Nguyễn Trần Sâm – LOUIS XVII

louis_charles_of_france6Số phận Louis XVII rất đặc biệt ở hai góc độ. Thứ nhất, vì đây là một trong những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử – hơn 800 cuốn sách, hàng ngàn bài báo và hàng chục bộ phim đã được dành cho cậu. Thứ hai, vì không có gì làm xúc động trái tim hơn số phận một đứa trẻ bất hạnh, nạn nhân của hoàn cảnh không phải do nó gây ra.

Là con thứ của Louis XVI và Marie-Antoinette, Louis Charles sinh ngày 27 tháng 3 năm 1785 trong vàng son của Versailles. Cậu được ban phước bởi đức hồng y de Rohan, vị giáo chủ đáng kính nhất của nước Pháp. Cha đỡ đầu của cậu là bá tước xứ Provence, sau này là Louis XVIII, và mẹ đỡ đầu là nữ quận công Marie-Caroline xứ Napoli, dì của cậu. Nhưng, như truyền thuyết kể lại, bên cạnh những nàng tiên xinh đẹp, thiếu phụ tội nghiệp bị lu mờ. Một nhân chứng từng ký xác nhận việc đăng ký ở giáo phận là Louis Philippe, quận công xứ Orléans, anh em họ của Louis XVI, người sau đó mấy năm đã lấy tên Philippe Bình Đẳng và bỏ phiếu đòi xử tử vua.

Louis Charles trải qua tuổi ấu thơ ở Versailles với người vú nuôi Agathe de Rambaud. Đó là đứa bé dễ bị tổn thương. Vị thái y chăm sóc cậu kể lại: “Cậu bé có thần kinh rất nhạy cảm, chỉ cần tiếng động nhỏ cũng làm cậu sợ. Để có lợi cho sức khỏe, cậu cần ở nơi thoáng khí.” Nhưng điều đó không cản nổi việc cậu sống lâu hơn anh trai Louis Joseph Xavier, người qua đời ngày 4 tháng 6 năm 1789 tại Meudon do bị lao xương. Đúng ra thì Louis Charles không sinh ra để trị vì, nhưng đã phải trở thành thái tử khi mới 4 tuổi. Thật không may cho cậu.

Một loạt sự kiện dồn dập xảy ra. Hơn một tháng sau là vụ đánh chiếm pháo đài Bastille. Ba tháng sau nữa, ngày 5 tháng 10 năm 1789, là cuộc tấn công dữ dội lâu đài Versailles. Cậu bé kháu khỉnh được đưa về Paris với những người còn sống sót thuộc hoàng gia. Cậu bé khóc ròng vì sợ hãi, vì đói và mệt. Rồi cậu được đưa đến Tuileries. Tại đó có vẻ mọi thứ đều ổn. Cậu còn quá nhỏ để hiểu cái gì đang diễn ra, vì sao mình được quyền sống vô tư. Trong vòng 2 năm, cậu sống một cuộc sống bình thường của một thái tử nhỏ tuổi. Cậu chơi đùa trong những khu vườn mênh mông của cung điện, chạy trên những con đường, ôm thỏ đi chơi. Có lần cậu bị một con thỏ cắn vào môi, để lại một vết sẹo đặc trưng.

Không khí ở Paris đối với cậu có vẻ ổn. Mọi người mà cậu gặp đều khen cậu “đẹp, duyên dáng, tác phong vui vẻ và lôi cuốn”. Nhưng bối cảnh chính trị bất ổn sắp lan đến nơi. Hoàng gia quyết định bỏ trốn. Đêm 20 rạng 21 tháng 6 năm 1791, cậu bé bị người hầu phòng đánh thức và được mặc giả gái. Sau một chuyến đi dài trong xe hòm, họ bị bắt tại Varennes và bị đưa trở lại Paris, ở đó 4 ngày dưới trời nóng nung, giữa đám người tìm cách làm nhục mẹ cậu, gọi bà là “con mẹ người Áo”.

Trì hoãn một năm, cuối cùng người ta cũng có hành động với thái tử, khi đó đã lên 7. Ngày 20 tháng 6 năm 1792, Tuileries bị chiếm và những lính Thụy Sỹ gác lâu đài bị giết sạch. Thái tử bi bắt cùng cả hoàng gia và đến 13 tháng 8 thì bị đưa vào Temple. Tất cả bị nhốt trong một tòa tháp lớn. Ở tầng 1 có đội gác, tầng 2 là vua và người hầu Cléry, tầng 3 là Marie-Antoinette, chị gái vua là Élisabeth, chị gái thái tử Marie-Thérèse và chính thái tử.

Ngày 25 tháng 10, cậu được chuyển xuống phòng vua cha. Cậu nhanh chóng thích nghi. Nhà vua chịu đựng hoàn cảnh tốt hơn mẹ, cô và chị cậu, hay ít ra là cậu cảm thấy vậy. Louis XVI dạy cậu tập viết và môn địa lý, dạy cậu làm mấy món đồ bằng tay mà cậu rất yêu thích. Giữa tháng 11, Louis Charles ngã bệnh. Thầy thuốc chẩn đoán cậu bị viêm gan dạng nhẹ. Nhưng đến 11 tháng 12, cậu bé lại gặp sự xáo trộn: cậu được trao cho mẹ, vì vụ xét xử Louis XVI đã bắt đầu.

