Vượt Biển 13 -NGƯỜI ĐÀN BÀ NƠI TRẠM TRUNG CHUYỂN

13Chiếc xuồng ghé vào bờ lúc ba giờ sáng. trời tối đen không phân biệt được đâu là nhà đâu là chòm cây. Chỗ mọi người bước lên là một lùm tre có con đường mòn. Người dẫn đường kiểm tra lại xem có ai còn sót dưới ghe không rồi ra hiệu cho mọi người theo mình.

Dường như đó là một vườn xoài. Mặt ông Thịnh chạm vào những cái lá to bản, dài và nhọn. Ông bước mà dè chừng những cành xoài thấp, cứ theo cái bóng đen nhỏ thó đằng trước mà đi. Thật kỳ quái, chẳng biết người ta sắp xếp thế nào mà khi lên “tắc-xi” thì ông chỉ có một mình giữa những người xa lạ. Cuộc “du lịch” bắt đầu từ chín giờ đêm tại một bến đò hẻo lánh, đi suốt đêm, qua những nhánh sông, những kinh rạch chằng chịt và cuối cùng đến đây. Vẫn không biết được người thân của ông đã đi đằng nào.

Căn nhà lá khá rộng. Ánh đèn dầu gợi lên vẻ hiu hắt và buồn. Trên hai chiếc ghế dài bằng gỗ thô sơ kê ở đầu chái nhà, những người khách ngồi nhìn nhau xầm xì. Ða số là đàn bà. Họ nhai kẹo cao su và uống nước trong những cái bi đông mang theo. Ông Thịnh ngồi ở mép ghế dài, ông hút thuốc lá và nhìn ra ngoài đêm tối. Người đàn bà trẻ mặc toàn đen ngồi đối diện ông dường như có vẻ muốn làm quen với ông. Bao giờ quay lại ông cũng bắt gặp cái nhìn của bà ta, cái nhìn dịu dàng với nụ cười kín đáo. Ông đón nhận cái nhìn ấy với vẻ mệt mỏi.

-Anh có chuyện gì buồn vậy? Người đàn bà hỏi.

-Không. Ông nói và mỉm cười một cách gượng gạo.

Người đàn bà mặc đồ đen đưa cho ông thỏi kẹo cao su, ông tiếp lấy và nhìn bà ta với vẻ dò hỏi.

Phục vụ khách là một bà lão gầy nhưng nhanh nhẹn và vui tính. Bà dọn cơm trên cái bàn dài ở giữa hai hàng khách. Bà nói:

-Xin các vị đừng lo lắng gì cả. Ở đây đã có chúng tôi phục vụ mọi thứ. Xin mời dùng cơm và nghỉ ngơi, ngày mai chúng ta lại đi tiếp.

Mọi người cắm cúi ăn vì buổi chiều khi nằm bẹp dưới sàn ghe hít thở cái mùi dầu máy và hơi người sẽ chẳng ai nghĩ đến chuyện ăn uống gì cả. Người đàn bà đưa cho ông Thịnh một lon coca và ép ông phải uống. Ông nhận và cám ơn.

Mọi người đã tản về chỗ nằm của mình. Người đàn bà áo đen bảo ông Thịnh:

-Em gặp anh một tí.

Rồi bà nắm tay ông dẫn ra cái sạp tre dưới gốc xoài.

-Anh đi chung với em nha anh?

-Cô đi có một mình à?

-Dạ. Ra tới đây tự nhiên em sợ quá.

-Nhưng tôi có giúp gì được cho cô đâu.

-Nhưng em cần anh lắm. Anh đi chung với em nhé?

Người đàn bà xòe cái quạt giấy ra quạt cho ông và bảo ông nằm xuống. Ông cảm thấy dễ chịu vì sự săn sóc ấy nhưng cũng vì người đàn bà thật đẹp. Ông nằm xuống và nhìn cái trán phẳng lặng của người đàn bà. Ông hỏi:

-Ở đây có mấy chàng trai trẻ, sao em không trông cậy vào họ?

-Tự nhiên em tin cậy anh. Không hiểu sao như thế.

-Chồng em làm gì?

-Trước đây anh ấy là một phi công. Sang Mỹ anh làm nhân viên tiếp liệu cho một phi trường ở Cali.

-Thôi được. Có gì tôi sẽ giúp em. Bây giờ em đi ngủ đi.

-Không. Em sẽ ngồi đây quạt cho anh. Anh ngủ đi.

