Vượt Biển 16 (kỳ cuối) – NGƯỜI KHÁCH TRONG HOÀNG HÔN

16Lần này con chim khách lại đến đậu ngay trên tấm bia của ngôi mộ trước sân nhưng ông lão vẫn ngồi uống rượu một mình trong buổi xế chiều. Tóc ông đã bạc trắng và tròng mắt ông ánh lên vẻ sáng màu da cam rực rỡ của hoàng hôn.

Cái màu ấy cũng ánh lên trong chén rượu và phảng phất một chút trên những sợi tóc trắng. Ông lão nhìn con chim khách. Hơi men làm cho nắng phía sau tự nhiên rực rỡ hơn, giống như một đám cháy rừng. Hàng tre, ngọn cây thấp thì đen kịt trong cái nền sáng rực rỡ ấy.

Con chim khách ngó nghiêng vào nhà. Nó đang ngắm ông như đã từng ngắm ông trong nhiều buổi hoàng hôn như thế. Nó hiểu ông không làm gì nó và dường như nó còn hiểu được cả sự cô độc của ông mỗi lần thấy ông ngồi một mình với chai rượu trắng. Chỗ con chim đứng không cao hơn đám cỏ may bao nhiêu, cái đuôi của nó quét trên những bông cỏ may màu tím than gợn lên như sóng.

Khi mặt trời hạ xuống một tí nữa thì cả vạt cỏ may ấy bỗng rực lên như lửa cháy. Không biết trên bông cỏ may có cái gì lấp lánh mà phản chiếu nắng xế một cách rực rỡ.

Ðột nhiên những ngôi mộ xung quanh đó sáng lên. Bông cỏ may cứ lung linh như những ngọn nến chập chờn làm con chim phải quay lại. Dường như mỗi chiều nó đều đến đậu nơi đó để xem lửa cháy trên những bông cỏ cao này, hoặc có thể nó tưởng đó là lúc hoa nở. Còn ông lão thì lại cứ tưởng rằng rượu đã làm cho mình hoa mắt lên. Con chim khách vẫn chưa bay đi, nó xoay trở một lúc rồi kêu lên mấy tiếng.

Ông lão uống hết chén rượu, ngó ra cái lối mòn giữa nghĩa trang có vẻ như chờ một người khách nào đó sẽ đến nhưng vẫn không thấy ai cả. Một con chồn nhỏ từ trong bụi gai chạy ra loanh quanh tìm mồi rồi lại chạy vào bụi gai. Con sóc thì bạo dạn hơn một chút. Nó chuyển từ cành me xuống và leo lên bàn ông cướp mấy hạt đậu phộng, đứng nhâm nhi nơi đó, cũng không đến nỗi hấp tấp lắm. Lão già vẫn thường cho nó ăn những hạt đậu phộng như thế mỗi chiều. Con vật có đôi mắt đen tuyền, có cái đuôi xù đẹp. Nó đứng nơi mép bàn và có lúc nó cũng ngừng nhai để nhìn ông lão. Ánh hoàng hôn trong mắt ông làm nó chú ý, nó nhìn không chớp. Ông ngửa bàn tay thô kệch của mình ra mặt bàn và nói:

-Hãy leo lên đi! Leo lên đi, con!

Nhưng con sóc nhỏ lại lùi một bước, khi ông thảy cho nó hạt đậu nữa thì nó mon men đến. Chợt con chim khách bay vụt lên rất nhanh và mất tăm trong trời chiều.

Lúc đó một người khách vừa đến, ông ta hiện ra như cái bóng đen sẫm to lớn giữa những mộ bia xám xịt. Lão già giữ nghĩa địa chưa biết khách là ai nhưng ông cũng không có gì phải tò mò. Những người khách quen của ông hay đến bất ngờ và lặng lẽ như thế. Những ông già trong xóm thường đến và uống rượu với ông đến tối, có khi còn ngủ lại trên cái chõng tre ọp ẹp, phanh trần ra giữa đêm mùa hè đầy tiếng muỗi kêu vo ve.

Ông lão với tay lấy một cái chén đất nhỏ nữa đặt trước mặt mình, đến khi người khách bước vào nhà và ngồi xuống nơi chiếc ghế gỗ đối diện, ông mới rót rượu ra.

Lúc này nắng xế đã tắt, không còn đỏ rực như đám cháy rừng phía bờ rào, không còn ánh lên trong ly rượu. Mặt ông lão trở nên tối và mặt người khách cũng tối. Nhưng dường như họ đã quen nhau từ lâu rồi.

-Ông Mùi đấy à?

Im lặng.

-Ai đấy?

Cái bóng đen to lớn vẫn lặng thinh. Ông lão lại uống cạn chén rượu của mình và hỏi tiếp:

-Hay là lão chăn dê?

-Lão chăn dê đã chết ngoài biển rồi.

Lão già chồm người về phía trước để nhìn cho rõ người khách lạ nhưng mắt ông đã quáng gà chẳng thấy gì cả trong bóng tối. Ông thử đưa tay ra sờ soạng nhưng dường như tay ông không chạm vào cái gì cả. Ông sờ vào khoảng không. Phải rồi, hồn ma chỉ là một cái bóng mà thôi. Chỉ là một cái bóng…. Ông lão nói càm ràm:

-Ðúng rồi…. đúng rồi…. Hồn ma của nhà tư sản Nguyễn Trường Thịnh đây mà.

-Không phải hồn ma. Người khách nói. Ông không nghe thấy nùi thuốc của tôi sao?

