm năm 2000 cái giá ấy là 300 ngàn một mét vuông. Dân không chịu thì hắn và các quan chức địa phương bèn ra lệnh: “Ai không chịu nhận tiền đền bù thì số tiền ấy cũng sẽ được gởi vào ngân hàng. Còn kế hoạch giải tỏa vẫn tiến hành theo đúng tiến độ.”

Ngay ngày hôm sau, trên mục rao vặt của các báo xuất hiện những mẩu tin rao bán đất. Các chủ đất đọc báo, thấy đất của mình được hắn ta rao bán với giá bảy triệu đồng một mét vuông (!)

Tiếp theo là cuộc hành quân quy mô lớn gồm công an, cảnh sát cơ động, chó nghiệp vụ, xe cứu thương, đại diện cơ quan nhà đất địa phương, đại diện ban giải tỏa đền bù, đại diện dự án tái định cư…cùng một đoàn xe ủi, xe xúc, cần cẩu…rầm rộ kéo đến tiếp quản đất và san lấp mặt bằng. Xe cứu thương hụ còi, “sẵn sàng làm nhiệm vụ” nếu có xô xát đổ máu. Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 15 – Đến Mỹ một lần rồi chết

OLYMPUS DIGITAL CAMERATóm lược: TRONG BÀI TRƯỚC TÔI CÓ NÊU RA MỘT SỐ THÔNG TIN CÓ LIÊN QUAN TỚI “KỸ NGHỆ CHIẾN TRANH” CỦA CHÍNH PHỦ MỸ. KỸ NGHỆ ẤY QUYẾT ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ, NÓ TIẾN HÀNH NHIỀU CUỘC CHIẾN TRANH, NÓ BỨC TỬ NHIỀU DÂN TỘC, NÓ NUÔI DƯỠNG BIN LADEN, NÓ ĐẺ RA CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ. NHƯNG NẾU BẠN DU LỊCH SANG MỸ, HOẶC BẠN LÀ CÔNG DÂN MỸ, BẠN SẼ KHÔNG BAO GIỜ CẢM NHẬN ĐƯỢC ĐIỀU ẤY, BỞI VÌ BẠN ĐANG SỐNG TRONG MỘT XÃ HỘI GIÀU CÓ, TƯƠI ĐẸP… NHƯ CHỐN THIÊN ĐƯỜNG.

*

Hãy thử mở đầu bằng Las Vegas.

Đó là một thành phố trên sa mạc Nevada khô cằn. Băng qua đó như băng qua một vùng đất của sao Hỏa. Không có núi xanh vì sa mạc chết. Chỉ có những ngọn núi màu tím, màu vàng, màu cà phê hay màu đen ánh bạc của quặng thép.

Những ngọn núi nổi chập chờn trong mưa. Mưa sa mạc đến rồi đi, rồi lại đến. Đột ngột, gào thét và dịu dàng. Những cơn mưa làm cho sa mạc bớt nóng. Nhiệt độ bên ngoài đã tụt từ 120 xuống đến 75 độ F  (khoảng 20 độ C). Sa mạc trải dài hai bên con đường nhựa đỏ, ngun ngút một màu vàng xám lỗ chỗ những bụi gai sắc nhọn, khô cháy.

Nếu không có sa mạc này thì Las Vegas không là gì cả. Những sòng bài mênh mông kia thực chất chỉ là thế giới rỗng tuếch, nhỏ hẹp dành cho đám người tầm thường.

Disney Land cũng vậy, đó chỉ là khu giải trí dành cho trẻ con.

Cái đáng thán phục ở Mỹ chính là những sân bay lớn như Los Angeles, Dallas, Kennedy… chúng như những vương quốc rộng lớn với nhịp sống vô tận.

