NGUYỄN TRẦN SÂM – CÁI CHẾT CỦA MARILYN MONROE

monroe-034 g 30 chủ nhật, ngày 5 tháng 8 năm 1962. Mặt trời lên chưa quá cao ở bờ biển California…

Trung sỹ Jack Clemmons gác đêm trông coi các phòng làm việc trong sở cảnh sát Tây Los Angeles. Anh vừa nhấm nháp cà phê hoặc đồ uống có ga vừa xem lướt mấy tạp chí điện ảnh. Anh chàng này vốn mê nghệ thuật thứ bảy. Điều đó chẳng bình thường lắm sao, khi Tây Los Angeles là nơi tọa lạc của Hollywood và những siêu khu phố vây quanh, với những biệt thự của những ngôi sao và tỉ phú?

Chuông điện thoại vang lên. Cuộc gọi đầu tiên trong đêm.

“Allo, cảnh sát phải không? Tôi là bác sỹ Engelberg. Yêu cầu các ông đến ngay số 12305, xóm Helena 5, Brentwood.”

Trung sỹ Clemmons ghi địa chỉ vào sổ.

“Vâng. Có vụ gì vậy?”

“Tự tử.”

“Người đó tên gì?”

Trung sỹ sẵn sàng ghi vào sổ, nhưng khi nghe cái tên thì anh ta bỗng kêu lên và tái mặt.

“Nghe đây, nếu đây là chuyện đùa thì ông phải trả giá đắt đấy. Người ta sẽ tìm ra số điện thoại của ông và…”

Tuy nhiên, giọng nói ở đầu dây bên kia có vẻ không đùa.

“Chính các ông phải trả giá đắt nếu không đến.”

Trung sỹ treo ống nghe và lao vào xe. Đã hết đêm. Một cơn gió nóng ào đến từ sa mạc Mojave quét qua thành phố, làm run rẩy những cây bạch đàn cao vút trồng hai bên các con phố. Clemmons bóp còi inh ỏi khi lao xe qua khu phố còn đang ngủ yên, miệng lẩm bẩm:

“Không thể thế được!”

Nhưng đó là sự thật. Cái tin mà trung sỹ Jack Clemmons được biết đầu tiên vào ngày 5 tháng 8 năm 1962 này, chỉ sau vài giờ đã làm cả thế giới sững sờ: Marilyn Monroe đã chết! Ở tuổi 36, trên đỉnh vinh quang…

Nhưng cái chết của Marilyn Monroe không chỉ là sự kiện gây chấn động và đau buồn. Đây còn là một bí ẩn mà mãi nửa thế kỷ sau người ta còn bàn cãi.

***

Trung sỹ Clemmons đến trước nhà số 12305 xóm Helena 5. Anh ta cảm thấy bất ngờ. Ngôi biệt thự to lớn, nhưng không xa hoa lộng lẫy như anh ta tưởng. Đó chỉ là một tòa nhà bề thế mà chủ nhân là một nhà tiểu công nghiệp hay một luật sư có ít nhiều thành công, hay cùng lắm là nghệ sỹ phim truyền hình. Trung sỹ bước qua bãi cỏ và đi về phía một cửa sổ sáng đèn. Một ô cửa sổ bị vỡ. Đó là… Anh ta thấy thót tim.

Phải, đó là nàng! Marilyn Monroe hoàn toàn khỏa thân nằm úp trên giường. Gần bàn tay phải là chiếc ống nghe điện thoại. Trung sỹ Clemmons không thể rời mắt khỏi hình ảnh vừa bi thảm vừa cuốn hút.

Lát sau, anh ta nhận ra sự có mặt của ba nhân vật khác trong phòng, một đàn bà và hai đàn ông. Anh ta hỏi tên họ: Bà Eunice Murray, quản lý của Marilyn Monroe, bác sỹ Engelberg, người đã gọi điện và là bác sỹ đa khoa riêng, và bác sỹ Greenson, nhà phân tích tâm lý của nàng. Mặc dù bị chấn động bởi cái chết của Marilyn, viên trung sỹ đã ngay lập tức thể hiện tác phong nghề nghiệp.

“Ai phát hiện ra xác chết?”

Người đàn bà bé nhỏ đeo kính tầm 50 tuổi đi lại gần anh ta.

“Là tôi.”

“Tôi nghe bà.”