Ngày 20 tháng 1 năm 1793, nhà vua gặp gia đình để thông báo bị xử tử và nói lời vĩnh biệt. Cảnh ngộ đau lòng đã làm cậu bé bị sốc, nhưng sự việc xảy ra vào ngày hôm sau thì còn gây chấn động mạnh hơn. Từ phía xa, những loạt đại bác vang lên chào mừng sự ra đi của nhà vua. Cậu thấy mẹ làm một động tác rất khác thường: bà quỳ xuống và cúi đầu. Vì, từ nay, mặc dù cậu chưa nhận thức được hết, nhưng mọi thứ đã thay đổi đối với cậu. Với những người ủng hộ, những người Vendée đang chuẩn bị cầm vũ khí, những kẻ lưu vong và những thế lực ngoại bang, cậu là Louis XVII, vua nước Pháp. Đối với những nhà cách mạng thì ngược lại, cậu đã trở thành sự đe dọa, vì như Chaumette, công tố viên của Công Xã thì “Charles I của Anh Quốc đã chết trên đoạn đầu đài, nhưng con trai của hắn đã lên ngôi.”

Tuy nhiên, những sự kiện bi thảm có vẻ đã không tác động đến sức khỏe của Louis XVII. Cậu vẫn đẹp trai, với cặp mắt xanh, mái tóc sáng rủ trước trán và trùm kín gáy. Nhưng cậu có vóc người nhỏ, lên 8 tuổi vẫn cao chưa đầy 1 mét. Cậu vẫn ở với mẹ, chị và cô thêm 6 tháng. Điều kiện ở nơi giam giữ khá ổn. Tiện nghi không đến nỗi thiếu, có cả phòng tắm, đồ ăn đầy đủ, phòng treo quần áo tiện lợi. Cậu thường chơi tric-trac, domino và clavecin. Đến tháng 5, cậu bị sốt 3 tuần, nhưng vẫn khỏe và chỉnh chu. Sang xuân, mẹ cậu đã liên lạc thành công với bên ngoài và lên kế hoạch tẩu thoát.

Tuy nhiên, âm mưu đã bại lộ và chính quyền đã có biện pháp. Ngày 3 tháng 7 năm 1793, vào lúc 10 giờ đêm, giám ngục vào phòng giam và đưa cậu đi. Từ đó, cậu bị giao cho một cặp đôi trông coi, gồm Antoine Simon, thợ giày, và vợ ông ta là Marie-Jeanne, ở trong nhà họ, sát Temple, dưới chân tòa tháp lớn.

Simon tiến hành, như ông ta nói, “cải biến đứa con trai Capet thành một người cách mạng chân chính”. Ông ta dạy cậu các bài La Marseilles, Ça ira, La Carmagnole và bắt cậu hát dưới cửa sổ phòng mẹ cậu. Ông ta bắt cậu uống rượu đến khi say gần chết. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, Louis Charles trở nên đặc biệt nghiêm nghị, nhưng vẫn mang dáng vẻ trẻ thơ. Ngày 7 tháng 7 năm 1793, khi có 4 cai ngục đến thăm, cậu đã hỏi:

“Luật nào cho phép tách con khỏi mẹ?”

Rồi cậu trở lại chơi với mấy con bồ câu, gà và mấy bông hoa.

Hébert, một người của Công Xã, làm cậu sợ. Ông ta cho cậu xem phòng của mẹ, cô và chị rồi quát lên:

“Thế nào? Chẳng phải mấy con đĩ chết rấp đã bị chém chết hết rồi sao?”

Ít lâu sau, khi chuẩn bị mở phiên tòa xử Marie-Antoinette, người ta bắt cậu ký vào một tờ khai, theo đó cậu đã có “những hành vi xấu, có hại cho sức khỏe, thể hiện những thói quen có hại do mẹ và cô truyền cho”. Vẫn theo tờ khai mà cậu đã ký đó, hoặc do không hiểu hết, hoặc do bị khủng bố tinh thần, mẹ cậu đã có lần lạm dụng tình dục với cậu.

Tháng 12 năm 1793, cậu đã có giai đoạn bị lở loét, “có lẽ do chấy rận gây ra”, nhưng cậu tin là do bị rét, do rượu và những đau đớn tinh thần mang lại. Nhưng đây vẫn chưa phải điều tồi tệ nhất. Do tình hình xấu đi vì nội chiến ở Vendée và chiến tranh với nước khác, chính quyền sợ rằng những người bảo hoàng sẽ nổi dậy nên đã tiến hành những biện pháp quyết liệt. Ngày 19 tháng 1 năm 1794, cậu bị đưa khỏi nhà Simon. 8 viên cai ngục đến gặp cậu, ghi nhận cậu vẫn khỏe, và miễn tội cho vợ chồng Simon. Đối với cậu, đây là sự bắt đầu của địa ngục.

***

Người ta biệt giam Louis Charles bằng cách làm hàng rào và khóa lại. Mọi thứ làm cậu bị tách hẳn khỏi thế giới bên ngoài. Cậu bị giam trong một phòng nhỏ và không lần nào ra khỏi đó. Người mang đồ ăn đưa nó vào qua một khe hẹp. Không ai đến thăm và nói chuyện với cậu. Cậu không có nước để tắm rửa và thiếu cả không khí. Những nhu cầu tự nhiên của cậu không được thỏa mãn. Người cậu lở loét và bốc mùi hôi thối. Cậu sống giữa đám rận rệp. Cứ thế kéo dài 6 tháng liền, cho đến khi Robespierre bị lật đổ ngày 9 tháng Nóng (27 tháng 7 năm 1794).