Hệ thống đường bộ của họ làm chúng ta bàng hoàng sợ hãi. Xa lộ ở tiểu bang California thênh thang, năm tầng bảy lớp, đường xẻ núi mà đi, lên đồi xuống dốc, băng qua sa mạc, vượt thung lũng. Đường trùng điệp, không biết đâu là cùng, freeway thẳng tắp, ngút ngàn, bất tận…

Bắc nước Mỹ xanh và lạnh. Trung nước Mỹ vàng lúa mì mùa hạ và trắng xóa tuyết mùa Đông. Nam nước Mỹ, nhất là nam Cali – nơi có Sài Gòn Nhỏ – thì nóng, cằn, sỏi đá, sa mạc… nhưng bắc Cali – nơi có thung lũng Hoa Vàng, có cây cầu treo nổi tiếng Golden Gate thì mát dịu, cây cối xanh tốt.

Phố Tàu ở San Francisco đồ sộ, sạch sẽ, tự tin và kiêu hãnh bên cạnh một San Francisco của người Mỹ chính cống. Trong khi đó phố Tàu ở thành phố New York thì cũ kỹ, lộn xộn và ngập rác vào lúc nửa đêm.

Ở New York City cây cối không tranh nổi với bê tông cốt sắt. Từ hơn 200 năm nay, cao ốc uy hiếp cây cỏ, chen lấn thô bạo những cánh rừng, những công viên, chúng huênh hoang trên những đại lộ, tranh ánh sáng với từng tán lá dưới thấp, đẩy cây cối vào các khe hở của chúng, vào kẽ nách của chúng.

Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 14 – Thế giới đang bốc mùi

LAC DUONG 2008Tóm lược: LÚC CÒN TRẺ, HÁO THẮNG, TÔI VẪN NGHĨ MÌNH LÀ MỘT NGƯỜI THÔNG MINH, NHƯNG ĐỐI VỚI DÃ NHÂN THÌ TÔI CHỈ LÀ MỘT THẰNG “THÔNG MINH TRUNG BÌNH”, TÔI BỊ ÔNG “SỬA LƯNG” NHIỀU LẦN VÀ TÔI ĐÃ HỌC ĐƯỢC Ở ÔNG NHIỀU ĐIỀU KỲ LẠ.

ÔNG NHÌN THẤU TIM ĐEN CỦA MỌI VẤN ĐỀ, VÌ THẾ ÔNG VỪA NGHIÊM KHẮC VỪA ĐỘ LƯỢNG. TÔI NGHĨ, ÔNG GẦN VỚI ĐỨC PHẬT HƠN LÀ MỘT NGƯỜI ĐIÊN. NHƯNG DÙ LÀ AI ÔNG CŨNG LÀ BẠN TÔI, LÀ THẦY TÔI.

*

Ngày xưa, tôi thường nghĩ: làm người thì phải có lý tưởng, phải tin vào một cái gì đó và phải biết ước mơ….

Hàng triệu thanh niên cũng nghĩ như tôi vậy.

Nhưng thật tội nghiệp cho thế hệ thanh niên ngày nay khi những điều tốt đẹp đã tàn héo, khi lịch sử tự chứng minh rằng lý tưởng chỉ là cái mớ giẻ rách.

Lịch sử tự vạch mặt chỉ tên mình là bọn đầu trộm đuôi cướp, tự vạch áo cho người xem cái lưng ghẻ lở bốc mùi của mình. Và hiện nay cái mùi ấy là mùi đặc trưng của thế giới. Từ Hoa Kỳ đến Iraq, Palestine, Israel, từ Anh đến Pakistan, Myanma, Thái Lan, Philippines, Việt Nam… Chưa bao giờ nhân loại hỗn loạn, phức tạp, điên đảo và nhảm nhí như thời đại này.

Nhưng có lẽ chỉ có chừng một phần ba nhân loại ngửi thấy cái mùi khăm khẳm ấy, chính vì thế mà những người hành nghề chính trị trên khắp thế giới mới phát tài phát lộc. Mặt hàng kinh doanh của họ là sự dối trá, lừa bịp. Và khách hàng của họ là hàng tỷ người hiền lành, tốt bụng nhưng nhẹ dạ cả tin trên khắp mặt đất, từ Somalie cho tới Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 13 – Chú mọi nhỏ của Dã Nhân

LAC DUONG 2015Tóm lược: 30 NĂM, TÔI MỚI GẶP LẠI NGƯỜI BẠN TÙ CŨ LÀ DÃ NHÂN, TRÔNG ANH NHƯ MỘT LÃO KHẤT SỸ, MỘT NHÀ TU NHỔ HẠNH. ANH LÀ SƯ PHỤ CỦA TÔI.

