ĐÀO HIẾU – Hư Trúc và con covid Vũ Hán

*

Trong bộ truyện kiếm hiệp “Thiên Long Bát Bộ” của nhà văn Kim Dung, có một loại ám khí cực kỳ tàn độc.

Đó là Sinh Tử Phù (生死符)  do Thiên Sơn Đồng Lão sáng chế.

Đây là loại ám khí, dùng nội lực biến nước thành băng, rồi cấy vào cơ thể đối thủ. Khi bị trúng “Sinh Tử Phù” thì cơ thể sẽ ngứa ngáy không thể chịu nổi, nạn nhân phải gãi đến rách da thịt, tóe máu tươi đầm đìa mà vẫn không hết ngứa. Sống không bằng chết.

Tuy tàn độc như vậy nhưng Sinh Tử Phù vẫn có thuốc giải. Và chỉ có đệ tử chân truyền là Hư Trúc mới làm được điều ấy.

Nhưng thuốc giải cũng chỉ có tác dụng trong vòng một năm.

Chính nhờ “Sinh Tử Phù” này mà Thiên Sơn Đồng Lão (tuy đã hơn trăm tuổi nhưng có ngoại hình như một bé gái tuổi 13) đã chi phối 36 động, 72 đảo.

Mỗi năm, khi thuốc giải hết hiệu lực thì người của bà ta sẽ đi phát thuốc giải mới, đi đến đâu cũng hách dịch, hành hạ nạn nhân, đòi hỏi đủ thứ.

Bọn “quần hùng” tuy căm phẫn cực độ nhưng không dám phản kháng vì sợ Sinh Tử Phù hành hạ.

*

Tiếp tục đọc

30 THÁNG 4 NĂM 1975 NHỮNG TRÍCH ĐOẠN RỜI

LTS: Đầu năm 2007 tôi được nhà xuất bản Trẻ phân công biên tập một tác phẩm của nhà văn Nguyễn Trần Thiết, đó là cuốn “Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng”. Sách gồm 2 tập dày tổng cộng gần 1000 trang với nhiều tư liệu đáng đọc.

Tuy nhiên với cái nhìn của một nhà văn miền Bắc, tác phẩm tất nhiên không tránh khỏi những đoạn mô tả có phần thiếu khách quan và chuẩn xác mặc dù nó được viết rất công phu. Tôi đã giúp anh điều chỉnh lại những phần ấy và tác phẩm tương đối hoàn chỉnh. Hình như không có cơ quan nhà nước nào phản đối việc xuất bản tác phẩm ấy nhưng chẳng hiểu sao tác phẩm vẫn không được in. Nghe đồn rằng Thành Đoàn TPHCM (cơ quan chủ quản của nxb Trẻ) không đồng ý. Kế đó tôi về hưu và không quan tâm đến nó nữa.

Nay nhân ngày 30 tháng 4 sắp đến, tôi giở ra đọc lại, thấy có mấy đoạn cũng thú vị, muốn giới thiệu cùng bạn đọc và nghĩ không cần xin phép tác giả vì tôi đã khổ sở trăm bề suốt gần một năm với cuốn bản thảo dày cộm này (mà không được trả công một xu!) chẳng lẽ bây giờ ông lại hẹp hòi không cho tôi đăng? Tuy vậy, nếu ông Nguyễn Trần Thiết phản đối thì tôi sẽ ngưng ngay. Tôi vốn làm biếng, không muốn xin phép ai.

ĐÀO HIẾU

NHỮNG DÒNG CHỮ THIẾP NGỦ TRONG THỜI GIAN

(lời tựa của Đào Hiếu)

Lịch sử thường quan tâm đến triều đại mở đầu và triều đại kết thúc.

Ở Trung Quốc người ta nói nhiều về Tần Thủy Hoàng và Phổ Nghi. Vua Bảo Đại của Việt Nam cũng làm tốn khá nhiều giấy mực, phim ảnh. Không có những phương tiện truyền thông, những tác phẩm nghệ thuật, có lẽ ít người biết đến họ. Những pho sử bị bỏ quên trong thư viện. Những trang sách khô, những dòng chữ mỏi mòn thiếp ngủ trong thời gian vô tình.

Và mất hút trong sự lãng quên của trần thế bận rộn.

Rồi có hôm nào đó, một cô bé đến, rụt rè mở trang sách. Những con chữ thức dậy sau một kỳ nghỉ đông dài. Tần Thủy Hoàng thức dậy, Phổ Nghi thức dậy, Bảo Đại thức dậy. Như những con gấu Bắc cực chuyển mình thoát ra khỏi hang, nô giỡn trong nắng sớm, phô diễn những nét đẹp huy hoàng của nó.

Sự tái sinh dễ dàng, mãnh liệt của lịch sử đem lại sức quyến rũ thần kỳ.