Sau ngày đó, Barras, nhà chức trách mới, đến thăm cậu. Ông ta thấy cậu “mắt mở to và hốt hoảng, mặc một chiếc gilet và một quần bằng vải ga màu xám, bó sát hai đầu gối sưng phồng”. Sắc mặt cậu tím tái, cậu ăn không thấy ngon, ngủ chập chờn. Barras chỉ định một viên cai ngục mới, Laurent, một người Pháp sinh ở thuộc địa. Người này dùng các biện pháp nhẹ tay hơn: ông ta sai quét dọn phòng giam, cho phép Louis XVII đi dạo trong vườn và tự do đến thăm chị gái, nhưng Ủy Ban An Ninh Toàn Quốc chống lại quyết định cuối cùng này, yêu cầu con cái hoàng gia không được gặp nhau.

Tháng 1 năm 1795, tình trạng của cậu bé trở nên trầm trọng. Một nhân chứng kể lại: “Người khòm trong tư thế ngồi xổm, quần kéo xếch lên, một khối u ở đầu gối và một ở cánh tay, cổ lở loét, toàn thân trong trạng thái không thể mặc lại áo quần.” Cậu luôn miệng nói:

“Tôi muốn chết.”

Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1795, 222 quan chức giám sát đã đến Temple. Họ thấy một đứa trẻ “với nước da xám xịt, dáng vẻ mệt nhọc, còi cọc, tay chân dài và khẳng khiu, nửa thân trên quá ngắn, hai vai nhô cao và méo mó, khoác áo bằng vải ga màu đen, đội mũ bonnet bằng bông màu trắng che mái tóc sáng màu.”

Đầu tháng 5, sức khỏe của Louis XVII xấu đi trầm trọng. Bác sỹ Desault được mời đến. Ông phát hiện ra, do quá hoảng sợ, “một cậu bé ngây dại, đang hấp hối, nạn nhân của sự hành hạ tệ hại nhất, ngu xuẩn nhất bởi những hành vi của những kẻ độc ác nhất”. Ông yêu cầu thông khí căn phòng, việc làm có ít nhiều tác dụng, nhưng đã quá muộn.

Ngày 7 tháng 6 năm 1795, tình trạng của cậu bé càng trầm trọng hơn. Cậu bị đau bụng và nôn liên tục. Ngày 8 tháng 6, các thầy thuốc đã xác định “mạch trầm, bụng chướng và đau”. Tình hình mỗi lúc một xấu thêm. Đầu chiều, mồ hôi lạnh vã ra. Cậu ra dấu cho người gác Gomin là “có một nhu cầu đang hành hạ cậu”. Và cậu đã chết khi ông này bế cậu lên.

Sự hành hạ mà đứa trẻ ở Temple phải chịu đựng là như vậy, cho đến tận khi cậu chết ở tuổi lên 10, sau 3 năm bị giam cầm. Ngày 9 tháng 6, lúc 14 giờ, một phái viên của Ủy Ban An Ninh Toàn Quốc tuyên cáo trong Công Ước về “cái chết của con trai Capet vào ngày 20 tháng Đồng Cỏ”. Cùng lúc, 4 thầy thuốc đã mổ “cái thi hài mà người ta bảo là của đứa bé đã chết Louis Charles Capet”. Họ đã tìm thấy “u tràng nhạc đã có từ lâu và là nguyên nhân gây ra cái chết”. Trên thực tế thì cậu chết do bị lở loét toàn thân.

Về sau, chúng ta còn được biết rằng trong khi phẫu thuật tử thi, một trong các vị pháp y, bác sỹ Philippe-Jean Pelletan, đã cắt quả tim cậu bé và mang đi, trong khi một nhân vật khác có mặt ở đó, giám quan Damon, thì cắt một lọn tóc. Hai hành động đó được thực hiện lén lút và do ý đồ cá nhân.  

Nhưng đứa trẻ được giải phẫu có đúng là Louis XVII không? Ít nhất thì người ta cũng có thể nói là sự ngờ vực vẫn tồn tại. Hoàn cảnh chết của cậu không rõ ràng, và ở nước ngoài cũng có dư luận như vậy. Bộ trưởng ngoại giao Áo tuyên bố: “Thực sự không có chứng cứ xác thực nào về cái chết của con trai của Louis XVI.” Còn người Nga thì cho rằng chưa có nước nào công nhận bá tước xứ Provence, con út của vua, là kẻ nối ngôi với tên hiệu Louis XVIII. Đối với các chính quyền châu Âu, nếu không chứng minh được điều ngược lại thì vua nước Pháp vẫn luôn là Louis XVII.

Hai ngày sau, một đạo dụ của Ủy Ban Anh Ninh Toàn Quốc đã yêu cầu “dành mộ phần cho Louis Capet”. Tuyên cáo về cái chết của cậu nhắc đến “Louis Charles Capet, con trai Louis Capet, vua cuối cùng của người Pháp, và của Marie-Antoinette người Áo.” Cậu được chôn cất vào lúc 9 giờ tối tại nghĩa địa Sainte-Marguerite. Người ta không bao giờ tìm thấy mộ cậu, và rõ ràng xác cậu được đưa vào huyệt tập thể. Đến thế kỷ XIX, người ta định chuộc lại hài cốt của cậu và làm lễ tưởng niệm, nhưng lại tìm thấy quá nhiều bộ xương, trong đó có một hộp sọ của người mới trưởng thành, ít nhất 18 tuổi.