ANH ĐÃ XUẤT HIỆN NGAY TRONG CHƯƠNG ĐẦU TIÊN CỦA TÁC PHẨM NÀY NHƯ MỘT CHIẾN HỮU, ĐÃ CÙNG TÔI ĐI TÌM NHỮNG TỬ THI BỊ BẮN CHẾT TRÊN BIỂN QUY NHƠN…VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ SAY MÈM, ĐÃ KHÓC VỚI NHAU KHI ĐỨNG TRƯỚC BIỂN ĐÊM ĐEN KỊT VÀ ĐẦY GIÓ…

RỒI TRONG CUỘC BỂ DÂU, CHÚNG TÔI THẤT LẠC NHAU, ĐỂ RỒI LẠI TRÙNG PHÙNG Ở GẦN CUỐI CUỘC HÀNH TRÌNH ĐẦY TRẦM LUÂN, KHỔ ẢI.

KHÔNG BIẾT AI ĐÃ MÁCH NƯỚC NHƯNG ANH ĐẾN THẲNG TOÀ BÁO TÌM TÔI, DẪN THEO MỘT THẰNG NHỎ.

*

Đó là một cậu bé da đen từ Congo trôi dạt đến đây.

Theo lẽ nó phải gọi tôi bằng sư huynh nhưng vì nó không biết tiếng Việt nên suốt ngày chỉ cười. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tay và mắt.

Hôm trước hai thầy trò còn ở Sài Gòn, sáng ra đã biến mất, để lại một tờ thư, đại khái ông nói muốn lên ở trên núi Thị Vãi một thời gian để giảng kinh và bảo khi nào tôi lên thì đem cho ông một can mười lít rượu Bàu Đá.

Đường dốc hiểm trở, len lỏi qua nhiều hang đá mới tới được cái am của tiên sinh. Chú mọi nhỏ dẫn tôi ra sau am và đưa cho tôi mấy trái chuối bảo đặt dưới các gốc cây rừng cho sóc ăn. Lũ sóc ở trên cây bò xuống, leo cả trên vai của chú bé.

Giây lát tiên sinh bước ra, tóc búi củ tỏi sau gáy, râu dài, phong thái đĩnh đạc, trầm mặc.

Ông đến ngồi cạnh tôi:

-Chú mọi nhỏ này là người Côngô, cha mẹ đều chết vì bệnh AIDS, những anh chị của nó thì chết đói trong rừng. Một thủy thủ da đen nhận nó làm con nuôi. Và cuối cùng trao cho ta, làm đệ tử của ta. Nhưng lai lịch của nó, số phận của nó không chỉ đơn giản như vậy. Nó không chỉ là một đứa bé. Nó là lịch sử. Nó là một nhân loại đang sống sót. Nó là một nhân loại kỳ diệu vì đã tồn tại sau khi bị dày xéo, chà đạp dưới gót giày, bị đốt trong lửa, bị nổ tung trong bom mìn và bị mục nát trong bệnh AIDS. Nó là đức Thế Tôn. Ngươi có thấy nó đang chơi với những con sóc không? Tiếp tục đọc

Nguyễn Trần Sâm – KAZUO ISHIGURO, NGƯỜI ĐOẠT GIẢI NOBEL VĂN HỌC 2017

IshiguroKazuo2005copyNgày 5 tháng 10 vừa qua, Ủy Ban Giải Thưởng Nobel của Viện Hàn Lâm Thụy Điển đã quyết định tặng giải Nobel Văn Học cho nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, “người mà trong những tiểu thuyết đầy sức mạnh cảm xúc đã mở ra vực thẳm trước ảo giác của chúng ta về mối liên hệ với thế giới”.

