PIERRE BELLEMARE – THẢM KỊCH MAYERLING

rudolph-va-maria

Rudolph và Marie José

Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1889, trời nước Áo trở rét, nước thậm chí đóng băng. Một cỗ xe được kéo bởi hai con ngựa trắng lướt nhanh trên con đường đầy tuyết. Nó xuất phát từ gần Mayerling, cách gần 40 cây số tính từ Wien, nơi có khu vực săn bắn của hoàng gia, bên cạnh nhà thờ dòng Cistercian. Một trong hai người đi xe, người đàn ông trùm chiếc áo lông sang trọng, nói với người đánh xe:

“Đi nhanh hơn được không?”

“Không được, thưa quý ông, đất nhão lắm, dễ lật xe.”

“Thế thì cho tôi xuống ở ga tàu hỏa gần nhất.”

Một lát sau, cỗ xe dừng trước ga Baden bé nhỏ. Vị hành khách chạy đi tìm trưởng ga.

“Tàu sắp tới là tàu nào?”

“Tàu nhanh Triest-Wien, nhưng nó không dừng ở đây.”

“Nó phải dừng. Tôi là bá tước Hoyos.”

Trưởng ga biết cái tên này, của một người thân cận với hoàng gia. Nhưng nó không ngăn được ông ta lắc đầu từ chối.

“Rất tiếc, thưa ngài bá tước, ngay cả với ngài tôi cũng không thể.”

Bá tước Hoyos nao núng. Ông ta biết nếu ông ta nói thì tàu sẽ dừng. Ông ta muốn giữ kín điều bí mật, nhưng không có lựa chọn nào khác.

“Tôi cần báo tin cho Nương Nương về cái chết của con trai Người, thái tử Rudolph.”

Thế là mấy phút sau bá tước Hoyos đã lên chuyến tàu nhanh Triest-Wien, mang theo cái tin sẽ bay đi khắp thế giới và trở thành một trong những bí ẩn lớn nhất của lịch sử.

*

Quận công Rudolph xứ Habsburg, người đến tìm cái chết ở Mayerling, khi đó 31 tuổi và ít nhất có thể nói rằng chàng là nhân vật khác thường.

Chàng là con trai của Elisabeth và Franz Joseph của nước Áo. Khó có thể hình dung ra một cặp đôi tương phản hơn. Elisabeth, mà cả thế giới gọi là Sissi, là em họ của Ludwig II xứ Bayern, người cũng là khởi nguồn của một bí ẩn nổi tiếng. Vốn đẹp xiêu lòng, Elisabeth lại còn thông minh sáng láng, nhưng thuộc dòng họ Wittelsbach vốn có tiếng là kỳ quặc và mang bệnh tâm thần. Mặc dù không điên khùng như người anh họ Ludwig, nhưng bà cũng luôn bị kích động. Sự đam mê du ngoạn của bà là biểu hiện của một sự bất an sâu sắc.

Franz Joseph thì ngược lại, rất ì, chậm chạp và không hề có óc tưởng tượng. Coi trật tự đã được thiết lập như một thứ nền tảng bất di bất dịch và coi những điều mới mẻ là sự suy đồi nguy hại mà ông ta không hiểu nổi, ông ta thực thi bổn phận chỉ với những ý tưởng tối giản mà ông ta không bao giờ chịu xem xét lại. Một người quen ông ta từng nói: Hai tính cách đặc trưng của Franz Joseph là hẹp hòi và tận lực. Sâu bên trong, đó là một kẻ bảo thủ.

Không cần quá lâu để nhận ra rằng Rudolph không hề giống cha, mà ngược lại, là phiên bản của mẹ. Trong trí não của chàng khắc sâu những tính cách của một vị quân vương nước Đức. Chàng được dạy theo lối nhà binh: dậy lúc 5 giờ sáng, luyện tập mọi ngày, bất chấp thời tiết và trạng thái cơ thể,… Những người dạy dỗ chàng tìm mọi cách để làm mạnh thêm tính cách chàng. Chàng sợ chó thì người ta nhốt chàng cùng mãnh thú. Chàng sợ tiếng động mạnh – người ta bắn súng bên tai chàng. Kết quả là khử bỏ được khỏi chàng trạng thái thần kinh ốm yếu.

Càng lớn, chàng càng có phong cách nghệ sỹ. Chàng thích thi ca và âm nhạc, và muốn viết. Chàng có năng khiếu ngôn ngữ, và cũng như mẹ, chàng nói được 5 thứ tiếng. Chàng ghét tính xu thời, thường giao lưu với các nhà báo, trí thức và thậm chí cả các thương gia Do Thái. Kho tri thức của chàng lẽ ra đã rất giá trị, nếu nó không khá lộn xộn. Đó là kiểu tri thức nghiệp dư kiểu mơ mộng. Những ý tưởng của chàng không thật rõ ràng, nhưng chắc chắn hoàn toàn đối lập với cha. Đại sứ Pháp đã viết về chàng ở giai đoạn đó: “Về óc sáng tạo và sự nhạy cảm, chàng thực sự là con trai của mẹ. Tuổi thiếu niên của chàng đầy những mối lo, vừa thánh thiện vừa trần tục. Chàng khát khao công lý, lòng bác ái và cả khoái lạc. Nhưng chắc rồi sẽ đến ngày mà chàng nhận ra không thể có những thứ đó trên đời, và sẽ chỉ còn khao khát cõi hư vô.” Một vị khách khác của triều đình thì nhận xét ngắn gọn và phũ phàng hơn: “Rudolph không được học để trị vì nước Áo và cả chính bản thân.”

