NGUYỄN ANH KHIÊM – Ký Ức Sơ Sài in ở Hoa Kỳ

KY UC SO SAIVề tác giả:  Nguyễn Anh Khiêm, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sàigòn, ban Việt Hán, niên khóa 1965-1969.
Ông đã dạy học tại các trường: Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá), Trung học Nhơn Trạch (Biên Hòa), Văn Lang, Trần Quốc Tuấn (Sàigòn), Trung học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm Sàigòn. Hiện nay, ông đang hưu trí tại Sàigòn. Tập tùy bút này đã đăng nhiều kỳ trên Blog Lề Trái, với bút hiệu là Nguyễn Khiêm.

Saturday, May 16, 2015 4:30:44 PM 

WESTMINSTER, California (NV) – Có lẽ do “sơ sài” nên ngay từ khi lật trang đầu tiên ra đọc “Làng Non Tiên, quê tôi, nằm ven con sông con chảy ra sông Vu Gia tạo thành ngã ba sông, có đò ba bến nơi làng Hà Tân…” tôi lại phải cố đọc tiếp, đọc thêm, đọc cho đến hết “Ký Ức Sơ Sài” của Nguyễn Anh Khiêm để xem mình có thể hiểu được vì sao cái “sơ sài” của ký ức lại cứ miên man qua hơn 350 trang giấy như thế.

Khi con người bước qua nhiều thăng trầm, chứng kiến nhiều đổi thay của cuộc đời sẽ dễ đưa đến những so sánh, những hoài niệm được đánh thức khi thực tế chạm phải, đụng vào, gợi nhớ những miền sâu thẳm. “Ký Ức Sơ Sài” của nhà giáo Nguyễn Anh Khiêm nằm trong sự va chạm đó, theo tôi.

Rồi từ làng quê này của những ngày thơ bé, lại dẫn đưa tác giả nhớ đến ông bác họ, người không chịu treo lên vách nhà câu “Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” với lý do “sự nghiệp của bác tệ quá, chỉ có mỗi tấm phênh rách, Bác Hồ sống ở đây chi cho cực khổ, Bác nên đi chỗ nhà giàu để ‘sống mãi’ khỏe hơn.” Hay khi “gió bấc nhiêm tím núi rừng, thổi lao xao trong buồi chiều u ám, nhìn bông lúa xác xơ cúi rạp trong giá lạnh, bác lẩm bẩm: “Gió kiểu này thì rồi ra chỉ còn Bác Hồ sống mãi thôi, ai cũng chết tiệt hết.”Ký ức của tác giả, người con của làng Non Tiên, Đại Lộc, Quảng Nam, bắt đầu từ chính quê hương mình, nơi có “dòng sông trong veo trườn ngoằn ngoèo dưới chân núi, ngồi trên đò ngang có thể nhìn thấy con tôm bơi lững lờ trong lòng cát trắng”, nơi “hình như là làng giàu nhất xứ nhờ thiên nhiên ưu đãi.”

Từ ông bác tâm đắc với chữ “sống mãi”, tác giả lại đẩy ký ức mình về thị xã Hội An, nơi có “những ngôi chùa Tàu diêm dúa, cửa nhà cũ kỹ mái ngói rêu phong, thấp lè tè, rệu rã như muốn đổ nhào trong cơn lụt sóng vỗ bập bềnh, nước ngập gần tới nóc phố dọc sông Hoài,” nơi có “mì bà Đợi xã Cẩm Châu loe hoe vài con tôm sông giã giập phảng phất mùi cua biển,” nơi có “món Cao Lầu đặc trưng nấu bằng thịt heo xá xíu ăn với cọng bánh giòn giòn cán từ bột mì ngâm nước tro nước vôi gì đó.” Tiếp tục đọc