Eunice Murray nói bằng giọng phờ phạc:

“Quá nửa đêm, tôi thấy ánh sáng ở khe cửa. Tôi định vào, nhưng cửa khóa trái. Vì sợ nên tôi gọi bác sỹ Greenson, sau đó gọi bác sỹ Engelberg. Bác sỹ Greenson đến trước.”

Trung sỹ Clemmons quay về phía Greenson.

“Lúc đó là mấy giờ, thưa bác sỹ?”

“Mười hai rưỡi.”

“Ông đã làm gì?”

“Cửa khóa trái rất chắc. Tôi vào từ phía vườn sau. Tôi đập một ô cửa sổ và chui vào. Marilyn lúc đó cũng ở tư thế như anh thấy.”

“Lúc đó cô ấy đã chết?”

“Phải.”

“Theo ông thì nguyên nhân cái chết là gì?”

Vị bác sỹ kia xen vào.

“Tôi vào ngay sau đồng nghiệp của tôi và chính tôi đã chẩn đoán là bị đầu độc bằng barbituric.”

Trung sỹ Clemmons nhận thấy một bình thủy tinh nhỏ cạnh xác chết.

“Đây là thuốc mà cô ấy đã uống?”

Bác sỹ Engelberg gật đầu:

“Có lẽ vậy. Đó là nembutal. Chắc cô ấy đã uống cả lọ. Hai lăm viên nén.”

“Thế là đủ à?”

“Thừa đủ. Đó là thuốc ngủ tác dụng nhanh, một loại dùng rất hiệu nghiệm nhưng nguy hiểm.”

Bây giờ thì Jack Clemmons đã tỉnh táo hẳn. Anh đã có thể hình dung ra vấn đề giống như khi đó là cái chết của một người Mỹ bình thường. Tuy nhiên, có vài chi tiết làm anh ta thấy không hài lòng. Anh tiếp tục hỏi bác sỹ Engelberg.

“Bà Murray nói ông đến sau mười hai rưỡi một chút, mà mãi đến bốn rưỡi ông mới gọi cho tôi. Sao vậy?”

Vị thầy thuốc trả lời không chút bối rối:

“Chúng tôi quá lo… Chúng tôi bàn nhau xem nên làm gì.”

“Suốt bốn giờ liền?”

“Đúng vậy, suốt bốn giờ.”

“Và các vị không chạm vào thứ gì chứ?”

“Không, trừ ống nghe trong tay cô ấy mà tôi gỡ ra.”

“Thế thì cái ly mà cô ấy dùng để uống những viên thuốc này ở đâu? Cô ấy khóa trái cửa phòng, mà trong phòng thì không có cái nào.”

“Chắc cô ấy bỏ đâu đó.”

“Và cô ấy quay lại, sau khi đã tự khóa trong phòng?”

“Thì phải tin thế thôi.”

***

6 giờ. Ánh bình minh đã rạng trên khu Brentwood đẹp như tranh. Một tiếng còi hú vang trong buổi sáng sớm. Trung sỹ Clemmons, người vừa báo cáo sự việc cho cấp trên, thấy một đồng sự, trung sỹ Byron, dẫn đầu một nhóm nhỏ đi đến. Họ gồm các cảnh sát viên và hai nhân viên cứu thương mang theo băng ca. Byron hỏi ngay Clemmons:

“Anh có thể về. Tôi được lệnh đến thay.”

Jack Clemmons thấy bất ngờ vì quyết định vội vàng như vậy.

“Nhưng tôi phải thu thập nhiều chi tiết nữa để báo cáo.”

“Làm báo cáo không phải việc của anh, mà là của tôi. Lệnh của Parker.”

Parker là chỉ huy trưởng cảnh sát Los Angeles. Rõ ràng phải tuân lệnh. Tuy nhiên Clemmons quyết định không im lặng. Cùng ngày, anh ta đã lên tiếng trước báo giới. Anh lưu ý họ đến chi tiết trì hoãn của nhân chứng trong việc báo cho cảnh sát. Tuyên bố đó, do nạn nhân là nhân vật rất đặc biệt, đã gây ồn ào ghê gớm. Nó được lan truyền tức khắc trên báo chí Mỹ và các nước. Một kết quả không mong đợi đã đến. Trung sỹ Jack Clemmons bị sa thải khỏi ngành cảnh sát.

Người ta đã không tính đến báo cáo của Clemmons. Thay vào đó là báo cáo của Byron với nội dung khác hẳn. Thật phi lý!