Về ngoại hình, chàng đẹp trai, cao lớn, râu tóc màu sáng nom rất bảnh bao, cặp mắt xanh nhìn xa xăm. Chàng mê khiêu vũ, nhất là với những bản nhạc của Strauss. Chàng là người được cả hoàng tộc yêu mến. Đám nữ lưu tất cả đều mê chàng, và chàng cũng yêu họ. Nhưng chàng hay thay đổi. Trong nhiều năm, họ đã thay nhau ở trong vòng tay chàng.

Quận công trẻ còn có một niềm say mê khác: những tư tưởng tự do. Chàng ghét nước Đức, Wilhelm I và Bismark. Chàng mong đảo ngược được khối đồng minh, xây dựng liên minh với Pháp. Chàng viết một loạt bài nặc danh theo tinh thần đó và đăng trên một tờ báo đối lập. Chưa hết, chàng coi rằng chế độ quân chủ đã lỗi thời. Chàng ca ngợi chế độ nghị viện, trong đó nhân vật tối cao chỉ có quyền lực danh dự, giống như ở Anh quốc. Chàng viết: “Tư tưởng quân chủ chỉ là một thứ quái quỷ. Nó đã mất hết uy tín đối với dân chúng, những người chỉ thấy chán ghét và khinh bỉ. Ngày hôm nay, con người đã được giải phóng. Người ta không còn nghe theo sự điều khiển. Chính vì thế mà mọi kiểu quân chủ đều tàn tạ và suy đồi. Trong cơn bão sắp đến, nó sẽ sụp đổ.”

Trong bối cảnh chính trị nước Áo khi đó, đây chỉ là những ảo tưởng, nhưng chúng đã làm cha chàng lo ngại đến mức ông ta quyết định chấm dứt vụ việc. Ông ta phong hàm đại tá cho chàng và phái chàng đến Praha để chỉ huy một trung đoàn. Từ đó, Rudolph bị tước hẳn quyền lực và lâm vào cảnh đau buồn.

Năm 1881, khi chàng 23 tuổi, người ta đã cưới vợ cho chàng. Chàng không cưỡng lại. Tuy nhiên việc đó gây ra những phiền toái trong cuộc sống của thái tử. Vợ chàng là Stephanie, con gái vua Bỉ Leopold II. Đó là cô gái tóc sáng, nhạt nhẽo và khó tính mà chàng không có chút thiện cảm nào. Không may là sau đó 2 năm thì Stephanie sinh hạ được một con gái, và sau đó thì không sinh thêm lần nào nữa. Rudolph không có người nối nghiệp, và điều đó ảnh hưởng ghê gớm. Chàng cảm thấy mình vô dụng và vô cùng đau buồn. Tính hài hước của chàng biến dần, Chàng trở nên lặng lẽ, rầu rĩ và tuyệt vọng. Những nàng bị chàng chinh phục và vẫn chưa từ bỏ ngay cả sau khi cưới vợ làm chàng ngày càng thấy chán. Chàng bắt đầu lui tới những quán xá lụp xụp và nhà thổ ở Wien.

Năm 1886, chàng được tin về cái chết của ông bác Ludwig II xứ Bayern sau một thời gian bị nhốt vì điên. Cũng như người mẹ mà chàng cảm thấy luôn gần gũi, chàng bị chấn động và mãi không thể nào nguôi.

Cũng trong thời gian đó, chàng bị nhiễm giang mai sau những lần buông thả dưới đáy xã hội ở thủ đô. Sau đó chàng khỏi bệnh, nhưng sức khỏe vẫn kém. Tất cả những người chung quanh chàng đều đau buồn vì sự thay đổi thể chất và tinh thần của chàng. Chàng có vẻ kiệt quệ, da khô, săc mặt nhợt nhạt, đôi tay run rẩy. Để chống lại sự suy kiệt, chàng tìm đến với rượu và morphine. Mỗi ngày, chàng mất nhiều giờ để tự động viên an ủi, nhưng với cách sống đó, sự sa sút tăng tốc từng ngày.

Giữa năm 1888, chàng bắt đầu bàn về những giá trị của việc chết tự nguyện. Chàng có ý tưởng tự vẫn đôi cùng với người yêu. Nhiều lần, khi mân mê khẩu súng ngắn với báng súng gắn ngọc, chàng bảo người vợ đang hết hồn hãy bắn chàng rồi tự sát trên xác chàng. Và việc này đã làm vợ chàng thôi hẳn những trò ghen tuông. Vì quá sợ hãi, nàng chỉ còn coi chàng là một tên điên nguy hiểm.