Phản hồi việc được nhận giải, Ishiguro nói: “Đây là vinh dự to lớn, chủ yếu vì nó có nghĩa là tôi đã tiếp bước những tác gia vĩ đại đã từng sống. Đây là một sự thừa nhận tuyệt vời. Thế giới đang ở vào một thời điểm đầy bất định, và tôi hy vọng rằng tất cả các giải Nobel sẽ là sức mạnh để đạt được một cái gì đó tích cực cho cái thế giới đang hiện hữu…”

Kazuo Ishiguro sinh ngày 8 tháng 11 năm 1954 tại Nagasaki, Nhật Bản. Mẹ ông là Shizuko, còn cha là Shizuo Ishiguro, một nhà nghiên cứu hải dương học. Năm 1960, gia đình ông chuyển đến GuildfordSurrey, Vương Quốc Anh. Tại đó, cha ông tiếp tục làm công tác nghiên cứu ở Viện Hải Dương Học Quốc Gia. Kazuo bắt đầu theo học tiểu học, sau đó học tại Trường Ngữ Pháp Tỉnh Woking ở Surrey. Sau khi tốt nghiệp bậc phổ thông, Ishiguro du hành qua Mỹ và Canada. Ông viết nhật ký du hành và gửi vào các trung tâm ghi băng. Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 12 – Dresden cổ kính và trầm lặng

DRESDEN 01

Tóm lược: Ở CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA VỀ, TÔI IM LẶNG MỘT THỜI GIAN DÀI, TẬP TRUNG VIẾT MỘT SỐ TÁC PHẨM KHÁ TÂM ĐẮC NHƯ  Vua Mèo, Kẻ Tử đạo Cuối Cùng, Vượt Biển, Người Tình Cũ, Hoa Dại Lang Thang… SAU ĐÓ, TÔI XUẤT BẢN CUỐN “NỔI LOẠN” (Nhà xb Tác Phẩm Mới), BỊ ĐÁNH TAN TÁC VÌ “PHẢN ĐỘNG VÀ ĐỒI TRUỴ”, SUÝT ĐI TÙ. TUY NHIÊN CŨNG NHỜ VỤ NÀY MÀ TÔI ĐƯỢC MỜI SANG DU LỊCH CHÂU ÂU MỘT THÁNG.

CÁCH ĐÂY CHỪNG 20 NGÀY TÔI CÓ POST LÊN FB TRÍCH ĐOẠN “Tiếng leng keng của tàu điện” VIẾT VỀ NHỮNG NGÀY ĐẦU TÔI Ở VƯƠNG QUỐC BỈ, NAY KHÔNG ĐĂNG LẠI NỮA.

SAU MỘT TUẦN Ở LOUVAIN VÀ BRUXELLES, TÔI ĐÁP TÀU TGV ĐI PARIS THĂM GIA ĐÌNH CÔ CHÁU GÁI, RỒI ĐI BERLIN.

*

Nước Đức là một điểm đến tình cờ nhưng với tôi lại nhiều kỷ niệm. Có lẽ vì lúc ấy tôi không vội vàng. Lặng lẽ đến, thong thả nhìn ngắm, chậm rãi với phố xá, và một mình với đàn chim sẻ trong công viên vắng tanh.

Thành phố Dresden trầm lặng. Trời âm u suốt ngày. Không có ý niệm về thời gian, cho đến khi chợt nhận ra một mình trên phố vắng người, coi đồng hồ thì đã bốn giờ chiều.

Đó là buổi chiều cuối cùng của năm 1997. Những cơn gió từ dưới sông Elbe thốc ngược lên lạnh buốt.

Tôi ngồi bên một gốc cây khô nhìn ông già và con chó nhỏ. Nắng khô héo. Hàng quán đóng cửa gần hết. Đường phố không còn ai. Người ta đã bỏ quên ông già, con chó và tôi. Hình như trong buổi chiều cuối năm này chỉ có ba chúng tôi là những người không có mái ấm để trở về. Ông già đang nằm ngửa trên bãi cỏ. Dường như ông đã ngủ quên.

Tôi leo lên dốc để ra phía bờ sông Elbe. Nhà hàng nổi ở đó vẫn còn mở cửa.