***

Cuộc đời cậu bé ở Temple, với những người bảo hoàng là Louis XVII, đã kết thúc, song bí ẩn lại bắt đầu. Nó kéo dài suốt hai thế kỷ và mang tầm vóc đặc biệt. Có 4 giả thuyết:

Một: Câu chuyện kể trên là hoàn toàn thật, Louis XVII đã chết ở Temple ngày 8 tháng 6 năm 1795.

Hai: Louis XVII đúng là đã chết ở Temple, nhưng sớm hơn, vào đầu tháng 1 năm 1794, trước khi thay vợ chồng Simon.

Ba: Louis XVII đã trốn thoát, sau đó là một đứa trẻ giả danh được đưa ra trình trước công chúng.

Bốn: Louis XVII đã trốn thoát, nhưng không ai gặp cậu, sau đó cậu sống và chết như kẻ vô danh.

Năm 1800, từ “trốn thoát” lần đầu tiên được nói đến nhân sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết thành công Nghĩa Địa Madeleine. Diễn biến câu chuyện như sau: Louis Charles sẽ bỏ đi trong một chiếc xe thùng và người ta dẫn đến chỗ cậu một kỵ sỹ ngựa gỗ, một bé trai còi cọc bị tràng nhạc mà ít lâu sau thì chết. Việc thay thế diễn ra tại nhà Simon ngày 19 tháng 1 năm 1794.  

Trên thực tế, mọi người đều đồng ý ở một điểm: Khi vợ chồng Simon trông coi đứa trẻ thì đó đúng là Louis XVII. Cậu bé hành xử đúng như một đứa trẻ được nhận sự giáo dục của một hoàng tử (“Không ai có quyền tách con khỏi mẹ”). Khi viên cai ngục bắt đứa trẻ hát các bài ca cách mạng dưới cửa sổ nhà giam , đó cũng chính là giọng mà mẹ, cô và chị cậu nhận ra.

Nhưng sau đó, kể từ khi cậu bị biệt giam, không ai còn liên lạc được với cậu. Như Alain Decaux đã viết thì: “Để nhốt đứa trẻ một mình, cần phải có một cái cớ, và cớ đó là cần dẹp bỏ đứa trẻ. Đó là sự bắt đầu của điều bí ẩn.” Bắt đầu từ thời điểm đó, người ta chỉ còn thấy một đứa trẻ ngây dại và suy kiệt, hoàn toàn khác trước, thậm chí mái tóc sáng rất đẹp còn bị che bởi chiếc mũ bonnet. Như vậy, cậu đã bị thay bằng một đứa trẻ ốm yếu sắp chết.

Xin lưu ý rằng rất nhiều sử gia đã dùng những chi tiết này để khẳng định không chỉ việc thái tử đã trốn thoát, mà cả việc về sau cậu chết vào một ngày được công nhận chính thức. (Giả thuyết thứ hai đã nêu trên.) Đặc biệt, George Bordonove, còn phát triển đề tài này trong tác phẩm “Louis XVII và bí ẩn của Temple” của ông, trong đó nói cái chết của đứa trẻ đã xảy ra trong khoảng từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 1 năm 1794 đã dẫn đến việc sa thải Simon và thay thế cậu bằng đứa trẻ mà sau đó chết vào ngày 8 tháng 6 năm 1795.

Đây là giả thuyết được nhiều người ủng hộ nhất. Sự hoảng sợ của chính quyền trong chuyện này không phải là bịa đặt. Đã xác định được rằng có rất nhiều nhân vật muốn loại bỏ Louis XVII, cả trong số những người cộng hòa (Barras) cũng như trong số những nhân vật bảo hoàng (quý bà Atkins, bá tước de Puisaye). Ngoài ra, Marie-Jeanne, góa phụ của Simon, kẻ bị chém cùng với Robespierre, khẳng định vào năm 1805 rằng tù nhân nhỏ tuổi đã trốn thoát. Nhưng bà này đã phải nhập viện vì bị điên tại trại nhốt những người không thể chữa khỏi. Sau một thời gian bị thẩm vấn nhiều lần, bà ta chết vào năm 1819 mà chưa chứng minh được điều đã khai ra.

Trong thời kỳ Cách Mạng và giai đoạn Đế Chế, chủ đề này bị cấm nói đến. Khẳng định chính thức là thái tử đã chết ngày 8 tháng 6 năm 1795, và không có câu hỏi nào cần đặt ra. Nhưng đến giai đoạn Phục Hoàng (Restauration, xin không dịch là “Phục Hưng” để tránh nhầm lẫn với thời kỳ Renaissance ở châu Âu sau thời Trung Cổ) – NTS) thì không còn như vậy. Một trong những ưu tiên của chính quyền bảo hoàng mới là tìm hiểu xem cái gì đã thực sự xảy ra. Cuộc điều tra đầu tiên được quyết định vào tháng 1 năm 1815. Bị ngắt quãng bởi giai đoạn Trăm Ngày, nó được tái lập vào tháng 3 năm 1816. Ưu tiên số một là tìm xác Louis XVII để kết thúc vụ việc. Nhưng những tìm kiếm công phu ở nghĩa địa Sainte-Marguerite đã không mang lại kết quả nào. Bí ẩn càng tăng thêm. Thái độ của chính quyền và hoàng tộc cũng gây ngạc nhiên. Theo sắc lệnh của Louis XVIII, ngày hành quyết Louis XVI và Marie-Antoinette là ngày quốc tang, nhưng không phải ngày 8 tháng 6. Liệu điều đó có nói lên rằng nhà vua và chính quyền của ngài không tin vào cái chết của Louis XVII?

