CÔNG CHÚA ANASTASIA hay THIẾU PHỤ BÍ ẨN Ở BERLIN

anastasia-2

Tối ngày 17 tháng 2 năm 1920, một cảnh sát viên Berlin vớt được cô gái tuyệt vọng lao mình xuống dòng kênh Landwehr. Cô gái chừng 20 tuổi này được dẫn đến đồn, ở đó cô từ chối cung cấp thông tin về thân phận và không ngớt lời kêu ca:

“Ai khiến các người cứu tôi!”

Cô nói tiếng Đức với phát âm ghé tiếng Nga. Rõ ràng cô đang trong trạng thái chán nản và lo buồn.

Người ta đưa cô tới trại tị nạn gần nhất, trại Dalldorf. Ở đó, cô vẫn không cho biết cô là ai, khi thì nói là không muốn, khi thì nói là quên. Bác sỹ Rudnev, người thăm khám cho cô, đã mô tả chính xác và chi tiết tình trạng của cô như sau:

“Bệnh nhân có nhận thức về không gian và thời gian. Cô tỏ ra rất đau buồn.Cô quả quyết rằng cô phải giấu tông tích vì sợ trả thù. Rõ ràng cô đã chán sống: cô không chịu ăn, và người ta buộc phải đưa thức ăn vào cơ thể cô. Cô ghét gặp mọi người. Cô tìm mọi cách để tránh bị nhận ra. Bất chấp đau đớn, cô tìm cách đập gãy răng cửa va liên tục thay đổi kiểu tóc. Mặc dầu vậy, cô có vẻ đáng mến và có tư cách, được giáo dục hoàn hảo. Cô luôn nhìn ra xa, đôi khi tỏ vẻ kiêu kỳ.”

Hàng tháng trôi qua, và không có gì thay đổi trong cách xử sự lạ lùng của cô gái. Cô bước đi như chiếc bóng hao gầy dọc hành lang và trong khu vườn của bệnh viện tâm thần Dalldorf. Nhưng cô vẫn không xấu đi. Thậm chí cô còn rất đáng yêu với vẻ u buồn, kết quả của một thử thách khốc liệt.

Đến ngày 30 tháng 10 thì xảy ra một sự kiện bất ngờ. Cuối cùng thì cô gái xa lạ cũng giao tiếp với một nữ bệnh nhân khoảng 40 tuổi, bà Marie Peuthert. Ban đầu, bà này thử nhẹ nhàng gợi chuyện, nhưng không có kết quả… Hai người ngồi trên ghế băng trong vườn cây. Cô gái xa lạ đọc một tờ tin, người kia ngồi nhìn cô. Bỗng xảy ra điều không thể tin được. Mặc dù cho đến bây giờ cô gái không thể hiện cảm xúc gì, nhưng giờ đây toàn thân cô run lẩy bẩy, và tờ tin trên tay cô cũng rung lên bần bật. Cô lắp bắp:

“Không, không đúng!”

Marie Peuthert cúi nhìn tờ tin và thấy một bức hình chiếm nửa trang giấy. Đến lượt bà này ngẩng lên nình cô gái và kêu lên:

“Không đúng!”

Đúng lúc đó đã bắt đầu một trong những bí ẩn lớn nhất của thế kỷ XX, làm cả thế giới phải quan tâm trong 70 năm trời.

Bài báo mà cô gái xa lạ đang đọc dở liên quan đến sự kiện bi thảm xảy ra cách đó không lâu: vụ ám hại Sa hoàng và toàn thể hoàng gia do những người bolshevik thực hiện vào đêm 16 rạng 17 tháng 7 năm 1918. Nikolai II, cựu hoàng của người Nga và gia quyến khi đó bị nhốt trong một tòa nhà biệt lập ở Ekaterinburg, vùng núi Ural. Lúc đó là 12 rưỡi đêm. Quân đỏ đã thủ mấy giờ liền. Quân trắng khép chặt vòng vây quanh thành. Súng ngắn lăm lăm trong tay, đội trưởng quân đỏ Yurovsky dẫn theo khoảng chục người xông vào căn phòng nhốt hoàng gia. Anh ta hạ lệnh:

“Tất cả xuống dưới!”