Báo cáo chính thức của sở cảnh sát Los Angeles mang số hiệu 62-509453. Nó nói: “Cái chết được phát hiện ngày 5 tháng 8 năm 1962, lúc 3 g 45 sáng.”

Phải, quý vị đã đọc rõ: 3 g 45. Không còn khoảng trống 4 giờ giữa việc phát hiện ra thi thể và việc gọi cho cảnh sát.

Báo cáo viết tiếp: “Bác sỹ Greenson đến lúc 3 g 40. Ông đã phá cửa sổ và lấy ống nghe điện thoại từ tay Marilyn Monroe. Bác sỹ Engelberg đến lúc 3 g 50, và chính ông đã thông báo về cái chết của cô Monroe. Phòng trực gác của cảnh sát Los Angeles nhận được thông báo về vụ chết người này lúc 4 g 25. Các vị thầy thuốc nói trên đã được cảnh sát lắng nghe. Nguyên nhân chết có thể là uống nembutal quá liều. Ký tên: Trung sỹ R. E. Byron.”

Nhưng những điều kỳ quặc vẫn chưa hết. Cuộc điều tra được tiến hành chóng vánh đến mức có thể nói là quá vội vã. Trong báo cáo công khai, chánh cảnh sát Parker tuyên bố chấm dứt điều tra vụ việc và, theo luật tố tụng California, chuyển hồ sơ sang Ủy ban điều tra các vụ tự tử. Đến lượt cơ quan này kết thúc nhiệm vụ còn nhanh chóng hơn, vì chỉ sau vài ngày, nó đã đưa ra kết luận chỉ có 5 dòng: “Trong quá trình điều tra, chúng tôi được biết cô Monroe đã từng hơn một lần, do u buồn và tuyệt vọng, tự kết liễu bằng độc dược. Nhưng lần nào cô ấy cũng gọi cấp cứu đúng lúc nên đã được cứu sống. Sau khi tìm hiểu những sự kiện ngày 4 tháng 8, ý kiến của chúng tôi là cô đã lặp lại việc tự tử một lần nữa.”

Những kết luận trên ngay lập tức gây ra làn sóng phản đối. Thứ nhất, tất cả những người quen biết Marilyn đều khẳng định chắc chắn: cô không hề định tự kết liễu trong những ngày này. Ngoài ra, Ủy ban điều tra các vụ tự sát đã lấy thông tin từ đâu, trong khi mọi người thân của nữ diễn viên đều không được thẩm vấn?

Còn một chi tiết cuối cùng để đưa vào hồ sơ: phẫu thuật tử thi. Việc này có vẻ kỳ quặc. Bác sỹ Noguchi lãnh trách nhiệm khủng khiếp là mổ xẻ cái cơ thể làm cả thế giới xiêu lòng. Chủ nhật đó là ngày bận rộn nhất đối với các bác sỹ pháp y. Tối thứ Bảy đã xảy ra nhiều vụ tai nạn, phạm tội và tự sát. Vào vị trí của mình ở nhà xác trung tâm Los Angeles, bác sỹ Noguchi đứng trước một ngày làm việc mệt nhọc.

Phải nói là vị bác sỹ đã bị choáng khi người ta tuyên bố anh phải mổ tử thi Marilyn Monroe. Anh muốn tin rằng đó chỉ là người trùng tên, nhưng đó chính là cô ấy. Và anh bị bất ngờ không chỉ bởi tin cô ấy chết, mà còn vì tối hôm đó người ta đã chọn anh. Anh chỉ là người mới vào nghề, vừa rời trường đại học. Anh nghĩ rằng người ta muốn thực hiện một kỳ thi quan trọng đối với một người có uy tín trong lĩnh vực pháp y.

Noguchi làm nhiệm vụ trong trạng thái đầy cảm xúc… Cũng khá khôi hài là sau phẫu thuật, thi thể ngôi sao màn bạc được đưa vào một ngăn tủ ở nhà xác trong khi chờ khâm liệm, và một nhiếp ảnh gia của tạp chí Life đã dùng một chai whisky để thuyết phục nhân viên nhà xác cho chụp hình Marilyn. Đây là lần chụp hình cuối cùng của cô.