Mùa thu 1888 xảy ra một sự kiện làm đảo lộn toàn bộ cuộc sống của chàng. Trong một lần khiêu vũ, người ta đã giới thiệu với chàng một cô gái 16 tuổi, Maria Vetsera. Đó là cô gái tóc nâu, mắt xanh với vẻ duyên dáng trong trắng. Xuất thân quý tộc lớp dưới, nàng là con gái nam tước Albin Vetsera, người quản lý tài sản của vị quân vương xứ Constantinopolis, và Helena Baltazzi, người Hy Lạp sống ở Smyrne. Khi gặp quận công, nàng hồi hộp, nói năng lúng túng và thể hiện sự cung kính đến tội nghiệp. Mặc dù đã gặp những cô gái kiều diễm và lộng lẫy hơn, Rudolph đã ngay lập tức si mê nàng.

Ngay ngày hôm sau, chàng đã hoàn toàn thay đổi. Kẻ đã không còn tin vào điều gì, đã xa lạ với mọi thứ tình cảm và cảm xúc, đã hồi sinh ngay từ lần gặp đầu tiên. Còn nàng thì đã rất quan tâm đến chàng ngay từ khi còn nhỏ. Rồi họ hẹn gặp nhau bí mật tại một phòng của Đại Khách Sạn thành Wien. Sau đó, Rudolph gặp nàng ở cung điện, trong những phòng kín bên cánh đối diện với phòng mẹ chàng.

Đối với Maria, đây là một ngày không thể nào quên. Nàng không để ý gì đến một con quạ đang đập cánh ở tiền sảnh, một khẩu súng ngắn báng đính ngọc đặt trên bàn, bên cạnh một hộp sọ. Nàng chỉ thấy người yêu và lao mình vào vòng tay chàng…

Rudolph yêu đến ngây dại. Ngày 13 tháng 1 năm 1889, chàng xin Maria hãy cưới chàng. Việc chàng đã có vợ không quan trọng, đức cha sẽ hủy bỏ cuộc hôn nhân. Nàng có xuất thân quý tộc lớp dưới – không quan trọng, vì nàng sẽ là hoàng hậu. Cha chàng tất nhiên không biết việc này, thậm chí không ngờ đến. Maria tin chàng. Nàng đã hình dung mình là vợ của Rudolph và ngây ngất vì chàng.

Vài ngày sau, 27 tháng 1 năm 1889, một đại vũ hội đã được tổ chức ở đại sứ quán Đức để mừng sinh nhật vua mới Wilhelm II. Maria Vetsera và mẹ nàng đã đến dự. Hoàng hậu Elisabeth không có mặt ở Wien vì đi du ngoạn nên Stephanie, vợ của Rudolph, chủ trì tiếp tân. Khi nàng xuất hiện, tất cả cúi chào, đàn ông thì rập gót giày theo kiểu Phổ, đàn bà thì khuỵu gối. Bỗng Stephanie sững người. Trước mặt nàng, giữa tất cả những người đang khom lưng, một cô gái lạ mặt đứng rất thẳng như thách thức cái nhìn của nàng. Phải, Maria đang như mất trí. Mẹ nàng túm tay áo nàng và bắt nàng cúi xuống.

Ngày hôm sau, cả hoàng cung không nói chuyện gì khác ngoài vụ tai tiếng này. Stephanie khóc và chạy đi tìm bố chồng. Franz Joseph cho gọi con trai tới. Cuộc gặp kéo dài mấy giờ liền. Không ai biết họ nói với nhau những gì, chỉ biết sự đối đầu đã lên tột đỉnh. Khi Rudolph ra khỏi chỗ cha, viên tùy tùng thấy hoàng đế bị ngất xỉu. Chỉ có một thứ cảm xúc có thể tác động đến con người khô cứng thậm chí tàn nhẫn này.

Chiều hôm đó, Rudolph gặp Maria, và họ đi cùng nhau đến khu săn bắn cách Wien 40 km, Mayerling. Ở đó có ngôi nhà thấp một tầng, một chái kéo dài xuống thấp làm nơi ở cho đám gia nhân với một con chó, chuồng ngựa và kho thóc.

Rudolph và Maria ở đó qua đêm 29 sang 30 tháng 1 năm 1889. 6 giờ sáng, thái tử mặc áo choàng đi ra khỏi phòng. Chàng đi tìm người hầu Johann Loschek, bảo anh ta đánh thức mình sau một giờ nữa, rồi vừa huýt sáo vừa đi vào trong.

7 giờ, người hầu gõ cửa. Không có phản hồi. Anh ta đi lấy một thanh gỗ và đập mạnh trong vòng mươi phút. Phía trong vẫn là sự im lặng chết chóc. Loschek đi tìm bá tước Hoyos, bạn thân của Rudolph. Do sự có mặt của cô gái, vấn đề trở nên tế nhị. Bá tước quyết định tìm đến một người có kinh nghiệm hơn, công tước Philipp xứ Saxe-Coburg, người đi cùng họ đến Mayerling. Ông này không chút dao động. Ông ra lệnh cho người hầu đóng cửa ra vào.