“Xuống dưới” nghĩa là xuống căn phòng nhỏ dưới tầng ngầm. Đám tù nhân đang run bắn vì sợ hãi gồm 11 người: vua, thái tử được vua dắt theo, hoàng hậu, bốn công chúa Olga, Tatiana, Marie và Anastasia, người hầu gái của hoàng hậu, thái y và hai người hầu. Đội trưởng Yurovsky tiến lại gần Nikolai II. Anh ta nâng súng lên.

“Rất tiếc, chúng tôi buộc phải bắn các vị.”

Và anh ta găm một phát đạn vào giữa hai lông mày Sa hoàng. Tiếp sau là một cuộc thảm sát thực sự. Những tiếng súng vang lên giữa những tiếng kêu gào thảm thiết. Rồi tất cả im lặng, chỉ còn tiếng rên rỉ thoát ra từ một tấm thân đầy máu. Đó là công chúa trẻ nhất, Anastasia. Quân đỏ lao đến, thi nhau dùng lê đâm vào đó.

Cảnh ghê rợn vẫn chưa chấm dứt. Những thi thể được chất lên một chiếc xe tải và được chở vào rừng. Tại đó, chúng bị lột hết áo quần, bị đâm chém, rồi bị đốt bằng acid sulfuric và xăng, và tro cốt được đổ xuống một cái giếng của một hầm mỏ đã bỏ hoang.

Một thời gian sau tại nơi đó, quân trắng đã tìm thấy di vật không thể chối cãi của những nạn nhân: dây lưng của vua và hoàng tử, áo ngực và đồ nữ trang của 6 phụ nữ. Nhưng thi thể thì không còn tìm lại được.

Marie Peuthert hết nhìn lên mặt cô gái xa lạ lại nhìn xuống bức hình trong tờ tin. Đó là bức hình hoàng gia vào thời huy hoàng. Bốn công chúa đẹp lộng lẫy. Rồi bà chỉ tay vào cô gái và kêu lên:

“Anastasia, là cô!”

Cô gái không trả lời và bỗng bật khóc nức nở.

*

Cuối tháng 3 năm 1922.

Trong một căn hộ sang trọng, một người đàn ông tầm 50 tuổi với dáng vẻ quý tộc đến gặp thiếu phụ xa lạ với vẻ cung kính. Đó là nam tước Kleist, cựu cảnh sát trưởng thời Sa hoàng. Nguyên do là vì bà Marie Peuthert đã loan báo cái tin chấn động, và rất nhiều người Nga lưu vong ở Berlin đã đến trại tị nạn Dalldorf. Một số khẳng định đó là Anastasia, số khác thì không. Chính thiếu phụ thì không nói gì, không trả lời câu hỏi nào của họ. Cô chỉ khóc hoài. Nam tước Kleist, vốn tin rằng đó là công chúa, đã quyết định bảo lãnh cho cô. Ông nhẹ nhàng nói với cô:

“Nào, xem cô là ai nào. Thử cố nhớ lại xem.”

Thiếu phụ lấy khăn lau nước mắt.

“Tôi không biết… Tôi không nhớ…”

“Thì hãy nói riêng với tôi tên cô là gì.”

Và điều kỳ diệu đã xảy ra! Câu trả lời thoảng qua như làn gió, nhưng rất rõ ràng:

“Anastasia.”

Nam tước suýt nữa để lộ cảm xúc, nhưng ông biết phải giữ bình tĩnh để không làm người bệnh bị chấn động.

“Cô sẽ nhớ lại hết. Điều gì đã xảy ra, thưa công chúa?”

Thiếu phụ run bắn từ đầu đến chân.

“Chúng tôi kêu khóc. Tôi trốn sau lưng chị Tatiana rồi ngã xuống. Rồi tôi nghe thấy súng nổ và ngất đi…”

Cô nghẹn lời vì kinh hãi, rồi cố nói tiếp:

“Một người lính đã cứu tôi. Tôi tỉnh dậy trong nhà anh ấy. Anh ấy tên là Aleksandr Chaikovsky.”

Và cô kể lại câu chuyện qua nước mắt. Cô chạy trốn cùng anh đến Bucarest. Tháng 12 năm 1918, cô có con với anh, và một tháng sau họ kết hôn. Nhưng chồng cô qua đời sau đó ít lâu: anh bị bắn một cách bí ẩn bởi những kẻ lạ mặt trên đường phố. Cô liền đến Berlin và trú ngụ tại nhà bà cô Irène de Prusse. Nhưng cô thấy nhục nhã vì những gì đã xảy ra nên đã gieo mình xuống dòng kênh.