Theo báo cáo của bác sỹ Noguchi thì anh đã ở vào một trạng thái kỳ lạ, giống như bị mê lạc, mà cảnh sát ghi là “hồi tưởng”. Bản hồ sơ gây tò mò ngày 27 tháng 8 viết: “Báo cáo 81128, ngày 5 tháng 8 năm 1962, 10 g 30 sáng. Tôi đã tiến hành mổ tử thi Marilyn Monroe ở nhà xác quận Coroner, Los Angeles. Kết quả phân tích là người chết đã bị đầu độc bởi barbituric do uống nembutal quá liều.”

Sau đó là một loạt những tình tiết mang tính kỹ thuật.

Lần này lại có gì đó không ổn. Bác sỹ Engelberg bảo đảm rằng ông đã tiêm cho nạn nhân hai mũi vào các ngày 1 và 3. Trong thời gian ngắn như vậy, dấu vết thuốc tiêm chưa thể mất, và bác sỹ Noguchi phải thấy, vì đó chính xác là chi tiết mà bác sỹ pháp y phải tìm đầu tiên khi nghi ngờ đầu độc. Nếu thấy, tại sao anh ấy không nói ra? Vì không nói ra thì người ta có thể hình dung ra đó là vụ ám sát, do không thấy một chiếc bơm tiêm nào được tìm thấy trong ngôi nhà.  

***

Một vụ ám sát! Rất nhiều người nghĩ đến giả thuyết này, nhất là cánh phóng viên. Họ chú tâm tìm hiểu thời gian biểu ngày cuối cùng của Marilyn.

Buổi sáng, cô tiếp một nhiếp ảnh gia trong hai giờ. Cô từ chối tạo dáng để chụp hình cho tạp chí. Cô ngồi trên thành bể bơi và ăn trái cây. Sau đó, cô ngồi đọc dưới mái hiên cả buổi trưa. Cô đọc Dostoyevsky, tác giả ưa thích mà cô luôn muốn thể hiện theo khi đóng phim. Cuối buổi trưa, cô gặp bác sỹ Greenson để thực hiện phân tích tâm lý thường kỳ, sau đó Patricia Newcomb, một thiếu phụ lo quan hệ công chúng cho cô. Đến 19 giờ, cô nhận một cuộc gọi của Joe DiMaggio Junior, con trai chồng thứ hai của cô. Cuối cùng, đến 19 g 30, lại một cuộc gọi khác. Đó là diễn viên Peter Lawford, anh ta mời cô đến biệt thự Malibu của mình đẻ dự buổi tối với sự có mặt của Robert Kennedy, em trai tổng thống và là bộ trưởng tư pháp. Sau đây là mấy lời mở đầu câu chuyện làm Lawford bất ngờ.

“Chúng tôi đợi cô đến tham gia chơi poker lúc 6 giờ.”

“Tôi không thích chơi bài.”

“Tùy cô. Chúng tôi ngồi chuyện trò 45 phút. Cô có thời gian để chuẩn bị đến. Tôi báo cho cô là chúng tôi sẽ bắt đầu ngay khi cô chưa đến.”

“Tôi mệt lắm, Peter. Tôi không đến đâu. Chào Pat hộ tôi và gửi lời từ biệt đến mọi người bạn của tôi. Nói hộ lời tạm biệt đến tổng thống và chính anh nữa. Anh thật chu đáo. Tôi thật hân hạnh được quen biết anh.”

Peter Lawford cố níu kéo. Nhưng anh ta không quen phản ứng trước những câu nói chia tay đột ngột và báo hiệu những điều đáng ngại. Thế là hết! Không còn ai có thể gặp lại được Marilyn, được nghe giọng nói của nàng. Điều này có thể là do cái người nhận cuộc gọi cuối cùng của nàng trước khi chết.

Tất cả, như có thể thấy, đều gợi ra giả thuyết tự sát. Tuy nhiên, có một chi tiết khác: một cái tên thu hút sự chú ý: Kennedy. Người ta rỉ tai nhau rằng Marilyn không chỉ là bồ của Robert Kennedy, mà còn của cả John Kennedy, tổng thống Hoa Kỳ. Trong hoàn cảnh đó, cái chết của nữ minh tinh giữa hai đấng anh hào càng thêm vẻ giật gân.

***

Tuy nhiên, trong nhiều năm người ta đã không tìm được gì xác định. Đến tháng 8 năm 1982, tròn 20 năm sau sự kiện, vụ Marilyn Monroe lại được khơi lại một cách mạnh mẽ. Vào ngày đó, Milo Spereglio, thám tử ở Los Angeles, đã tổ chức một cuộc họp báo gây chấn động.