Và chúng ta bước vào thế giới tái sinh ấy như cô bé Alice  bước vào xứ sở thần tiên. Ta ngạc nhiên trước một Phổ Nghi nho nhã, đeo kính trắng, ngồi chơi piano trong tử cấm thành. Ta ngỡ ngàng trước hình ảnh ông hoàng Bảo Đại ngồi ôm đàn ghita trong một khách sạn tồi tàn ở Hongkong, đắm mình trong những giai điệu của Tarrega, Fernando Sor… Và có lẽ chẳng mấy ai ngờ bạo chúa Tần Thủy Hoàng lại kết thúc đời mình bằng một cái chết “dọc đường” sình thối, mục rữa…

Đó là những bất ngờ của lịch sử. Nhưng lịch sử chỉ bất ngờ nếu ta đến với nó, đọc nó, hiểu nó và cảm thông với nó. Có hàng ngàn nhân vật lịch sử cần sự cảm thông như thế. Tất nhiên họ không van nài chúng ta mà chúng ta có trách nhiệm phải tìm hiểu, soi sáng và trả lại sự công bằng cho họ. Họ có thể là Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, Tôn Thất Thuyết, Duy Tân… hoặc gần đây nhất là Dương Văn Minh.

Phải đợi đến 30 năm sau, cuốn sách về ông mới được viết ra. Nhờ có những trang sách ấy, diện mạo của ông Tổng Thống cuối cùng sẽ bớt đi cái vẻ nhợt nhạt, thất thần. Nếu không, những phác thảo ảm đạm về ông, rải rác trên những bài báo, trên những trang tư liệu đóng băng trong các viện bảo tàng chiến tranh nào đó… sẽ vẫn cứ còn mãi như lời phán quyết lạnh lẽo.

Sau giải phóng, những lời đồn đại quanh Dương Văn Minh cứ lẩn quẩn như những vật nổi trôi lạc loài trong dòng xoáy của lịch sử, không bao giờ dừng lại, không bao giờ định hình… Và người ta vẫn cứ bảo nhau là “ông Minh có người em ruột là trung tướng Dương Văn Đức, cán bộ Việt Cộng nằm vùng, sợ bị lộ nên giả điên.”

Thực ra Dương Văn Đức lúc ấy là tư lệnh Quân đoàn 4, một nhân vật có thật trong cuốn sách này nhưng lại chẳng họ hàng gì với Dương Văn Minh. Sau khi cùng tướng Lâm Văn Phát âm mưu lật đổ Nguyễn Khánh bất thành, tướng Dương Văn Đức bị lột lon, đuổi về vườn. Ông ta hóa điên. Còn em ruột của Big Minh lại là một cán bộ Việt Cộng thứ thiệt của Trung ương Cục R. Người ta cũng đồn tướng Nguyễn Hữu Có là Việt Cộng nằm vùng, nhưng ông là ai, vai trò của ông như thế nào bên cạnh Tổng Thống Dương Văn Minh… đó cũng là những gì chúng ta cần đọc.

Cộng sự thân thiết của Dương Văn Minh còn có chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một ông tướng hiền lành, một người cẩn trọng và có lòng tin ở Cách Mạng đến mức vẫn mặc quân phục với quân hàm chuẩn tướng để tiếp bộ đội giải phóng tiến vào dinh Độc Lập. Cộng sự của Big Minh lúc ấy còn có tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, một nhà kinh tế giỏi có công lớn trong việc ngăn chặn Nguyễn Văn Thiệu đem 16 tấn vàng ra đi, còn có luật sư Triệu Quốc Mạnh với màn trình diễn tuyệt đẹp “giải tán toàn bộ Nha Cảnh Sát Đô Thành Sàigòn” mà không tốn một viên đạn.

Tất cả những con người có tâm huyết ấy đã dựa vào lệnh của Big Minh mà hành động. Với Nguyễn Hữu Hạnh, chỉ cần hai ngày ngắn ngủi được Big Minh bổ nhiệm làm phụ tá Tổng Tham Mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông đã sử dụng chiếc điện thoại như một lưỡi kiếm sắc. Ông điều động người này, chỉ huy người kia, dùng động tác giả, dùng kế điệu hổ ly sơn… để vô hiệu hóa các quân đoàn đang trấn giữ miền Đông và Tây Nam Bộ. Tất nhiên lúc bấy giờ tinh thần của quân đội Sàigòn đã suy sụp, nhưng sẽ không dễ gì tan rã nhanh nếu không có những tác động của tướng Hạnh (lúc bấy giờ đã là người của Mặt Trận Giải Phóng).