Tin này lan truyền khắp các nước. Hai nhóm người nhanh chóng hình thành, trả lời có hay không đối với câu hỏi: Thiếu phụ bí ẩn này có phải là công chúa Anastasia hay không? Một câu hỏi tế nhị khác là về số tiền 10 triệu dollars mà Nikolai II gửi nhà băng ở Anh và nay Anastasia là người thừa kế duy nhất. Tuy nhiên, chính quyền Anh tuyên bố: Sa hoàng không gửi xu nào ở các nhà băng của Nữ hoàng Anh.

Dù kiểu gì thì từ khắp châu Âu, thậm chí cả từ châu Mỹ, những thành viên hoàng gia Nga và những người thân cận cũng kéo đến để gặp thiếu phụ xa lạ. Người trong hoàng tộc hầu hết đều phủ nhận: không, đó không phải Anastasia. Chỉ có nữ công tước Ksenia và thái công Andrey là xác nhận cô là con gái thứ của vua. Những người thân cận cũng chia sẻ nhận định này. Mặt khác lại có những chi tiết rất đáng nghi hoặc. Bác sỹ Rudnev, vốn là thái y, hỏi thiếu phụ, với hy vọng cô nhận ra mình đã nhầm lẫn:

“Cô đã làm gì trong ngày tuyên chiến?”

Thiếu phụ khẽ cười:

“Ô, thật xấu hổ! Tôi và chị gái chơi trò vớ vẩn. Chúng tôi ném những tờ giấy vo viên lên người đi đường.”

Một chi tiết chưa được khám phá: chính bác sỹ Rudnev đã nhận được một viên giấy khi đi qua dưới cửa sổ phòng công chúa.

Félix Dassel, đội trưởng kỵ binh, là người từng được chăm sóc trong thời kỳ chiến tranh tại viện quân y Tsarskoye Selo, nơi Anastasia và các chị em gái làm hộ lý.Khi mới gặp cô gái, ông này còn thực sự ngờ vực. Ông đã chuẩn bị sẵn một loạt các câu hỏi gài bẫy.

“Cô đã từng rất thân thiện với tôi, thưa công chúa. Ngày nào cô cũng cùng chị em gái và thái tử đến phòng ngủ của tôi.”

Người đối thoại nhẹ nhàng ngắt lời:

“Ô, ông nhớ nhầm rồi. Chúng tôi chỉ đến phòng ông mỗi tuần vài lần, và em trai tôi có bao giờ đi cùng chúng tôi.”

Vị cựu đội trưởng kỵ binh lắp bắp:

“Đúng quá!”

Im lặng một lát, rồi Félix Dassel tung ra cái bẫy thứ hai:

“Công chúa có nhớ cái bàn billard mà chúng ta đặt dưới tầng một không?”

Lại ngắt lời, vẫn bằng cái giọng nhẹ nhàng:

“Thấy chưa, nó ở dưới tầng trệt chứ. Ông quên hết rồi!”

Và câu chuyện giữa thiếu phụ trẻ với Félix Dassel cùng với những chi tiết được chính xác hóa được giới truyền thông chuyển tải nguyên vẹn. Như vậy liệu đã kết luận được thiếu phụ xa lạ này là công chúa Anastasia hay chưa?

Chưa, vì với những người khác thì kết quả hoàn toàn ngược lại. Thiếu phụ không nhận ra người hầu gái. Còn cuộc gặp với thái sư người Pháp của hoàng gia là Pierre Gillard thì thê thảm. Trong tất cả những người còn sống thì ông là người biết rõ Anastasia nhất. Họ đã sống bên nhau tới 13 năm liền. Mặc dù đã dạy dỗ tất cả các con của vua, nhưng chính cô mới là người mà ông quý mến nhất. Đó chính là lý do mà đại công nương Olga, em gái vua, kiên quyết yêu cầu ông đến gặp thiếu phụ:

“Nếu may mắn đó là cô bé ấy thì sao? Thế thì sẽ là tội lỗi nếu để nó phải chịu khổ một mình. Tôi xin ông, đến đó ngay đi.”