Cái ông Spereglio này đúng là một nhân vật đáng ngạc nhiên! Tầm 50 tuổi, nước da nâu, để ria con kiến, không có vẻ điệu bộ, nhưng ông ta biết việc, hay ít nhất là biết cách thuyết phục đám đông.

Trước khi họp báo, ông ấy đã chuẩn bị chu đáo bị mọi thứ. Các bức tường của gian phòng mênh mông được dán đầy các bức hình Marilyn Monroe. Bên cạnh bục diễn thuyết, một hình nộm giống hệt nữ minh tinh, khoác chiếc áo choàng mà nàng mặc trong “Seven Year Ich”, nằm dài trên sofa.

Milo Spereglio bắt đầu nói. Ông lưu ý đến 20 năm tìm kiếm. Liệu cuối cùng người ta có thể tìm ra sự thật không?

“Thưa quý bà, quý ông. Tôi bắt đầu quan tâm đến vụ này từ khi gặp Robert Slatzer, chồng của Marilyn.”

Cử tọa ồn ào… Chưa từng có ai nghe đến cái tên Slatzer này. Marilyn đã kết hôn 3 lần: với Jim Dougherty, một thủy thủ, từ khi nàng chưa nổi tiếng, với Joe DiMaggio, nhà vô địch bóng chày, và cuối cùng là với Arthur Miller, diễn viên kịch. Nhưng Slatzer thì đây là lần đầu được nghe.

Rõ ràng thỏa mãn với ấn tượng ban đầu do mình gây ra, thám tử nói tiếp:

“Slatzer đã bí mật cưới Marilyn vào năm 1952 tại Mexico. Cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài 5 ngày do Darryl Zanuck phát hiện ra và buộc Marilyn ly hôn. Robert Slatzer đã giao phó cho tôi một việc quan trọng. Marilyn giấu cuốn tạp chí yêu thích trong cuốn sổ màu đỏ mà cô để dưới chỗ nằm. Trước khi vợ cũ chết ít hôm, Slazer đã gặp cô. Cô đã cho anh xem cuốn sổ. Anh đã đọc… Nó chứa đựng những tiết lộ về John và Robert Kennedy trong vụ liên quan đến mafia, cuộc điều tra về Jimmy Hoffa, chủ tịch nghiệp đoàn lái xe tải, và một âm mưu ám sát Fidel Castro.

Milo Spereglio để yên cho tiếng ồn ào trong phòng lắng xuống rồi tiếp tục:

“Chính vì cuốn sổ đó mà bị ám hại. Cô ấy bị giết bởi một phát tiêm barbituric trong khi ngủ do tác dụng của thuốc ngủ mà cô ấy uống. Theo tôi, những kẻ phạm tội là những kẻ điên cuồng thuộc CIA muốn phế truất Kennedy.”

Một phóng viên nêu câu hỏi mà ai cũng muốn hỏi:

“Ông có biết cuốn sổ đỏ ở đâu không?”

“Hiện tôi chưa biết, nhưng sẽ sớm biết.”

Tuy nhiên, cuốn sổ đỏ đã không bao giờ được tìm thấy. Nhưng do những đòi hỏi quyết liệt của thám tử mà cảnh sát đã quyết định tái lập điều tra. Và ngày 29 tháng 12 năm 1982, công tố viên John Van de Kamp đưa ra câu trả lời trong bản báo cáo 29 trang: Marilyn Monroe chết bởi uống barbituric quá liều, do vô ý hoặc cố ý.

Nhưng điều này chưa đủ để khép lại vụ việc. Từ sau cuộc họp báo, mối quan tâm của công chúng đột ngột tăng lên, và các phóng viên đã tiến hành rất nhiều cuộc điều tra. Năm 1983, Anthony Summers thực hiện một chương trình về cái chết của Marilyn với tên gọi “Hãy nói lời tạm biệt với tổng thống”, theo cách nói khác thường mà cô đã dùng khi nhắc đến Robert Kennedy trong cuộc nói chuyện cuối cùng với Peter Lawford. Trong số nhiều người, Summers đã phỏng vấn người quản lý Eunice Murray, và bà này thì chỉ nói những điều tầm thường. Nhưng khi tất cả các máy ảnh và máy chiếu đã tắt thì bà này đổi giọng. Rất may là các máy ghi âm vẫn hoạt động. Bà ta hỏi phóng viên:

“Vì sao ở lứa tuổi của tôi mà tôi vẫn còn phải che giấu sự thật?”