Khi Johann Loschek phá cửa xông vào phòng là 7 giờ rưỡi. Anh ta khựng lại, vô cùng kinh hãi. Hai xác chết nằm trong vũng máu. Maria Vetsera nằm trên giường, trong đám tóc rối tung có những bông hoa, một bông hồng đặt giữa hai bàn tay chéo nhau trên ngực. Quận công Rudolph nằm dưới chân bàn ở đầu giường. Cả hai đều bị bể đầu. Tay phải người đàn ông trẻ vẫn nắm khẩu súng ngắn. Trên chiếc bàn hộp có hai bức thư. Một bức ký tên Maria Vetsera và đề gửi cho mẹ nàng, trong đó viết: “Hiện giờ hai chúng con đang muốn biết thế giới bên kia ra sao. Hãy tha lỗi cho con vì điều con đã làm, con không thể cưỡng lại tình yêu.” Vẫn nét chữ đó còn viết một câu trên chiếc gạt tàn để bên cạnh: “Dùng súng thì chắc tốt hơn dùng thuốc độc.” Còn Rudolph thì viết cho mẹ và chị gái Valerie. Đó là một bức thư dài, với những lời vĩnh biệt lạ lùng để giải thích mọi việc, trong đó có những câu “Con không còn quyền để sống” và “Con chết mặc dù không muốn”. Cuối cùng, chàng nêu nguyện vọng được chôn cất bên cạnh Maria trong nghĩa trang nhà thờ xứ Heiligenkreuz gần Mayerling.

Bá tước Hoyos lãnh trách nhiệm đáng ngại là thông báo về thảm kịch cho hoàng gia. Một lần trong cung ông này đến tìm bá tước Eduard Paar, cố vấn trưởng của Franz Joseph. Hai người bàn nhau phải báo cho hoàng hậu trước tiên. Bà đang học tiếng Hy Lạp và bảo nói lại là không được quấy rầy bằng bất kỳ lý do nào. Nhưng Hoyos đã trái lệnh và cứ xông vào phòng nữ hoàng.

Thấy bá tước, hoàng hậu đã sắp nổi trận lôi đình, song bà chững lại khi nhìn thấy vẻ thất thần trên mặt ông ta. Hoyos tâu rõ sự tình với hoàng hậu. Bà phải cố hết sức để khỏi ngất xỉu, rồi yêu cầu ông này theo bà đến dinh hoàng đế. Cả hai tâu lại với Franz Joseph, và ông này, mặc dù tính cách cứng rắn, đã bật khóc nức nở.

Còn Stephanie thì không tỏ ra bị bất ngờ. Nàng đã chờ đợi một kết cục như vậy từ khi Rudolph đề đạt cùng tự sát. Một cuộc cãi lộn gay gắt đã nổ ra. Vua và hoàng hậu trách nàng đã không giữ chồng, còn nàng thì viện cớ chàng thừa kế tính cách dòng họ Wittelsbach.

Ngay sau đó, hoàng đế Franz Joseph phái một đoàn chuyên gia y học đến Mayerling để khám nghiệm tử thi. Cùng ngày, bác sỹ Hermann Widerhofer đến tâu trình về tấn thảm kịch.

“Tất nhiên thái tử không đau đớn, tâu Nương Nương. Viên đạn bắn thái tử đã xuyên vào hộp sọ làm nát óc. Cái chết xảy ra tức thời.”

Franz Joseph không tin.

“Nó không tự sát. Nó không làm vậy. Đó là cô ta, thứ tạo vật đó, nó đã giết con ta rồi tự kết liễu đời mình.”

Bác sỹ Widerhofer không che giấu.

“Không thể thế được, thưa Nương Nương. Cô gái trẻ đã bị giết trước, điều đó không có gì đáng ngờ. Cô ấy nằm dài trên giường, các ngón tay đan vào nhau, lại còn bông hồng cài giữa hai bàn tay nữa.”

Nhà vua quyết định giấu sự thật và cho công bố trên báo chí một thông cáo chính thức như sau: “Do bị tắc mạch máu, thái tử hoàng gia đã qua đời.” Vẫn với tinh thần như vây, ông ta soạn một bức thư tay gửi đến nguyên thủ các nước: “Vô cùng nặng nề, tôi có nghĩa vụ đau buồn phải tuyên cáo với quý ngày về cái chết của con trai tôi, hoàng thái tử Rudolph, do bị tràn máu tại Mayerling, nơi nó đến để săn bắn.”

Cùng lúc, các báo ra thông cáo thận trọng cũng theo lối đó về cái chết của Maria Vetsera vào ngày 29 tháng 1 tại Venesia sau một thời gian ngắn lâm bệnh và thi thể được mai táng tại hầm mộ gia đình ở Bohemia.