Vị thái sư lập tức thi hành. Khi ông tới nơi vào đầu mùa hè 1925, thiếu phụ không hề có phản ứng gì. Cô không nhận ra ông. Ông nói với cô bằng tiếng Pháp như trước đây, cô không trả lời. Ông lại dùng tiếng Nga, rồi tiếng Anh, vẫn không có kết quả. Chỉ đến khi ông nói tiếng Đức, cô mới trả lời. Cũng cần nói thêm rằng ngay từ đầu cô đã không nói một từ tiếng Nga nào. Rõ ràng cô hiểu tiếng Nga. Nhưng cô chỉ nói tiếng Đức. Mà Pierre Gillard thì biết rằng không thể như thế được. Ông nói với người đối thoại, còn cô thì đáp lại một cách tức tối:

“Ông biết là tôi đang học tiếng Đức mà.”

“Phải, công chúa Anastasia học tiếng Đức rất tốt, nhưng xin phép nói thẳng, vẫn chưa đâu vào đâu. Cô ấy còn chưa nói được câu nào chuẩn.”

Kết luận của vị thái sư thật đáng sợ. Theo ông thì người đóng giả công chúa Anastasia chỉ mới đến Berlin trước khi tự vẫn vài tháng. Việc quên tiếng Pháp và thậm chí cả tiếng Nga do bị chấn thương tâm lý là có thể, nhưng việc học tiếng Đức nhanh như vậy là không thể!

Dù sao thì thiếu phụ xa lạ ở Berlin hay quý bà Chaikovsky với tên khai sinh là Anastasia của nước Nga bây giờ cũng có cả những người ủng hộ và chống đối trên toàn thế giới. Trong một chuyến đi sang Mỹ, nàng lấy tên là Anna Anderson và quả quyết cắt đứt với vụ sắm vai con gái Sa hoàng.

*

Thời gian trôi đi, các sự kiện diễn ra đã cản trở tiến trình pháp lý của vụ việc. Phiên tòa thứ nhất được tiến hành năm 1938, trong đó Anna Anderson bị buộc tội giả mạo. Bà ta kháng cáo, nhưng vì chiến tranh nên mãi đến năm 1957 mới diễn ra phiên tòa thứ hai tại Hamburg, và kết quả vẫn mang tính phủ định. Phiên tòa thứ ba, vẫn ở Hamburg, kết thúc với kết quả như cũ. Kết cục, phiên tòa thứ tư và là giám đốc thẩm, được tiến hành năm 1970, tại tòa Karlsruhe, tòa án tối cao của Đức. Phiên tòa này giữ nguyên các phán quyết trước đó: Anna Anderson không phải là công chúa Anastasia.

Để biện minh cho cáo trạng, tòa đã nêu ra rất nhiều chứng cứ. Chứng cứ đầu tiên là: con gái thứ của Sa hoàng đã không sống sót trong vụ thảm sát.

Thực tế đúng là khó hình dung làm thế nào mà cô gái có thể thoát khỏi nơi đó, khi thi thể các nạn nhân bị lột hết áo quần, bị đâm chém và đốt bằng acid sulfuric và xăng? Làm thế nào mà Chaikovsky có thể đem cô đi khi bị vây quanh bởi hàng chục người bolshevik? Và cần nhớ rằng đã có 6 chiếc áo ngực được tìm thấy trong hầm, 6 chiếc, nghĩa là có 6 phụ nữ đã bị xử bắn: hoàng hậu, 4 công chúa và người hầu gái.

Ngay cả khi giả sử rằng Anastasia không bị bắn chết thì cô cũng bị đâm chết bằng nhiều nhát lê đâm. Hoặc nếu những nhát đâm không làm cô chết thì chúng cũng phải để lại những vết sẹo tròn trên cơ thể cô. Trong khi đó, việc thăm khám của bác sỹ chỉ cho thấy một vết sẹo ở bàn tay trái và một vết ở tai phải.

Mặt khác, về thiên tình sử với chàng Chaikovsky thì thiếu phụ không nói được gì. Không có dấu hiệu nào về việc cặp đôi đã đến Bucarest năm 1918, cũng như việc sinh con trai vào tháng 12 năm đó, chỉ 5 tháng sau khi họ gặp nhau. Không có dấu hiệu nào về vụ giết Chaikovsky ngay trên phố bởi những kẻ lạ mặt.

Đó là chưa nói đến những tuyên bố của Pierre Gillard: Không thể có chuyện Anastasia học thành thạo tiếng Đức trong vòng vài tháng. Hoặc một khảo sát của một giáo sư Thụy Sỹ đối với đôi tai của thiếu phụ. Đó là cách tốt nhất để xác định một con người, vì hầu như không thể có hai người với hai đôi tai giống hệt nhau. Kết quả vẫn là: Anna Anderson không phải Anastasia. Kiểm tra độ tuổi cũng vậy: theo các nhà y học thì thiếu phụ bí ẩn lớn hơn công chúa từ 5 đến 10 tuổi, v. v.