Trong khi chờ đợi, cuộc điều tra vẫn tiếp tục, và một trong những dấu vết dẫn ra khỏi lãnh thổ nước Pháp, tới Mỹ. Barras khi bị thẩm vấn đã khai rằng ông ta đã tiến hành thay thế Louis XVII bởi một đứa trẻ sắp chết vào ngày 25 tháng 8 năm 1794, với sự tòng phạm của cai ngục Laurent. Sau đó, Laurent đã mang Louis XVII về nhà mình ở Haiti. Tại đó, cậu bé được trao cho một bà ở Port-au-Prince là Roland de la Toste. Tại nhà bà này, cậu bé sống đến ngày 17 tháng 9 năm 1803, ngày chết của cậu, trong cuộc nổi dậy của người da đen trong thành phố.

Vẫn theo phương án này thì thi hài Louis XVII được chôn cất ngày hôm sau tại nghĩa địa của desi Marisques, dưới một tảng đá khắc tên Louis Charles và ngày sinh, ngày mất. Đáng tiếc là mọi khảo cứu về chủ đề này đều mang tính phủ định. Không có dấu hiệu nào về cái chết, cũng không có gì chứng tỏ đã có một bà Rolland de la Toste. Hơn nữa, nghĩa địa des Marisques chẳng biết ở đâu, và cũng chẳng có cuộc nổi dậy nào của người da đen vào ngày 17 tháng 9 năm 1803.

***

Như vậy là cần lần theo những dấu vết khác, đó là những kẻ tự xưng là Louis XVII, mà loại này đâu có ít. Năm 1796 đã có 2 kẻ tự xưng và sau đó có cả trăm.

Tất cả đều viết thư cho chị gái của tù nhân nhỏ tuổi, Marie-Thérèse, bảo cô công bố cái tin đó và đòi quyền lợi. Cô này có vẻ có nhiều cơ hội. 6 tháng sau cái chết của em trai, vào ngày 19 tháng 12 năm 1795, ngày cô 16 tuổi, cô rời Temple để đến Áo để thế thân cho các tù nhân Pháp. Sau đó, “bé gái mồ côi của Temple” đã kết hôn với người anh em họ Louis, quận công xứ Angoulême và sống cuộc đời vàng son của một quận chúa. Cần nói rằng cô tin rằng em trai đã chết và từ chối tiếp xúc với những kẻ tự xưng.

Người đầu tiên xuất hiện vào tháng 9 năm 1796, hơn 1 năm sau khi có công bố của chính quyền về cái chết của Louis XVII là Jean-Marie Hervagault. Khi bị bắt vì lang thang trong vùng Cherbourg, người này là con trai hợp pháp của Jean-François Hervagault và Jeanne Bigot, thợ làm ren ở Versailles, nhưng thực ra anh ta là con thật của công tước Valentinois, người từng quyến rũ Jeanne Bigot nhưng lại gán bà ta cho Hervagault. Anh ta khẳng định mình là Louis XVII và đã làm nhiều người tin. Anh ta chết năm 1818 trong nhà tù Bicêtre và đến chết vẫn giữ nguyên điều khẳng định.

Mathurin Bruneau đã làm cho Fouché, tổng trưởng cảnh sát, người ít nhiều tin câu chuyện của ông ta, quan tâm đặc biệt. Anh ta bị bắt, cũng vị tội lang thang, vào tháng 12 năm 1815 khi mang hộ chiếu Mỹ với tên Charles de Navarre, nhưng sau đó thì người ta biết anh ta là Mathurin Bruneau, con trai của người thợ làm guốc, sinh năm 1874 tại Vezins. Điều này không ngăn được anh ta có rất nhiều người ủng hộ trong giới quý tộc. Anh ta chết trong nhà tù Mont-Saint-Michel ngày 26 tháng 4 năm 1822.

Claude Perrin bị bắt năm 1820 ở Modène, dưới cái tên Bourbon, và khi đó bắt đầu nhận là Louis Charles của nước Pháp. Anh ta được thả rồi lại bị bắt vào năm 1833 và bị giam tại Sainte-Pélagie. Anh ta khai đã chạy khỏi Temple khi trốn trong sọt quần áo. Được nhiều tờ báo và hàng trăm nhân vật cao cấp ủng hộ, anh ta được chính Giáo Hoàng mời đến thăm sau khi được thả. Anh ta chết ở Gleizé tại nhà một người che chở, nữ bá tước xứ Apchier.

Không cần phải kể ra hết những kẻ tự xưng. Đã đến lúc cần quan tâm đến nhân vật chính trong số họ. Karl Wilhelm Naundorff, sinh năm 1785, lần đầu tiên nói về vấn đề này tại Pháp trong một bài viết trên tạp chí Constitionnel tháng 8 năm 1831: “Con trai của Louis XVI, Louis Charles của nước Pháp, đang sống ở Crossen gần Frankfurt an der Oder. Anh ấy đã viết về cuộc đời và những nỗi thống khổ mà ông đã trải qua.”

Như có thể hình dung, tuyên bố này cũng gây ra nhiều sự tò mò, nhưng phải hai năm sau người được quan tâm mới tới Paris. Mặc dù nói tiếng Pháp kém, lại pha giọng Đức, ông ta ngay lập tức được tiếp nhận một cách nghiêm túc, do gặp rất nhiều nhân chứng, trong đó có những người nhận ra ông ta.