Tuy nhiên, do sự thật vẫn lộ ra ngay từ đầu bởi những sự rò rỉ, hoàng gia quyết định thừa nhận việc tự sát, nhưng vẫn im lặng về sự có mặt của Maria. Về vấn đề Rudolph có quyền hưởng nghi lễ mai táng tôn giáo hay không, hoàng gia đã tuyên bố rằng chàng đã mất quyền đó khi quyết định tự sát.

noi-phat-hien-xac-chet

Ngôi nhà nghỉ trong rừng, nơi được cho là Rudolph và Marie José đã tự sát

Tiếp theo là một thông báo với giọng điệu lạ lùng, thách thức nền khoa học đương thời: “Thái tử tự sát bằng một viên đạn bắn vào đầu. Những tổn thương tìm thấy ở các nếp nhăn của vỏ não là dấu hiệu cho thấy một trí tuệ mất bình thường và cho phép giả định rằng vụ tự sát xảy ra trong cơn điên.” Dựa vào đó, nhà thờ đồng ý với nghi lễ tôn giáo, nhưng người ta bàn tán nhiều về tác động mà việc nói đến bệnh điên của con trai có thể gây ra cho Sissi.

Đối với hoàng hậu, đây là vụ giết người. Ngoài nỗi đau mất đứa con trai mà bà yêu dấu, bà còn cảm thấy mình có tội. Chính là dòng máu Wittelsbach, dòng máu của Ludwig II xứ Bayern và của chính bà đã gây nên tất cả. Trong nhiều ngày bà đã khóc trên quan tài, trong nhiều tháng bà khóc trên mộ. Bà không sao thoát khỏi bi kịch, và càng đi du ngoạn nhiều hơn với mong muốn tìm được bình yên. Bà chỉ tìm được 10 năm sau, tại Geneva, dưới lưỡi dao của một kẻ điên.

Người ta đã tổ chức cho quận công Rudolph xứ Habsburg một cuộc tang lễ rất hoành tráng. Chàng đã không được an nghỉ ở nghĩa trang Heiligenkreuz cạnh Maria, mà ở hầm mộ Capucins của hoàng gia ở Wien,

Còn Maria Vetsera, nàng được chôn cất bí mật ở Heiligenkreuz. Hoàng đế đã cử hai người tìm cách làm cho xác nàng biến mất. Hai người này tìm được kẻ bất hạnh ở phòng đợi, dưới đống quần áo. Nàng bị lột hết áo quần, và không ai nghĩ đến việc mặc lại cho nàng. Hai người này liền mặc lại quần áo cho nàng rồi đưa nàng sang nghĩa trang gần nhất.

Một thời gian dài không có một công trình tưởng niệm nào, thậm chí không có lấy một tấm bia đơn giản được đặt trên mộ nàng. Mẹ nàng lần nào đến viếng nàng cũng phải xin phép cảnh sát. Phải rất nhiều năm sau, sự cấm đoán mới được gỡ bỏ. Maria Vetsera được an nghỉ vĩnh viễn. Trên bia mộ nàng được khắc dòng chữ lấy từ Kinh Thánh: “Như một bông hoa, con người đến rồi đi.”

*

Trên thực tế, điều gì đã xảy ra ở Mayerling sáng ngày 30 tháng 1 năm 1889?

Đây là một trong những vụ án nổi tiếng nhất mọi thời đại. Nó đã làm nảy sinh hàng loạt công trình khảo cứu và tạo chủ đề cho 3 bộ phim có tiếng vang: “Mayerling” năm 1936 với Charles Boyer và Danielle Darrieux, “Bí mật của Mayerling” năm 1948 với Jean Marais và Dominique Blanchar, và “Mayerling” năm 1968 với Omar Sharif và Catherine Deneuve.   

Còn những sử gia, họ nêu ra đủ loại giả thuyết. Và bây giờ, chúng ta sẽ xem xét chúng, từ những cái mông lung nhất đến những cái có lý nhất.

Hai trong số những giả thuyết khác thường nhất khẳng định đó chính là mưu đồ của hai người yêu nhau. Cả Rudolph và Maria đều không chết tại Mayerling. Vì mối tình của họ là không được phép ở Áo, họ quyết định bỏ quê nhà để được sống cùng nhau một cách bí mật nên đã tạo ra một thảm kịch giả. Xác Rudolph thực ra là của một người lính Áo, còn của Maria thì đơn giản là bức tượng sáp. Họ mặc đồ của mình cho chúng rồi ra đi tìm hạnh phúc. Thấy việc đã rồi, hoàng đế và chính quyền đã im lặng để khỏi gây tai tiếng.

Về giả thuyết này, chỉ có thể nói rằng nó hoàn toàn phi thực tế. Rudolph không thể nào có được sự đồng lõa để thực hiện một kế hoạch như vậy, và cách thức ra đi kiểu đó không giống tính cách chàng. Đó là một câu chuyện mơ mộng, nhưng không phải lịch sử.

Phương án tiếp theo càng quá viển vông. Nó biến Rudolph và Maria thành bán huynh muội. Ngoại hình của họ rất giống nhau, và mối liên hệ này giải thích về cuộc gặp đau lòng giữa Rudolph và Franz Joseph. Nhà vua tiết lộ cho con trai biết ông ta là cha của Maria Vetsera, và do đó việc ông ta ngất đi là dễ hiểu, vì rằng đó là chuyện giữa con trai và con gái ông ta. Về phía Rudolph, sau khi biết mình đã vô tình phạm tội loạn luân, chàng chỉ còn cách chọn cái chết, nên mới có những câu đầy vẻ bí ẩn: “Con không còn quyền để sống” và “Con chết mặc dù không muốn”.