Những kết luận mà tòa án Karlsruhe rút ra là như vậy. Tuy nhiên, cho dù chúng có rất thuyết phục thì cũng không thể coi là đúng tuyệt đối.

Và quả nhiên, hai mươi năm sau, khi nhà nước Liên Xô giải thể, việc phát hiện ra những số liệu di truyền đã giải mã được điều bí ẩn này.

*

Không phải ngẫu nhiên mà khi tới Ekaterinburg quân trắng đã không tìm thấy quần áo và tư trang của hoàng gia trong các giếng ở mỏ. Quân đỏ vì sợ người ta phát hiện ra, đã quay lại chỗ đó và chuyển các xác chết tới một nơi khác cách đó khoảng chục cây số. Họ muốn cho chúng biến mất hẳn bằng lửa. Nhưng vì vội nên họ chỉ làm thế được với 2 thì thể, còn 9 thi thể còn lại thì họ đào huyệt, ném xuống đó rồi tưới acid sulfuric lên. Lỗ huyệt được đậy bằng những phiến gỗ và cành cây rồi được lấp kỹ, không để lại dấu vết nào. Trong hơn 60 năm, nơi này không hề bị phát hiện. Nhưng khi chính quyền ‘xô-viết’ sụp đổ thì những người tham gia tạo ra tấn thảm kịch đã nói ra. Vào tháng 7 năm 1991, chính quyền mới (tác giả hơi nhầm?) cho khai quật hài cốt hoàng gia. Trong huyệt có 9 bộ hài cốt. Chúng vẫn nguyên vẹn, do acid sulfuric đã ngăn chặn sự hoạt động của vi khuẩn và nấm. Sau một thời gian trì hoãn, xương cốt đã được đem nghiền thành bột.

Việc xác định danh tính các nạn nhân diễn ra chậm chạp, nhưng cuối cùng cũng thành công nhờ so sánh hình ảnh với hộp sọ. Những người bị chôn trong huyệt gồm thái y, ba người nhà, Nikolai II, hoàng hậu và ba công chúa Olga, Tatiana và Anastasia. Không có hài cốt của thái tử và công chúa Marie mà những người bolshevik đã thiêu hủy.

Kỹ nghệ gène đã khẳng định kết quả này. Ngày 15 tháng 9 năm 1992, hài cốt được giao cho một phòng thí nghiệm của bộ nội vụ Anh. Người gần gũi nhất của hoàng gia chính là công tước Philip, chồng của nữ hoàng Yelisaveta II, con của chị gái hoàng hậu. So sánh ADN của người này với của hoàng hậu, người ta đã xác định được bà này và ba con gái. Trong khi đó, danh tính Nikolai II phải xác định nhờ so ADN với đứa cháu đang sống ở Luân Đôn.

Lần này, vụ việc được giải quyết với toàn bộ sự chính xác của khoa học: công chúa Anastasia không sống sót theo cách bí ẩn nào đó trong vụ giết chóc ở Ekaterinburg. Cô chịu chung số phận với toàn thể hoàng gia và ngày nay được an táng tại pháo đài Petropavlovskaya ở Saint Petersburg cùng gia quyến.

Tuy nhiên, nếu sự thật lịch sử chỉ có vậy thì không giải mã được mọi bí ẩn của vụ việc.

Việc hai thành viên hoàng gia thừa nhận thiếu phụ là Anastasia không chứng minh được gì. Nữ công tước Ksenia của nước Nga đã rời quê sang Hoa Kỳ năm 1914, khi mới lên 10, còn thái công thì là tín đồ thuận thông linh, nên lời chứng của họ không thực sự nghiêm túc. Mặt khác, còn hai chi tiết đáng lưu tâm: những viên giấy được ném từ cửa sổ cung điện trong ngày tuyên chiến và chiếc bàn billard trên tầng một bệnh viện Tsarskoye Selo. Không ai có thể bịa ra những chuyện như vậy.