Dòng sông nhỏ bé in bóng những lâu đài vàng đục nắng xế. Mặt sông gợn một chút sóng nhưng vẫn phẳng lặng. Những con hải âu thả mình cho dòng nước cuốn đi, và khi trôi gần đến cây cầu thì chúng lại vỗ cánh bay ngược lên chỗ nhà hàng nổi, và đáp xuống nước, xuôi dòng. Đó là trò chơi của chúng, như trẻ con chơi cầu tuột.

Người bồi bàn đem đến cho tôi một chai Gluhwein.

Đó là rượu vang lửa. Trước khi uống người ta hâm nóng lên. Hớp một ngụm, hơi nóng lan tỏa trong cổ họng, chậm rãi, thấm đậm, ấm áp. Tiếp tục đọc

PHAN AN SA – Tôi dõi theo… và tôi đã thấy

PHAN KHOIChào mừng 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)

Tùy bút

Một buổi chiều cuối năm 2003, đang làm việc tại cơ quan thì tôi nhận được điện thoại của Lại Nguyên Ân, anh hẹn sẽ sang gặp tôi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi biết nhau, ngồi với nhau trao đổi các việc chung quanh tập sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1928 do anh sưu tầm và biên soạn, vừa ấn hành hồi tháng sáu. Tôi bất ngờ và không giấu nổi xúc động, vì từ ngày cha tôi qua đời, gần năm mươi năm qua, tôi chưa bao giờ dám nghĩ sẽ có ngày các tác phẩm đăng báo từ thời Pháp thuộc của ông lại được tái công bố. Tôi biết đâu là hơn mười năm nay Lại Nguyên Ân đã lặng lẽ làm việc đó và giờ đây tôi được cầm trên tay tập sách đầu tiên của bộ sách anh dự định làm cho đến khi nào hết mới thôi. Kết thúc buổi gặp, anh tặng tôi một bản sách còn thơm mùi mực in và đưa tận tay tôi một cái phong bì mỏng, nói là tiền nhuận bút nhà xuất bản gửi trả cho gia đình. Tôi nhận và nói lời cảm ơn, còn dặn thêm anh, rằng các tác phẩm của cha tôi đã đăng báo từ bảy mươi, tám mươi năm trước, theo luật thì chúng đã thành của chung, nên từ lần sau anh nói nhà xuất bản không phải trả nhuận bút nữa. Bữa đó về nhà tôi kể lại cho mẹ tôi nghe, chuyển tận tay bà cái phong bì đựng tiền nhuận bút của ông, bà đặt lên bàn thờ, thắp nén hương kính cáo với ông. Hôm sau, bà mở phong bì, đếm tiền, tôi nhớ đâu như là một triệu sáu, tôi dặn mẹ tôi giữ lấy khoản tiền ấy vì nó là của ông để lại cho bà.

Từ đó, cái quý danh Lại Nguyên Ân ở lại trong đại gia đình Phan Khôi với tư cách là một ân nhân, vì anh đã thay chúng tôi làm cái công việc mà đúng ra con cháu ông cần phải làm đối với bậc sinh thành. Hai chúng tôi cùng ở Hà Nội, mỗi người một công việc, một cơ quan, nên không gặp nhau thường xuyên, nhưng lúc cần thì vẫn liên lạc với nhau, trao đổi tài liệu, tư liệu hoặc trò chuyện qua e-mail. Và với các công việc học thuật liên quan đến Phan Khôi thì phần lớn tôi có mặt cùng anh. Những năm sau này gia đình anh chuyển sang ở Khu Đô thị mới Việt Hưng bên kia sông Hồng, vợ chồng tôi đã mấy lần sang thăm, ngồi chơi nói chuyện với anh chị như là những người bạn cũ. Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 11 – Vĩ đại và man rợ

CAMBO 1979Cheng Huor và đền Angkor, đền Ta Prohm là biểu tượng cho một nước Campuchia tài hoa, trầm mặc và vĩ đại.