Tất cả những thứ trên thật hấp dẫn. Các sử gia thậm chí còn thử chứng minh rằng bà Vetsera đã sống cách ly với chồng trong nhiều tháng ngay trước khi sinh Maria. Trong thời gian đó, bà thường xuyên gặp gỡ những người của triều đình. Nhưng giả thuyết này có thể bác bỏ ngay do tính cách của Franz Joseph, và người ta biết rõ rằng ông ta không thể có con rơi. Một khi ông ta đã ra lệnh cho Rudolph phải cắt đứt với Maria Vetsera thì không cần phải tưởng tượng ra chuyện loạn luân.

Tuy nhiên, dù sao thì giả thuyết vè sự loạn luân cũng không mâu thuẫn với giả thuyết về tự sát đôi, mà dù nguyên nhân chính xác là gì thì bây giờ ta cũng thử xem xét.

Ở đây rõ ràng ta đã có cơ sở chắc chắn hơn nhiều. Đây là khẳng định chính thức của chính quyền Áo, sau khi họ phủ nhận về cái chết tự nhiên, và đây cũng là phương án được chấp nhận bở ba bộ phim, trong đó Mayerling là câu chuyện về một mối tình không được phép mà chỉ có thể kết thúc bằng những cái chết, giống như Tristan và Yseult hay Romeo và Juliet. Đây cũng là phương án mà mãi đến gần đây các sử gia đều nhất trí với nhau, và gạt bỏ mọi giả thuyết khác.

Cần nói rằng có lý do để làm như vậy. Rudolph xứ Habsburg có đủ mọi đặc trưng của kẻ tự sát đã suy sụp. Quá thất vọng vì những bất đồng sâu sắc với cha, người đã tước hết quyền hành của chàng, kiệt quệ vì bệnh tật do lạm dụng rượu và morphine, lại bất an do tính cách thừa kế từ dòng họ Wittelsbach, chàng không ngừng nói về cái chết với những người quanh chàng. Chàng luôn trong trạng thái nặng nề. Vài ngày trước thảm kịch, khi làm phụ tá trong cuộc tập trận lớn của quân đội, chàng đã tuyên bố:

“Tôi sẽ không bao giờ là vua nước Áo.”

Còn Maria Vetsera, kẻ đã điên đầu vì chàng và dám cả gan thách thức Stephanie, thì sẵn sàng làm mọi điều mà chàng yêu cầu. Cuộc gặp với Franz Joseph đã chấm dứt mọi hy vọng. Rudolph đã gặp cô gái say mê chàng đến mức có thể chết theo chàng và chàng đã thực hiện cuộc tự sát đôi mà chàng đã từng mơ ước.   

Trong những điều kiện như vậy, thảm kịch Mayerling chỉ là bi kịch của người đẹp, giống như xảy ra trong mọi gia đình, dù là hoàng tộc hay dân thường.

Tuy nhiên, đến nay thì phương án mà các sử gia ưu tiên hơn không phải là tự sát đôi, mà là ám sát đôi! Sự chán đời của Rudolph, những tuyên bố mà chàng đưa ra, cuộc cãi lộn với cha sau khi Maria gây ra vụ tai tiếng, tất cả đều có lợi để những kẻ giết người làm người ta tin là vụ tự sát. Nhưng mọi việc đã khác đi: Mayerling không còn là bi kịch tình yêu mà là vụ giết người hoàn hảo.

Ngay từ đầu đã có những dấu hiệu dẫn đến suy đoán về một vụ ám sát mà sau đó người ta đã bỏ sót. Thi thể Rudolph mang rất nhiều dấu vết của bạo lực. Bà cô Maria Theresia của chàng kể rằng sọ chàng bị thủng giống như bị đập rất mạnh. Thực tế là các bức ảnh chụp chàng khi nằm trong nhà táng cho thấy đầu chàng bị băng bó kín. Điều đó cho thấy không thể đổ lỗi cho tác động của một viên đạn. Đôi bàn tay chàng cũng thể hiện những dấu vết của sự vật lộn. Chị gái chàng, nữ quận công Gisele, cũng nói rằng cổ tay chàng bị cắt đứt. Chắc chắn đó là lý do để chàng được chôn khi mang bao tay đen.

Mặt khác, ở Mayerling, nơi cảnh sát đã không hề tiến hành điều tra, một cửa sổ phòng đã bị đập bể từ bên ngoài. Ngoài ra, cũng trong phòng này, theo lời người thợ mộc Friedrich Wolf, người có mặt tại hiện trường và khai khác với những nhân chứng khác, thì đồ gỗ đã bị xáo trộn và hư hại, và có vết máu khắp nơi. Cuối cùng, khẩu súng ngắn đã được dùng mà người ta thấy trong tay Rudolph không phải của thái tử, cái từng nằm trên bàn đầu giường mà chàng từng dùng để dọa vợ.