Không thể bịa, nhưng nó có thể được người ta để tâm hoặc không. Thế còn những người Nga lưu vong, họ nói gì khi được gặp lại? Đa số không nhớ gì nhiều. Còn từ năm 1922 thì Anna Anderson bắt đầu sống thường xuyên với họ, Những chi tiết này đã được một người nào đó nêu lại trong lúc chuếnh choáng hơi men trước mặt thiếu phụ…

Những điều nói trên là để giải mã điều bí ẩn về Anastasia. Nhưng điều bí ẩn về thiếu phụ xa lạ ở Berlin thì vẫn còn đó. Bởi nếu cô không phải công chúa nước Nga thì cô lại phải là ai đó khác. Thực sự là ngày hôm nay người ta đã biết đến bà một cách chắc chắn, và đây là một trong những khía cạnh đáng chú ý nhất của vụ việc.

Công lao giải mã bí ẩn này thuộc về một người duy nhất: thám tử người Đức Martin Knopf, người đã kiên trì tìm kiếm sự thật. Trong khi làm việc cho thái công Hesse, một hậu duệ của dòng họ Romanov, ông bắt đầu tiến hành điều tra vụ việc từ 1928. Khi kiểm tra từng nhân vật đã đến và rời Berlin trong năm 1920, ông phát hiện ra tên của thiếu phụ xa lạ. Một cái tên rất không phổ biến và rất khó phát âm: Franziska Schanzkowska, một nữ công nhân Ba Lan. Mọi thứ đều khớp: độ tuổi, thời điểm biến mất khỏi Berlin (trùng với thời điểm thiếu phụ tự vẫn dưới dòng kênh)… Vào thời kỳ này, Franziska Schanzkowska đang trú ngụ ở Berlin, tại nhà một bà Wingender nào đó. Cô rời nơi ở ngày 15 tháng 2 năm 1920. Hôm đó, theo lời chủ nhà, cô “mang giày đen có dây buộc, mặc váy len đen và choàng khăn đen qua vai”. Đó chính là thói quen của thiếu phụ đã gieo mình xuống kênh Landwehr.

Tiếp theo, Martin Knopf đã tìm được mẹ và hai chị em gái của Franziska, những người sống ở khu người Đức của Ba Lan. Ho nhận ra hình Franziska và nói rất kỹ về cô. Franziska đã hai lần tự sát, một lần cắt động mạch ta trái, một lần cắt tai phải, từng làm việc tại một nhà máy làm lựu đạn trong thời kỳ chiến tranh, và như đa số người Ba Lan, cô biết tiếng Nga ở mức giao tiếp được.

Không có cuộc đối chất nào giữa thiếu phụ và gia đình, nhưng một người bạn thời thơ ấu của Franziska là Rose Wingender đã đến gặp bà ta. Khi thấy người này trong phòng, thiếu phụ đã bị bất ngờ. Mặc dù luôn nói năng với giọng nhỏ nhẹ, nhưng lần này thì bà ta bỗng la lên:

“Hãy để tôi yên!”

Không có kháng cáo. Và cũng như với công chúa Anastasia, các số liệu về gène khẳng định chắc chắn thiếu phụ là Franziska Schanzkowska. Bà này, về sau trở thành Anna Manahan, đã chết ở Charlottesville, Hoa Kỳ, ngày 12 tháng 2 năm 1984. Bà từng được giải phẫu ruột và một phần nội tạng được bệnh viện bảo quản. Những thứ đó được đem so về ADN với một người họ hàng sống ở Mỹ của Franziska, kết quả là như nhau.

Nếu như mọi bí ẩn về thân xác đã được giải tỏa thì vẫn còn một điều bí ẩn khác. Đó là vấn đề tâm lý. Franziska Schanzkowska không phải là kẻ bịp bợm. Cũng giống như tất cả những giả-Louis XVII và những giả-Anastasia khác – đã từng có vài người nữa như vậy -, người đàn bà này không tự nhận “Tôi là Anastasia” ngay từ đầu. Ngược lại, trong hàng tháng trời, bà ta đã bị ép phải nhận mình là con gái vua, nhưng bà ta đã từ chối. Chỉ đến khi nói chuyện với nam tước Kleist, bà ta mới nhận. Thực chất, Franziska Schanzkowska không phải là một kẻ ưa phiêu lưu, một kẻ hợm mình thích giả danh người khác, mà chỉ đơn giản là một người bệnh.