Summers nói ông không hiểu bà ngụ ý gì.

“Thế này. Trong suốt thời kỳ đó, tôi đã không ngạc nhiên là anh em Kennedy đã được nhiều thứ từ Marilyn. Tôi không được nghe nói, mà tận mắt thấy Robert Kennedy nhiều lần đến chỗ cô ấy.”

“Thế trong ngày cô ấy chết?”

“Có, ông ấy cũng đến. Họ cãi nhau. Thậm chí đánh nhau. Việc này tế nhị đến mức những người trông coi thi hài được yêu cầu phải giữ gìn cẩn thận.”

“Vì sao bà không nói điều này với cảnh sát vào năm 1962?”

“Tôi đã nói điều mà tôi nghĩ là phải nói…”

Về Robert Slatzer mà Milo Spereglio đã phát hiện ra, đây đúng là người chồng ngắn hạn của ngôi sao trong 5 ngày, và ông đã công khai chuyện đó trong tác phẩm Những Tháng Cuối của Marilyn Monroe, trong đó có rất nhiều tiết lộ động trời. Ông kể rằng vào thứ Năm ngày 9 tháng 8 ông đã gặp người thi hành vấn đề thừa kế, Inez Melson.

“Cô ấy xem xét những giấy tờ còn sót lại của Marilyn Monroe. Cô ấy nói với tôi rằng vì cô ấy đã đến đó vào sáng chủ nhật nên cô ấy đã phát hiện ra tủ xếp giấy tờ bị phá và rất nhiều tài liệu của Marilyn đã biến mất.”

Trước đó 3 tuần, vào trung tuần tháng 7, Robert Slatzer đã đến chở Marilyn đi. Trên đường, nàng đã kể cho ông nghe về những nỗi sợ và nỗi khổ của mình. Sau tiệc mừng sinh nhật tổng thống vào tháng 5 mà cô là nhân vật nổi bật ở đó, ông ta đã cấm cô liên hệ với ông ta, và đường dây riêng mà cô dùng để gọi ông ta bị cắt đứt. Quá tức giận, cô đã gọi nhiều lần đến Nhà Trắng để đòi giải thích. Vẫn không được. Cả Robert Kennedy, người mà cô cũng có quan hệ, cũng cùng lúc cắt đứt với cô.

Marilyn rút cuốn sổ đỏ ra khỏi túi xách. Robert Slatzer hỏi đó là cái gì.

“Đây là sổ ghi những bí mật của em. Em muốn anh đọc.”

Ông giở cuốn sổ và phát hiện ra những ghi chép về đề tài mà Milo Spereglio đã đụng chạm đến: kế hoạch dùng một tổ chức tội phạm để ám sát Fidel Castro, những vụ thử hạt nhân, các mối liên hệ của Sinatra với thế giới ngầm, cuộc điều tra về Jimmy Hoffa, cuộc tấn công thất bại ở vịnh Con Lợn, Cuba. Ông hỏi cô ghi chép những việc đó để làm gì.

“Vì Robert Kennedy thích nói chuyện về chính trị và vì em muốn nói lại những việc này cho những ai quan tâm. Em ghi chép sau những cuộc trò chuyện và sau đó nhận ra rằng  em đã học được rất nhiều để có thể nói chuyện một cách thông minh.”

“Có ai khác thấy cuốn sổ này không?”

“Không. Nhưng em phẫn nộ đến mức có thể triệu tập một họp báo và cho cả thế giới thấy để mọi người đều biết gia đình Kennedy thực sự là những kẻ như thế nào.”

Slatzer cố can ngăn cô.

“Rõ ràng Robert Kennedy không muốn tiếp tục với em. Tốt nhất là em quên anh ta đi và tập trung vào sự nghiệp của minh.”

“Không dễ thế đâu”, cô trả lời.

Câu chuyện này được quan tâm gần như đến tận ngày nay. Từ khi Marilyn mất đi, hơn 100 cuốn sách về cô đã được công bố và hầu hết cho rằng đó là vụ ám sát và quy tội cho gia đình Kennedy. Vụ tự tử nổi tiếng nhất trong lịch sử điện ảnh có vẻ bề ngoài của một vụ việc tầm cỡ quốc gia.