Trong thời gian đầu, giả thuyết ám sát được nhiều giới thạo tin ưu tiên hơn. Vatican cũng tin và đó là lý do để họ dễ dàng chấp thuận lễ tang tôn giáo. Ngày 9 tháng 2 năm 1889, đại sứ Đức ở Wien báo cáo về cuộc trao đổi với sứ thần của tòa thánh Mgr Luigi Galimberti và cha tuyên úy Mgr Lorenz Mayer: “Cả hai ngài đều biểu thị sự nghi ngờ sâu sắc về giả thuyết tự sát.” Cũng trong thời gian đó, thủ tướng Anh quốc, ngài Salisbury, tâu lên nữ hoàng Victoria rằng việc tìm hiểu tình hình của ông đã củng cố bằng chứng về vụ ám sát đôi.

Cuối cùng, vào năm 1959, các chuyên gia Áo cùng với một thành viên gia đình Maria Vetsera đã kiểm tra hài cốt dưới mộ nàng. Họ phát hiện ra hộp sọ thiếu phụ bị vỡ, và chỉ có thể là do bị đập bởi một vật nặng kiểu như dùi cui hoặc búa chứ không thể là bởi một viên đạn.

Tuy nhiên, cái làm cho các nhà sử học nghiêng sang giả thuyết ám sát là sự can thiệp của quý bà Zita xứ Bourbon-Parma. Bà quyết định lên tiếng vào năm 1983, lúc 91 tuổi.

Zita xứ Bourbon-Parma vào năm 1911 đã cưới quận công Karl xứ Habsburg, cháu của Franz Joseph, người được biết dưới tên hiệu Karl I, và từ 1916 đến khi chết vào năm 1918 là vua nước Áo. Bà cũng là hoàng hậu cuối cùng của nước này. Vào lúc xảy ra thảm kịch, bà chưa ra đời, nhưng bà đã được nghe rất nhiều chuyện tại những phiên tòa, tất cả đều theo một tinh thần chung. Và đây là một câu chuyện là đã kể lại khi làm chứng:

“Khi tôi 12 tuổi, tôi tình cờ nghe nữ quận công Gisela, em gái Rudolph, và cô tôi là Marie José nói chuyện với nhau. Là vụ ám sát, em gái Rudolph nói, sao người ta không trừng trị bọn tội phạm? Ai nói với cô thế? Cô tôi hỏi. Gisela trả lời: Tôi đã đòi được có mặt lúc mở quan tài anh tôi, và xem kỹ thi hài anh ấy. Nếu Rudolph tự sát thì phải có dấu vết ở vùng thái dương chứ. Đây không phải trường hợp như vậy, mà dễ thấy phát súng được bắn từ khoảng cách xa hơn. Lúc đó, cô tôi thở dài và nói: Phải, đúng vậy, nhưng tôi khuyên cô đừng bao giờ nhắc lại chuyện này.”

Trong một lần thú nhận công khai, cựu hoàng hậu Zita cũng dẫn lời chứng của nhiều người khác. Đặc biệt có lời của viên phụ tá của hoàng đế, bá tước Eduard Paar, người từng tham gia cuộc trò chuyện giữa Franz Joseph và nữ quận công Maria Theresa:

“Sao bệ hạ có thể chấp nhận giả thuyết về tự sát, trong khi điều này làm hoen ố hồi ức về con trai bệ hạ?” Nữ quận công hỏi.

Hoàng đế hạ rất thấp giọng trả lời:

“Ta không thể làm khác được. Cái đó có liên quan đến ngai vàng, đến số phận của nền quân chủ và sự ổn định của cả châu Âu. Ta không thể tiết lộ sự thật mà không tạo cớ cho một cuộc xung đột nghiêm trọng ở bình diện quốc gia và quốc tế. Có lẽ về mặt đạo lý ta không có quyền hành động như vậy. Nhưng hãy tin rằng lúc nào ta cũng nghĩ về những thời khắc kinh hoàng mà Rudolph tội nghiệp của ta phải trải qua…”

Franz Joseph phải nói thêm rằng ông ta đã cho ghi chép lại tất cả những gì liên quan đến thảm kịch Mayerling và rằng sau khi ông ta chết, mọi tài liệu phải được công bố để khôi phục danh dự cho con trai. Zita nói thêm rằng sau khi đăng quang, Karl I chồng bà đã muốn biết sự thật, nhưng không được. Có thể vì tài liệu đã bị mất, cũng có thể vì chúng không hề tồn tại. Cuối cùng, hoàng hậu giải thích rằng chồng bà đã làm mọi việc để tập hợp những chứng cứ cho thấy Rudolph đã bị giết, nhưng không thành công. Chiến tranh khốc liệt đã không cho ông có đủ thời gian…

Nếu giả thuyết ám sát có lý thì cần biết rõ danh tính kẻ phạm tội. Về kẻ thực thi, mọi nghi ngờ đều dồn về tên gia nhân Johann Loschek và chắc chắn còn có những kẻ tòng phạm. Y biết rõ vị trí của các nạn nhân vì đã ra vào đó nhiều lần cùng thái tử. Sự kiện là không ai – theo lời y thì kể cả chính y – nghe thấy hai tiếng súng, cũng chứng tỏ là khoảng cách khá xa. Có điều, kể cả khi chấp nhận rằng chính ý đã làm việc đó thì danh tính kẻ ra lệnh cũng rất khó xác định.