Trước hết là Agathe de Rambaud, bảo mẫu của Louis XVII. Bà này đã ra nước ngoài năm 1792. Bà trở về trong giai đoạn Phục Hoàng và sống bằng lương hưu mà nhà nước cấp cho. Bà gặp Naundorff ngày 17 tháng 8 năm 1833. Tất nhiên bà là nhân vật còn sống biết rõ nhất về Louis Charles khi còn nhỏ, vì bà đã ở bên cậu suốt thời thơ ấu, cả ở Versailles lẫn Tuileries. Trước khi cậu bị giam tại Temple, bà đã không lúc nào rời xa cậu. Khi phát hiện ra Naundorff, bà nhận ra ông ta có cái sẹo giống như cậu bé có sau khi bị thỏ cắn. Bà yêu cầu được xem cánh tay trái ông ta và thấy, giống như thái tử, ông ta cũng có những dấu vết hình tam giác của việc chủng đậu mà người ta làm cho cậu lúc 2 tuổi rưỡi.

Câu chuyện được sự quan tâm. Agathe de Rambaud bị ấn tượng khi thấy người nói chuyện với bà biết nhiều chi tiết về cuộc sống cung đình. Nhưng bà nghĩ đến một phép thử. Bà mang theo một chiếc áo xanh từng được thái tử mặc. Bà lấy ra và đưa cho Naundorff xem.

“Có lẽ cậu nhớ cậu đã được đưa đến Tuileries trong tình huống nào?”

Naundorff nhìn mấy giây rồi gật đầu.

“Ô, tôi nhận ra chứ. Nhưng cái này không phải ở Tuileries, mà ở Versailles, trong một lễ hội. Và tôi không mặc thêm, vì không thích nó.”

Đó đúng là sự thật! Nghe những lời đó, bà Rambaud bật khóc nức nở, quỳ xuống và kêu lên:

“Chỉ có thái tử của tôi mới nói thế!”

Kết quả cuộc gặp này đã gây chấn động, và vì cho đến khi đó những vị được coi là Louis XVII chỉ gây nghi ngờ nên Karl Wilhem Naundorff ngay từ hôm sau đã trở thành đối tượng được mọi người quan tâm. Đồng thời, ngoài bà de Rambaud còn có 52 nhân chứng biết rõ Louis XVII khi còn nhỏ đã thừa nhận nhân vật người Đức chính là cậu bé, trong số đó có Jean-Baptiste Brémond, thư ký đặc biệt của Louis XVI, người thân cận của hoàng gia.

Phấn khởi vì những kết quả trên, Naundorff xin gặp nữ quận công xứ Angoulême tức chị gái của thái tử, hiện đang sống ở Áo. Chị ta từ chối gặp, nhưng chấp nhận tiếp sứ giả, tuy nhiên chỉ để tuyên bố “không tin tí nào vào câu chuyện”.

Karl Wilhelm Naundorff không nản chí. Ông cho công bố chi tiết về cuộc đào tẩu của mình. Đó là do Laurent, người gác ngục từ tháng 7 năm 1794 đến cuối tháng 5 năm 1795. Ông này đã hành động cùng Barras. Một đứa trẻ ốm yếu được thế vào chỗ tù nhân trong khi cậu được giấu một thời gian ngay trong hầm kín ở Temple trước khi có thể ra khỏi đó vào ngày 3 tháng 3 năm 1795.

Câu chuyện này tuy không mới nhưng có vẻ đúng và được nhiều người tin. Riêng nữ quận công xứ Angoulême thì càng tỏ ra không tin. Naundorff nổi giận. Tháng 6 năm 1836, ông gửi cho chị gái những giấy tờ liên quan đến quyền thừa kế từ cha. Nhưng ông đã hành động sai. Chính quyền đã không ủng hộ việc này, thậm chí lập tức trục xuất ông. Naundorff đành tị nạn ở Anh Quốc.

Tại Anh, Naundorff công bố hồi ký với tên gọi Câu Chuyện Về Những Bất Hạnh Của Thái Tử Con Vua Louis XVI. Nhưng, để tăng giá trị cho cuốn hồi ký, ông đã chi tiêu khá nhiều và cuối cùng thì vào tù vì vỡ nợ. Hết hạn tù, ông lại bị trục xuất và phải sang Hà Lan. Sau đó ít lâu thì ông chết tại Delft vào ngày 10 tháng 8 năm 1845. Tuy nhiên, trước khi chết, ông đã được thỏa mãn vì thấy trực tiếp nhà vua Hà Lan công nhận những lời kể của ông. Viên tướng của nhà nước dân sự này đã chấp nhận nói đến việc này trong sắc dụ “Louis Charles de Bourbon, được biết dưới cái tên Karl Wilhelm Naundorff, sinh tại lâu đài Versailles nước Pháp ngày 17 tháng 3 năm 1785, qua đời tại Delft ngày 10 tháng 8 năm 1845”. Đồng thời, trên mộ chí, gia đình ông được phép viết: “Tại đây yên nghỉ Louis XVII, vua nước Pháp và xứ Navarre”.

Để giải thích thái độ đáng ngạc nhiên của chính quyền Hà Lan, cần lưu ý rằng nước này lúc đó đang có xung đột với Pháp về vấn đề nước Bỉ mới giành độc lập. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ XX hoàng gia mới thu xếp được ổn thỏa với sự thông báo miệng của quận công Henrik, chồng của nữ hoàng Wilhelmine, khi ông tuyên bố “cả triều đình và chính phủ Hà Lan đều chưa bao giờ thừa nhận những tài liệu của Karl Wilhelm Naundorff”.  