Nhưng chiến tranh đã để lại trên xứ sở huyền thoại này những em bé bụng õng, trần truồng, đen đủi, ngụp lặn trong ruộng nước để tìm những con cá nhỏ, con nhái bén, con còng còm cõi.

Tôi đã đi dọc những cánh đồng mênh mông ngự trị bởi những hoang tàn, nắng cháy và hiu quạnh. Những đứa trẻ lạc lõng kia như từ đất chui lên, cặm cụi tìm kiếm, rồi mất hút trong bùn lầy.

Những khu chợ xổm rách nát, xiêu đổ, may mắn sống sót cạnh một ngôi làng lạnh lẽo. Buổi sáng tôi và mấy anh bộ đội đi tìm một cái gì đó để ăn.

Chỉ gặp ruồi nhặng. Và ruồi nhặng.

Ruồi bu quanh những cái miệng nhỏ. Ruồi xếp hàng dày đặc trên những ống tre đen đủi đựng nước thốt nốt, bày trên sạp tre.

Tôi bước vào cái chợ xổm rách rưới ấy. Ruồi bay quanh, tiếng đập cánh vù vù, tiếng kêu ong óng. Và những con người đen đủi gầy gò vẫn ngồi bình thản giữa ruồi nhặng. Đó là những cô gái trẻ mười tám, hai mươi tuổi, không buồn không vui. Họ bán những cái gì đó lụn vụn, cong queo, khô đét trên những cái mẹt tre, trên những lá thốt nốt to bản. Tiếp tục đọc

LẠC ĐƯỜNG 10 – Cô “Múa Đẹp” của Kôngpông Thom

KONGPONG CHAM new

Lúc ấy tàn quân Pôl Pốt đã bắt đầu rút vào rừng. Mặt trận biên giới Tây Nam khá yên tĩnh.

Tiếng súng chỉ còn rải rác trên đường đi và trong các phom. Chúng tôi đến bến phà Kôngpông Chàm thì bị tắt đường. Xe nhà binh nối thành hàng dài trên con đường đất vàng cháy. Dòng sông ở tận dưới sâu và đang rất thản nhiên trước cảnh ồn ào trên bờ. Chiếc phà nhỏ cũng thản nhiên đậu dưới bến, không quan tâm gì đến lượng xe cơ giới trên bờ.

Rồi đột nhiên nó tà tà, xình xịch rời bến.

Một chiếc jeep từ đàng sau chợt vọt tới, nối theo là chiếc xe du lịch màu trắng. Những người lính Campuchia đứng trên chiếc jeep la lối gọi phà dừng lại nhưng chiếc phà vẫn tà tà xa bờ.

Một chàng lính K nóng máu phóng luôn một quả M79 xuống sông, cột nước bùng lên chỉ cách chiếc phà có vài mét. Nó sợ quá. Dừng lại. Rồi quay vào bờ.

Đó là cách “gọi đò” của quân đội bạn.

Chiếc jeep hộ tống chiếc xe du lịch màu trắng xuống phà. Còn chúng tôi, mãi đến xế chiều mới qua được phía bên kia bờ. Nhưng mới đi được chừng vài cây số thì lại gặp một chiếc xe con chở một ông lớn Campuchia nào đó từ một ngã rẽ phóng ra. Nó vượt qua mặt những xe bộ đội Việt Nam, tung bụi mù mịt. Nhưng chỉ chạy được có một đoạn thì gặp một trạm gác do bộ đội Việt Nam kiểm soát. Cái cổng làm bằng một cây tre thô sơ chưa kịp dở lên thì đã bị chiếc xe con lao thẳng vào, phá tan nát.

Mấy anh bộ đội gác cổng giận quá lên cò súng, chặn đầu xe lại. Bộ đội trên xe của tôi cũng nhào xuống đất, chạy đến tiếp ứng. Rất may là có một sĩ quan cấp tá của Việt Nam đến kịp, dàn xếp. Mọi người rút về vị trí nhưng chiếc xe con vẫn chưa chịu đi. Nó nấn ná một lúc rồi mới từ từ lăn bánh. Tiếp tục đọc