Vào một ngày buồn của tháng 2 năm 1920, một nữ công nhân bé nhỏ người Ba Lan, vốn đã quá đau buồn vì tuổi thơ bất hạnh, đã quyết định kết thúc cuộc đời bằng cách lao mình xuống nước. Nhưng người ta đã cứu sống cô. Cô được đưa tới trại tị nạn. Nhưng quá khứ của cô đã biến mất đúng vào thời điểm hành động tuyệt vọng. Cái thân phận mà cô từ chối đã mờ nhạt hẳn trong ký ức của cô. Khi cô ngồi trên ghế băng của khu vườn và đọc tờ tin, câu chuyện về cuộc thảm sát ghê rợn đối với hoàng gia Nga đã không có cảm giác gì về cái chết đau đớn của các cô gái trẻ cùng lứa tuổi. Vào lúc đó, cô đã không hiểu được tác động của người đối thoại Marie Peuthert và không nghĩ ngợi gì.

Và hai năm sau, những người đàn ông đàn bà quý phái đến gặp cô, nói với cô “thưa công chúa”, thể hiện sự cung kính với cô, nói cô là Anastasia, công chúa nước Nga. Khi đó, cô không muốn tin, vì điều này thật vô lý và điên rồ. Nhưng người ta càng cố ép cô mạnh hơn. Nam tước Kleist còn đưa cô từ trại về nhà mình để chăm sóc. Khi đó, cô đã quen với một sự hiển nhiên rằng cô LÀ Anastasia!

Một lần nữa, điều này xảy ra không phải do ham muốn hay bản tính hão huyền. Hãy đặt mình vào vị trí của cô ấy: cô ấy thực sự là người dễ mất trí nhớ. Cô ở trong trạng thái mơ hồ, quá khứ không còn tồn tại, cô không còn khả năng phân tích, không có một điểm tham chiếu nào. Nếu người ta nói với cô rằng cô là Anastasia thì cô chẳng thể là ai khác ngoài Anastasia. Đây không phải là một thân phận đặc biệt mà cô tin chắc là chính mình. Đây chỉ là do số đông buộc cô tin như vậy.

        Từ thời khắc đó, Franziska Schanzkowska bắt đầu nhận thông tin từ chính mình. Cô không còn đóng vai công chúa nữa, mà dần dần trở thành công chúa. Trong bộ nhớ trinh nguyên của cô, một nhân cách mới được hình thành dần, giống như ghép hình. Trường hợp Anastasia/Franziska  

        Schanzkowska là cái mà người ta có thể gọi là “sự giả mạo không cố ý”.

        Đây cũng còn là một kiểu truyện cổ tích mà đôi khi ta gặp trong đời thực.. Một cô công nhân bé nhỏ và mất thăng bằng về tâm lý kết thúc thân phận vào giữa tháng 2 năm 1920 và trở thành một nhân vật nổi tiếng trên thế giới. Từ 1922, cô đã ở phần lớn thời gian trong cung điện, được vây quanh bởi kẻ hầu người hạ, được biết đến sự nổi tiếng, giàu sang, sung sướng.

        Đến năm 1968, bà kết hôn với John Manahan, giáo sư sử học ở đại học Virginia, kém bà 20 tuổi. Từ  đó, bà sống ở Charlottesville cho đến khi qua đời 16 năm sau, thọ hơn 80, kết thúc thân phận bị nhầm lẫn. Tuy nhiên, người ta có thể tin rằng một khi bà vẫn còn ý thức thì bà vẫn tin đến cùng rằng bà là công chúa Anastasia.

       NGUYỄN TRẦN SÂM dịch từ cuốn La Terrible Vérité của Pierre Bellemare (*)

       *Pierre BELLEMARE, sinh năm 1929, là nhà văn, nhà báo Pháp.

 

Advertisements

3 comments on “CÔNG CHÚA ANASTASIA hay THIẾU PHỤ BÍ ẨN Ở BERLIN

  1. Nhưng lại có giả thuyết rằng: Cô công nhân đã chết mà hồn cô Anastasia đã nhập vào xác cô công nhân để được tiếp tục sống còn. Ta thấy nhiều người bị hôn mê sau này tỉnh dậy nhưng nói bằng ngôn ngữ khác với thói quyen mà người này thường nói ; Đó là thuyết mượn xác mà ta thường thấy ở miền Bắc ,nhất là tộc người Mường, que tôi ờ ngoài Bắc cũng có em bé sinh ra khi biết nói đã đòi bố mẹ cho về ở lại nhà của cha mẹ ở kiếp trước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s