***

Nhưng đó có phải sự thật hay không? Cần làm rõ sự thật mà không bị cuốn vào những chuyện giật gân. Điều có vẻ chắc chắn là quan hệ giữa Marilyn với Robert Kennedy và cả chính John Kennedy, và nó giải thích việc các nhân chứng thông báo cho ảnh sát một cách muộn màng. Sau khi được biết về cái chết của nữ diễn viên, hai vị thầy thuốc và quản lý của cô đã không “bàn bạc” suốt 4 giờ liền. Họ đã báo cho cảnh sát cấp cao hơn, có thể chính là Nhà Trắng, và các chuyên gia đã đến hiện trường để làm cho mọi chứng cứ nguy hiểm biến mất. Người ta cũng quy kết rằng thượng cấp đã ra lệnh vội vàng kết thúc toàn bộ cuộc điều tra.

Nhưng phần còn lại của câu chuyện thật khó tin. Người ta đã không thể hình dung ra một chi tiết duy nhất là những con người tầm cỡ John và Robert Kennedy lại có thể trao những bí mật quốc gia cho một phụ nữ có thể làm lộ tất cả do tác động của rượu hay của trạng thái tuyệt vọng. Cuốn sổ đỏ đã không được tìm thấy bởi nó chưa bao giờ tồn tại. Đó chỉ là một sáng kiến để kiếm tiền. Cái mà các chuyên gia được phái đến biệt thự không phải là cuốn sổ, mà là dấu vết thực sự của mối quan hệ giữa anh em Kennedy và nữ diễn viên.

Và để hình dung ra điều gì đã thực sự diễn ra thì đơn giản nhất là trở lại với chính Marilyn Monroe.

Marilyn Monroe còn có tên là Norma Jane Baker. Cha cô đã bỏ rơi cô từ khi mới sinh cùng với mẹ cô, người cũng không yêu và không mong muốn có cô. Hơn thế, bà ta mắc chứng rối loạn tâm thần và đã chết trong cơn điên. Mặc dù mang một di sản nặng nề như vậy, nhưng Norma Jane đã hành động để trở thành Marilyn Monroe, một minh tinh, một phụ nữ quyến rũ, một nữ thần điện ảnh.

Tuy nhiên, trên bình diện cá nhân, cô đã đạt được gì? Sau khi bỏ rơi Robert Slatzer thì cô đã có ba cuộc hôn nhân, cuộc đầu kéo dài 6 năm theo sắp đặt của người mẹ, rồi cuộc với nhà vô địch bóng bầu dục Joe DiMaggio, một sự kết hợp cực kỳ hời hợt, và cuối cùng là cuộc với diễn viên kịch nổi tiếng Arthur Miller. Mặc dù cuộc thứ ba là do tình yêu, nhưng nó lại để lại những hậu quả bi thảm hơn hai cuộc đầu. Với những người bạn trí thức của chồng, Marilyn đã không thể biểu lộ nội tâm phức tạp khủng khiếp.

Nếu như với người này hay người khác, cô có được một đứa con. Nhưng cô đã không có, và điều này chắc chắn làm cô càng đau khổ hơn.

Khi con người ta tỏa hào quang chói lọi bên ngoài thì những tổn thương bên trong không làm mọi người quan tâm. Hollywood không đối xử dịu dàng với những quái nhân mà nó tạo ra, và Marilyn là nhân vật tỏa sáng rực rỡ nhất. Cuộc sống đó, với công việc diễn xuất muôn thuở, với nụ cười nhân tạo, đã kết thúc khi không còn người tung hô. Trong nhiều năm, cô đã uống ngày càng nhiều barbituric, và khi đó những buổi phân tích tâm lý của bác sỹ Greenson không còn có thể thay đổi mọi thứ được nữa. Trong tình hình đó, sự đổ vỡ quan hệ với anh em Kennedy giống như cái lẫy, như giọt nước tràn ly.

Marilyn Monroe chết đơn độc vì cô luôn đơn độc. Và nếu chúng ta thấy khó tin vào việc tự sát thì đó là vì chúng ta không chấp nhận được việc đó. Một người như Marilyn thì không thể tự sát, vì việc đó là tội lỗi. Do đó, lương tri sẽ thỏa mãn hơn nếu đó là vụ ám sát.

NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ cuốn La Terrible Vérité của Pierre Bellemare, nxb France Loisirs, 2008. Tiêu đề do người dịch đặt lại.     

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s