-Em nghe tôi nào. Em đi ngủ đi. Ðường còn dài lắm. Em cần sức khỏe.

Người đàn bà mở cái vì nhỏ đưa cho ông một hộp thiếc nhỏ xíu và nói:

-Sâm đấy. Anh giữ mà xài.

Rồi bà ta đặt hộp sâm lên ngực ông, lẳng lặng bỏ đi trong bóng đêm.

Ông Thịnh mân mê cái hộp nhỏ, đưa lên mũi ngửi rồi nhét vô túi quần. Sự mệt mỏi làm ông thiếp đi rất nhanh, đến lúc tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ. Mọi người đang đi đi lại lại quanh gốc cây, đánh răng, rửa chân tay và tập thể dục. Ngôi nhà lá đêm qua bây giờ biến thành một cái quán nước có nhạc xập xình và cái doi đất mà tối qua chiếc xuồng tấp vô lại là một cái xóm nhỏ thưa thớt độ mươi nóc nhà.

Mọi người quây quần quanh những cái bàn nhỏ uống cà phê, hút thuốc và ăn điểm tâm.

Người đàn bà đêm qua đến và mang thuốc lá cho ông Thịnh. Ông cầm gói thuốc lên ngửi và cười.

-Tôi hút ống vố.

Nhưng ông cũng rút một điếu châm lửa. Nỗi lo lắng về cậu con trai đã biến mất. Có lẽ ánh sáng tươi tắn của buổi sáng đã đem lại cho ông niềm vui. Ông ngắm người đàn bà ngồi trước mặt mình, cái vai trần và áo thun sát nách màu đen.

Người đàn bà chợt hỏi:

-Trước đây anh là sĩ quan phải không?

-Tôi làm ruộng.

-Em không tin.

Ông xòe hai bàn tay to lớn ra trước mặt bà ta:

-Em có thấy những cục chai dày cộm không?

Bà cầm lấy bàn tay ông, săm soi rồi nói:

-Nhưng anh không phải là người làm ruộng. Cách ăn nói của anh không phải của một người quê mùa. Anh đi học tập cải tạo mới về phải không?

-Phải. Nhưng tôi không phải là sĩ quan. Người ta gọi tôi là tư sản mại bản.

-Vợ con anh đâu?

-Cũng đi trong chuyến này nhưng không hiểu vì sao người ta lại bố trí cho tôi đi một “tắc-xi” khác. Tôi vẫn chưa gặp được.

-Thế nào khi ra tàu lớn cũng gặp. Em đi chung với gia đình anh, nha?

-Thì đi. Bà già bảo riêng với tôi rằng chín giờ sáng nay khởi hành ra biển.

-Em sẽ nằm cạnh chỗ anh. Ðừng nằm gần buồng máy như hôm qua. Em mửa thốc tháo.

Một người đàn ông đầu hói và một người trạc bốn mươi, râu rậm từ ngoài mé rạch bước tới. Người đàn ông hói đầu chìa tay cho ông Thịnh bắt và hỏi:

-Toa còn nhớ moa không?

Ông Thịnh nheo mắt, nhìn rồi vỗ vai người nọ:

-Ðại úy Lê Oánh, phải không?

Lê Oánh gật đầu rồi day sang người đàn bà:

-Xin lỗi chị nhé. Chúng tôi nói chuyện riêng một chút.

Ba người trao đổi với nhau bằng tiếng Anh độ năm phút. Người đầu hói có vẻ mặt đăm chiêu lo lắng. Tuy nhiên ông Thịnh vẫn tươi cười. Ông mời thuốc lá hai người và hỏi Lê Oánh:

-Tôi nghe nói hôm giải phóng, sư đoàn của anh đụng độ ác liệt lắm phải không?

-Chết như rạ. Họ chết mình cũng chết. Lúc đó tôi đóng quân tại An Khê. Ðoạn đường 19 từ An Khê đi Qui Nhơn là đoạn đường tử thần.

Ông Thịnh hỏi:

-Làm thế nào mà xuống đèo được?

-Lúc đó tôi bàn với tay trung tá chỉ huy trưởng đơn vị là phải cắt rừng đi về phía nam chừng hai mươi cây số rồi đâm thẳng xuống phía đông, qua khỏi đèo sẽ trở lại đường 19. Ban đầu anh ta không nghe. Anh ta có ý định dùng xe tăng chạy xuống đèo An Khê nhưng sao qua đèo được. Ðó là một địa hình vô cùng hiểm trở. Vi xi phục kích hai bên đèo với một hỏa lực mạnh chưa từng có. Máy bay phản lực quần thảo ném bom suốt ngày đêm nhưng không ăn thua. Xe nào đi qua cũng bị thụt B40 cháy rụi. Từ khi đèo bị cắt, không có một xe nào qua lọt. Cuối cùng tay chỉ huy trưởng phải chịu. Anh biết họ phá hủy xe tăng bằng cách nào không?