Vì sao người ta giết Rudolph xứ Habsburg? Câu trả lời là rõ ràng: vì các lý do chính trị. Nếu Rudolph, một người có tư tưởng tự do, ghét tinh thần Đức, thân Pháp và Anh, nối ngôi Franz thì chàng sẽ gây ra sự xáo trộn đáng sợ ở cả châu Âu, thậm chí cả thế giới. Mọi người đều biết, với cớ tranh chấp lãnh thổ vùng Alsace-Lorraine (Elsass-Lothringen) xung đột Pháp-Đức sớm muộn cũng nổ ra. Có thể hình dung điều gì sẽ xảy ra khi Áo đứng về phía Pháp.

Tuy nhiên, còn có những kẻ khác mà Zita xứ Bourbon-Parma nghi ngờ dính líu, trong khi luôn nói rằng kẻ kia hành động theo ý đồ cá nhân và bà không có chứng cứ. Clemenceau đã bày mưu để trợ giúp Cornelius Herz, người Mỹ gốc Bayern và là người có nhiều âm mưu đen tối. Herz được cử đến Áo để thực hiện một cuộc đảo chính. Ông ta hành động nhằm lật đổ Franz Joseph và đưa Rudolph lên ngôi. Rudolph bị cuốn vào cuộc, nhưng đã từ chối vì lòng trung hiếu. Khi đó, chính chàng trở thành mối đe dọa và cần phải bị thủ tiêu.

Giả thuyết này được chấp nhận với nhiều sự thận trọng. Một âm mưu như vậy là quá ngông cuồng. Để thành công thì nó phải dựa vào sự đồng thuận của xã hội Áo, mà điều này thì không thể nào có được. Chính Zita thì nghiêng về giả thuyết này. Bà ghét Clemenceau, kẻ đã từ chối đề xuất hòa bình mà Karl I chia sẻ, dẫn đến hủy hoại toàn bộ sự nghiệp chính trị của ông.

Trong số những ý tưởng về vụ việc còn có “dấu vết Hung” mà ban đầu bị các sử gia bỏ qua. Đế chế Áo khi đó được gọi là Áo-Hung. Đó là một nhà nước lưỡng thể, trong đó người Áo chiếm đa số lấn át người Hung. Thái tử Rudolph, một kẻ không thể uốn nắn, có tư tưởng nổi loạn cả về đối nội lẫn đối ngoại. Tình thế làm chàng nổi giận. Chàng chỉ muốn đem lại độc lập cho Hungary. Chàng có rất nhiều mối liên hệ với lực lượng đối lập người Hung. Nhưng người Hung đã tổ chức một phong trào đòi thay đổi căn bản hơn. Những nhà cách mạng người Hung sẽ tìm thái tử và ép thực hiện âm mưu lật đổ Franz Joseph và đưa Rudolph lên ngai vàng. Nhưng Rudolph, một đứa con hiếu kính, đã tiết lộ hết với vua cha, và vụ ám sát chính là sự trả thù của người Hung.

Tuy nhiên, giả thuyết này cũng gặp sự phản đối giống như cái giả thuyết mà đã làm người Pháp nghi ngờ. Nếu người Hung theo đuổi những kế hoạch của họ thì họ không có lý do gì để trừ khử thái tử, người sớm muộn cũng thừa kế ngai vàng và sẽ thực thi chính sách theo ý chàng.

Thực tế, theo suy luận “kẻ nào được lợi vì vụ phạm tội” thì sẽ có lý khi nghĩ đến cánh thù địch mà sự tồn tại của Rudolph tạo ra mối nguy cho họ.

Theo một giả thuyết khác thì kẻ ra lệnh ám sát phải là thủ tướng Đức Bismark, kẻ thấy bất an vì thái độ thân Pháp của thái tử. Nhưng người ta cũng nghĩ đến cả “dấu vết Áo” mà hoàng hậu Zita đã cố tình không nói đến. Theo hướng này thì vụ giết người là ý đồ của một nhóm làm dịch vụ bí mật hoặc một vài người trong hoàng cung mà Franz Joseph không được biết, hoặc của chính hoàng đế, người hy sinh đứa con trai với cớ vì quốc gia. Ông ta đã đi đến quyết đinh như vậy trong lần gặp mà Rudolph đã dọa sẽ dùng đến biện pháp cực đoan. Điều đó cũng giải thích việc ông ta ngất xỉu khi họ chia tay nhau.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là giả thuyết, và sau khi hoàng hậu Zita qua đời vào năm 1989, tròn một thế kỷ sau thảm kịch Mayerling, người ta tin rằng bí mật của nó vĩnh viễn không bao giờ được tiết lộ.

NGUYỄN TRẦN SÂM

(dịch từ cuốn La Terrible Vérité của Pierre Bellemare, nxb France Loisirs, 2008)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s