Kể từ khi ông qua đời, hậu duệ của ông đều mang họ Bourbon và có những người ủng hộ trên khắp thế giới. Một thế kỷ sau, khi Thế Chiến II lan rộng, họ đã có một thắng lợi tầm cỡ. Năm 1943, sử gia André Castelot đem đến chỗ bác sỹ Locard, giám đốc phòng thí nghiệm của cảnh sát Lyon, một lọn tóc của thái tử, vốn thuộc sở hữu của cha Ruiz, và một mớ tóc của Naundorff mà nam tước vùng Genièvre đưa cho. Kết quả phân tích thật ấn tượng: cả hai mẫu đều có cùng một mức lệch tâm kênh tủy (excentration du canal médulaire), một hiện tượng được giới chuyên môn ở Lyon coi là cực hiếm.

Nhưng mấy năm sau có một kết quả phân tích phản bác. Hậu duệ của Naundorff chấp nhận cho mở quan tài của ông, dưới sự chỉ đạo của bác sỹ Hulst, chuyên gia y học bên canh tòa án Hà Lan. Một món tóc thứ hai được lấy lên và gửi cho bác sỹ Locard để so với lọn tóc của thái tử. Ông trả kết quả ngày 4 tháng 5 năm 1951: món tóc này không có mức lệch tâm kênh tủy như trước. Nó không có cái chung cả với món tóc thứ nhất và lọn tóc của Louis XVII. Đây là sự phản bác nghiêm trọng đối với những người ủng hộ kẻ tự xưng người Đức.

Thất bại của Naundorff càng trầm trọng thêm khi xuất hiện các phương pháp khoa học hiện đại. Năm 1998, được sự cho phép của hậu duệ và theo sáng kiến của sử gia Hà Lan Hans Petrie, một mẫu ADN từ bộ xương của ông đã được so với tóc của Marie-Antoinette và những hậu duệ của bà theo đường mẫu hệ, hoàng hậu Anne của Romania và công tước André de Bourbon-Parme. Phép phân tích được thực hiện bởi các nhóm của giáo sư Jacques Cassiman thuộc đại học Louvain, Bỉ, và của tiến sỹ Olivier Pascal thuộc trung tâm y tế đại học Nantes. Kết quả không có gì hay ho: ADN không giống nhau, Karl Wilhelm Naundorff không phải Louis XVII.

Nhưng ngay cả khi trường hợp nghiêm túc nhất trong số những kẻ tự xưng đã bị bác bỏ thì vấn đề cũng chưa được giải quyết xong trọn vẹn. Bối cảnh cái chết của thái tử vẫn đáng ngờ, đặc biệt khi việc giam kín có thể tạo cơ hội cho những mánh khóe. Một sự tráo đổi có thể được thực hiện, và đứa trẻ có thể là một kẻ mạo nhận nào đó, hoặc hơn thế, thái tử có thể đã sống và chết ẩn danh. Dù kiểu gì thì vẫn còn một điểm nghi vấn.

***

Ít nhất thì kết luận cuối cùng mà người ta có thể nêu ra cho đến mãi gần đây là như vậy. Nhưng một chuyện đặc biệt đã thay đổi mọi thứ: chuyện về quả tim ở Saint-Denis.

Điều làm vụ việc trở nên khó hiểu chính là việc mất xác Louis XVII. Những lần đào bới trong nghĩa địa Sainte-Marguerite chẳng mang lại cái gì. Xác được đưa xuống huyệt chung, mà ở đó thì người ta chẳng tìm được gì.

Tuy nhiên cũng không phải tuyệt đối. Vì người ta đã mổ xác, và, như quý vị còn nhớ, đã có một động thái của bác sỹ Philippe-Jean Pelletan, người đã lấy đi quả tim của đứa trẻ. Sau đó, trong những năm 1990, nó được giữ trong nhà thờ lớn ở Saint-Denis, nơi mai táng các vị vua nước Pháp, và có một bình đựng tim của Louis XVII.

Năm 1998, Philippe Delorme, sử gia chuyên nghiên cứu về Louis XVII, đến tìm giáo sư Cassiman, người tiến hành so ADN giữa Naundorff và Marie-Antoinette cùng các hậu duệ của bà. Ông yêu cầu giáo sư làm lại việc so sánh với trái tim ở Saint-Denis. Giáo sư trả lời rằng có thể làm việc đó, nhưng ông chỉ làm nếu chứng minh được tính xác thực của di vật. Philippe Delorme đã phải thực hiện một hành trình lâu dài và công bố các kết quả trong cuốn sách Sự Thật về Louis XVII. Khi đó công chúng đã có thể biết được từ câu chuyện về quả tim ở Saint-Denis một thiên tiểu thuyết sống động về vụ việc Louis XVII…

Về nhà mình vào ngày 10 tháng 6 năm 1795, bác sỹ Pelletan đã bỏ quả tim vào một chiếc bình pha lê đựng ngâm rượu cồn và giấu giữa những cuốn sách trong phòng đọc. 10 năm sau, cồn được đun bay hơi, quả tim được làm khô, và vị bác sỹ đặt nó trong ngăn kéo ở văn phòng, giữa những mẫu vật giải phẫu khác. Trong năm 1810, một học trò của ông đã lấy cắp di vật, nhưng người này đã chết 10 năm sau đó. Trên giường chết, anh ta đã thú nhận ăn trộm và vợ anh ta đã trả lại quả tim cho người sở hữu nó.