Lão hít hít trong khoảng không:

-Mùi thuốc Cẩm Lệ… Ừ, ừ,… Hãy đưa cho lão xem cái tẩu thuốc. Cái tẩu của ông đâu rồi?

-Không còn gì cả. Ðây, bàn tay của tôi đây. Lão quờ quạng gì thế. Hãy cầm bàn tay của tôi đây. Thấy chưa nào?

Ông lão nắm lấy bàn tay của khách, sờ trên những nốt chai, những kẽ tay rồi sụt sịt khóc.

-Trời ơi, ông còn sống đây a? Sao người ta bảo rằng tàu chìm và tất cả đã chết hết rồi?

-Có lẽ tất cả đã chết hết, trừ tôi ra.

-Trời Phật phù hộ cho ông.

-Nếu trời Phật phù hộ thì đã không để cho tất cả những người thân của tôi đều chết. Có lẽ đây chỉ là trò chơi của Trời. Ông ta muốn thử sức chịu đựng của một con người. Ông ta dồn nó vào đường cùng và quan sát nó phản ứng như thế nào.

Ông lão khóc sụt sịt, mếu máo. Ông hỉ mũi xuống đất và lảo đảo đứng dậy.

-Bác đi đâu vậy?

-Ðể tôi bắc nồi cơm. Ông đi đường xa….

Nhưng ông Thịnh đã giữ tay ông lại.

-Tôi đã ăn rồi. Bác ngồi xuống đi, chúng ta uống với nhau một lát nữa.

Lão già vịn vào vai ông Thịnh và nói:

-Hãy đưa xách đây, tôi đem cất.

Ông Thịnh xách cái ba lô cũ kỹ lên. Ông trao nó cho lão già. Nó trĩu nặng và cộm.

-Cái gì trong đó vậy? Lão già hỏi.

-Chẳng có gì quý giá. Thôi, bác hãy cứ để cho tôi dùng làm gối.

Và ông đặt cái ba lô lên đầu giường.

Hai ông bạn già ngồi uống với nhau tới lúc trăng lên thì lão già giữ nghĩa địa đã say mèm. Ông Thịnh đỡ lão lại giường nằm và cởi chiếc sơ mi của mình đắp cho lão. Ông đi ra ngoài đêm, mặt quay về hướng đông nhìn trăng một lúc rồi thả bộ theo những lối mòn trong nghĩa địa. Trăng ở đây khác hẳn mặt trăng âm u trên biển. Nó tròn đầy, dịu dàng và trong sáng, thanh thản bên những dải mây mỏng, nó in bóng ông xuống lối mòn, xuống những ngôi mộ và bia đá. Ông vừa đi vừa nhìn bóng mình, lắng nghe tiếng giun dế, tiếng những con chồn đi ăn đêm sột soạt trong bụi gai.

Cuối cùng ông đến ngồi bên cạnh những ngôi mộ của vợ và các con ông. Ông lặng thinh nhìn ngắm chúng như nhìn những người thân đang ngủ. Ông muốn ngồi như thế này suốt đêm để quạt cho những đứa con ông ngủ, để ru cho chúng mơ những giấc mơ đẹp. Còn Phillipe Phúc, biển sẽ ru con. Xác thân con đã tan nát, nhưng hồn con vẫn vật vờ trên biển, trên những ngọn sóng và những cánh gió cùng với linh hồn của mẹ con.

Nghĩa địa tràn ngập ánh trăng, trải dài những hàng mộ bia im lặng.

Ông theo lối mòn đi vào trong túp lều nơi lão già đang ngủ. Ông lấy cái ba lô con cóc đem ra ngoài sân, cầm theo một cái ghế cao đặt bên dưới cành cây bã đậu.

Ông mở ba lô, lôi ra một cuộn dây thừng to bằng ngón chân cái. Cuộn dây được bện bằng chỉ gai mềm mại, đằm thắm giữa lòng bàn tay. Cuộn dây giống hệt như sợi dây thang nơi cái chòi giữa biển. Ông leo lên chiếc ghế cao, nhón chân vắt sợi dây thừng qua cành cây lớn và cột lại. Ông giựt sợi dây để thử độ chắc của nó. Chỉ cần thắt một cái gút và đạp đổ cái ghế. Ông sẽ lơ lửng trên cành cây. Một chút tinh dịch sẽ thoát ra, làm thành một vết hoen trên quần đùi. Ông buông đầu sợi dây thừng và lôi trong túi áo ra một gói thuốc rê, chậm chạp vấn một điếu sâu kèn.

Ông ngồi trên chiếc ghế cao nhìn sợi dây đu đưa, đu đưa.

ÐÀO HIẾU  

       Tháng 5 năm 1988

 

 

Advertisements

One comment on “Vượt Biển 16 (kỳ cuối) – NGƯỜI KHÁCH TRONG HOÀNG HÔN

  1. Đu đưa đu đưa dây thòng lọng…Chỉ một quyết định Chết hoặc Sống?”Buộc cổ đạp ghế thế là xong!”Đời tàn tơi tả chẳng gì còn!Mất hết người thân làm sao sống?!!Buồn nào buồn hơn đời chán chường!? Hoàng hôn cuộc đời đang chìm xuống…Đêm đang chiếm lĩnh bóng cô đơn!…Thân biết về đâu không định hướng!?Dây Tình sự Sống kết thúc-CHỌN…[Tùy theo suy nghĩ mỗi đọc giả???”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s