Còn tướng Minh? Ông không phải là người của Mặt Trận, cũng không thi hành chỉ thị nào của Mặt Trận nhưng ông có người em ruột là một cán bộ Việt Cộng từ R về và ở trong nhà ông. Hai anh em đã nhiều lần bàn bạc, tranh luận cùng nhau. Ông chưa bao giờ tỏ ra nghe lệnh em trai mình nhưng sau đó ông đã có những quyết định quan trọng về việc hủy bỏ Ấp Chiến Lược, về việc bố trí nhân sự trong chính phủ, trong quân đội…

Mặc dù có những khác biệt về chính kiến, nhưng ở vào thời điểm quan trọng của vận mệnh đất nước, Dương Văn Minh vẫn thể hiện mình là một người có tấm lòng và có trách nhiệm trước lịch sử. Ông không phải là vị hoàng đế cuối cùng như Bảo Đại, ông xuất thân là một sĩ quan cấp úy trong quân đội viễn chinh Pháp, theo ông Diệm, có công lớn trong việc dẹp Bình Xuyên và trở thành một tướng lãnh. Cuối cùng lịch sử đun đẩy ông lên ghế Tổng Thống, một ông Tổng Thống chỉ nắm trong tay dăm ba viên tướng “không quân,” khoảng một chục ông bộ trưởng thuộc loại ministre sans portefeuille(*) hiểu theo nghĩa châm biếm của cụm từ này. Tuy nhiên với chừng ấy quyền hành, chừng ấy binh tướng, Big Minh đã làm được những điều đáng làm.

Những quyết định của ông trong tình thế dầu sôi lửa bỏng ấy thực sự đã cứu những người lính Sài Gòn, những người Việt Nam vô tội khỏi một cuộc kháng cự vô vọng, vô nghĩa và đẫm máu.

Không có những trang sách này nhiều người sẽ không thể ngờ rằng giữa lúc quân đội Sàigòn tan tác, giữa lúc người Mỹ tháo chạy ra biển thì chiều ngày 28 tháng 4 Nguyễn Cao Kỳ và Cao Văn Viên còn âm mưu chuẩn bị đảo chính. Và họ đã cử linh mục Trần Hữu Thanh đến gặp Dương Văn Minh đòi nắm bộ Quốc phòng, bộ Nội vụ, bộ Tài chính và bộ Kinh tế. Điều đó chứng tỏ những thế lực hiếu chiến ở Sàigòn lúc ấy vẫn còn muốn kháng cự. Chính Kỳ là nhân vật chủ trương ném hai loại bom có sức tàn phá lớn là Daisy Cutter và CBU 55 xuống Xuân Lộc và cho máy bay phá hủy hệ thống cầu dẫn vào Sàigòn. Với cương vị Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng, Nguyễn Hữu Hạnh đã ngăn chặn âm mưu phá cầu bằng một lệnh ngắn gọn: “Quân ta còn cơ động, chưa được phép phá cầu. Nếu phá cầu chúng ta sẽ gặp khó khăn lúc phản công.”

Lúc ấy, ít ai ngờ rằng Sài Gòn, ngoài số quân cơ hữu cố định, còn có 400.000 quân rã ngũ từ các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đổ về. Đó là một lực lượng hỗn loạn nhưng nếu chính quyền Sàigòn lúc ấy ngoan cố tập họp họ lại, trao vũ khí cho họ, trao lương thực tiền bạc và những lời hứa hẹn cho họ thì đó cũng là một hiểm họa không thể lường trước được.

Chưa hết, ngay phút cuối cùng của cuộc chiến, vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Big Minh vừa duyệt xong văn bản “Bàn giao chính quyền” thì có một người Pháp xuất hiện tại dinh Độc Lập. Đó là tướng Vanuxem. Ông ta nói: “Tôi đã thu xếp xong ở Paris. Ở đó tôi đã gặp nhiều nhân vật kể cả đại sứ Trung Quốc. Đề nghị ông tuyên bố bỏ Mỹ để đi với Trung Quốc.” Lời đề nghị khiếm nhã ấy đã bị Tổng Thống Dương Văn Minh từ chối. Viên tướng cò mồi bỏ đi. Big Minh thở dài nói với mọi người: “Mình đã lỡ theo Mỹ rồi. Giờ họ lại xúi mình bán nước cho người khác!”. Đó là một lời than buồn nhưng đáng quý biết bao!

Nhân vật quan trọng cuối cùng của cuốn sách này chính là tác giả Nguyễn Trần Thiết. Nhờ ông, độc giả mới có cơ hội tiếp xúc với những thông tin từ các tài liệu mật quốc gia mà ông đã được phép đọc. Những thông tin từ các cuộc phỏng vấn các nhân vật chóp bu của chính quyền Sàigon cũng như các chỉ huy quân sự cao cấp trong chiến dịch Hồ Chí Minh cũng đem lại cho chúng ta những bất ngờ thú vị. Không có ông, ta không thể biết hết những diễn tiến phức tạp, chòng chéo trong một giai đoạn lịch sử độc đáo ngàn năm có một… Ông là nhà đạo diễn quán xuyến mọi ngóc ngách của vở kịch lịch sử hoành tráng, hiểu thấu từng nhân vật, từng tình huống vinh quang lẫn ngậm ngùi…

Tất nhiên tác phẩm này có sự đóng góp của nhiều người nhưng sức mạnh sáng tạo bền bỉ suốt hai mươi năm của một nhà văn thật đáng trân trọng.

ĐÀO HIẾU

(KỲ SAU TIẾP)