Năm 1814, trong giai đoạn Phục Hoàng, bác sỹ Pelletan, vốn có thiện cảm với cánh bảo hoàng, đã muốn trả lại di vật cho hoàng gia. Ông đến tìm nữ quận công xứ Angoulême, chị gái Louis XVII. Bà này không có khi nào nghi ngờ về cái chết của em trai và đã coi quả tim đúng là của em mình. Nhưng giai đoạn Trăm Ngày đã chấm dứt việc thảo luận về việc này, vì phái Bourbon lên nắm quyền. Pelletan bị kết tội đã thỏa hiệp với Napoléon và bị cấm giao tiếp với hoàng gia. Ngày 23 tháng 5 năm 1828, ông trao quả tim cho tổng giám mục Paris là Mgr de Quelen. Ông mất một năm sau đó.

Năm 1830, trong cuộc Cách Mạng Tháng Bảy, dân Paris đã đánh phá tòa tổng giám mục. Một công nhân nhà in tên là Lescroart phát hiện ra chiếc bình đã muốn đem trả cho con trai Pelletan là Philippe-Gabriel, cũng là bác sỹ. Nhưng một nghĩa quân khác đã tranh chiếc bình. Nó bị vỡ, và do chuyển động quá mạnh, quả tim đã bay đi đâu mất. Một tuần sau, Lescroart quay lại cùng Philppe-Gabriel Pelletan và rất may mắn, họ đã tìm thấy quả tim ở dưới đất. Con trai Pelletan do thấy nó hàng ngày nên đã nhận ra ngay.

Di vật vẫn thuộc sở hữu của gia đình Pelletan cho đến năm 1895. Ngày 22 tháng 6, để kỷ niệm 100 năm ngày mất của Louis XVII, gia đình đã chuyển nó cho don Carlos, quận công Madrid, hậu duệ Bourbon và là người đang muốn chiếm vương miện nước Pháp. Ông này đưa nó đến lâu đài Froshdorf ở Áo, nơi ông ta sinh sống. Năm 1942, Béatrice, con gái của don Carlos, nữ công tước Massimo, trong khi đi tản cư đã mang theo đến Roma. Cuối cùng, ngày 10 tháng 4 năm 1975, bốn người con gái của nữ quận công Massimo đã trao nó cho quận công Bauffremont, chủ nhiệm phòng tưởng niệm Pháp Quốc tại Saint-Denis.

Hành trình khó tin của di vật là như vậy. Nó đã đi xuyên qua lịch sử 2 thế kỷ của nước Pháp và của một phần châu Âu. Tin tưởng vào sự xác thực của nó, giáo sư Cassiman chấp nhận tiến hành phân tích. Một mẩu trích được đem thử ngày 15 tháng 12 năm 1999 bởi cộng sự của ông, bác sỹ Jehaes. Bà này khẳng định rằng người ta đã ngâm quả tim của đứa trẻ từ 8 đến 12 năm. Họ cũng nhận thấy một đoạn động mạch chủ khoảng 2 cm. Chưa bao giờ người ta làm như vậy khi tách tim: người ta phải cắt sát, và đây là do làm vội và giấu giếm trong khi vội vàng. Ngoài ra, con trai bác sỹ Pelletan đã mô tả chi tiết vào năm 1830.

Bác sỹ Jehaes cắt một phân khối từ quả tim bằng cưa, vì những mô deshydrat chắc ngang với bê tông. Rất kỳ lạ là việc ướp không làm biến đổi  gène. Đồng thời, một động thái xử lý hóa sinh phức tạp và kéo dài được thực hiện để có một mẫu có thể phân tích được. Cùng lúc, một phép phân tích khác được thực hiện bởi nhóm của giáo sư Bernd Brikmann ở Münster, Đức, bằng phương pháp khác. Các kết quả được công bố tại Bảo tàng lịch sử Y học ở Paris ngày 19 tháng 4 năm 2000. Chúng hoàn toàn giống nhau và có thể khẳng định chính thức rằng đứa trẻ mà người ta lấy tim này có quan hệ huyết thống với Marie-Antoinette.

Những người ủng hộ giả thuyết chạy trốn đã thể hiện nghi ngờ rằng quả tim này không phải của Louis XVII mà của người anh, thái tử đầu tiên đã chết năm 1789. Đúng là tim của cậu này cũng đã được ướp và để trong bình. Nó được đưa đến Val-de-Grâce và đã biến mất trong vụ cướp phá tu viện trong thời kỳ cách mạng. Tuy nhiên, nó đã được rửa sạch, được phanh ra rồi tẩm ướp nước thơm và quấn quanh bằng những dải vải nhỏ. Trong khi đó, quả tim được phân tích không bị xử lý theo cách đó. Ngược lại, nó còn bị cắt ra cùng với một mẩu động mạch. Mặt khác, lai lịch của nó hoàn toàn đáng tin cậy.

Khi sự xác thực đã được chứng minh, bình đựng tim của thái tử, phần cơ thể duy nhất của cậu còn lại, được đem đến bàn thờ dòng họ Bourbon trong nhà thờ lớn Saint-Denis với nghi lễ được chủ trì bởi một hậu duệ gần nhất, công tước Louis de Bourbon. Lần này thì mọi việc đã kết thúc: Louis XVII, tù nhân nhỏ tuổi của Temple, đã có thể yên nghỉ.   

NGUYỄN TRẦN SÂM

(dịch từ cuốn La Terrible Vérité của Pierre Bellemare, nxb France Loisirs, 2008)   

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s