-Cách nào?

-Rút chốt lựu đạn. Cột chặt mỏ vịt bằng dây thun. Mở bình xăng xe tăng ra. Mỗi bình thảy vào một trái lựu đạn. Chỉ một lát sau dây thun nở dãn ra. Lựu đạn nồ bùng, xe bốc cháy lăn xuống vực. Hàng loạt xe tăng bị phá hủy như thế. Tụi lính ôm mặt khóc ròng. Tôi cũng khóc. Lúc đó không thể không khóc được. Cứ bùng, bùng, bùng. Lựu đạn nổ liên tục. Cột lửa phụt lên, chiếc xe dẫy nẩy lăn xuống vực. Quân lính đeo ba lô súng đạn đầy mình, mặt mày thất sắc. Chúng tôi cắt rừng đi về phía nam suốt hai ngày đêm. Ban ngày thì tương đối yên tĩnh. Khi đêm xuống tụi lính và tụi quân cảnh, tụi cảnh sát thanh toán nhau. Chúng thù hằn nhau từ đời kiếp nào, nhất là lính và quân cảnh. Nửa đêm đang đi nghe đùng một tiếng. Ối trời ơi! Nó giết tôi! Thế là tụi lính đi theo tôi cười. Chúng nói: Ð.m mấy thằng quân cảnh gà chết. Ở thành phố chúng nó bắt nạt bọn lính nhưng vô trận chúng nó lại là những thằng công tử bột. Tụi lính của tôi nó giết gần sạch toán quân cảnh và cảnh sát đi theo lúc ấy. Hai ngày sau chúng tôi bắt đầu đi về hướng đông…..

Câu chuyện mới kể tới đó thì có lệnh xuống ghe. Lúc ấy là chín giờ sáng. Người đàn bà áo đen theo ông Thịnh sát nút, cả hai người bạn mới cũng không rời ông. Họ nằm ở vị trí tương đối xa buồng máy nhưng sự rung chuyển của động cơ cũng làm mọi người choáng váng. Chiếc tắc-xi lướt đi. Và khi những người trong khoang cảm thấy sóng rập rềnh quanh mạn thuyền thì nó đã ra tới biển. Nhiều người nhỏm dậy muốn leo lên trên khoang nhưng Lê Oánh đã ngồi dậy, rút trong mình ra khẩu colt 45 cầm nơi tay.

-Nằm xuống hết! Ông ta ra lệnh. Chưa hết nguy hiểm đâu. Chừng nào có lệnh của tôi mọi người mới được rời vị trí.

Mọi người lại nằm xuống. Thuyền cứ lướt đi rập rềnh trên sóng.

Lúc ấy ở một điểm cách xa chừng mười căy số, một chiếc “tắc-xi” khác cũng vừa ra tới biển. Phillipe Phúc và Bà Thúy say sóng nằm vùi dưới sàn tàu, chỉ có Tuyết là tỉnh táo. Cô cho hai người thân của mình uống hai viên thuốc Nautamine và ngậm sinh tố C. Họ nhắm nghiền mắt và toát mồ hôi. Tuyết mặc một cái áo cánh mỏng, quần xoa Pháp màu đen, tóc búi cao tuy vậy cô vẫn cảm thấy quá nóng bức vì hơi người cứ bốc lên ngùn ngụt. Trong thứ ám khí ấy còn có lẫn mùi phân người và mùi nước tiểu. Tuyết cố ngủ một chút để quên đường dài nhưng không ngủ được, mắt thì nhắm mà đầu óc cứ nghĩ miên man. Tiếng động cơ cứ xình xịch đều đặn khó chịu. Tuyết ngồi dậy ngoi lên chỗ khe hở của ván sàn hít một chút gió biển nhưng thuyền cứ tròng trành và cô bị ngã ngửa ra đè lên người nằm kế bên. Anh ta hoảng hốt mở bừng mắt và hỏi:

-Cái gì vậy?

-Xin lỗi. Tuyết nói và đưa tay xoa bóp bả vai mình.

Người phục vụ đem bữa trưa đến cho từng người và dặn họ không được rời vị trí. Mọi người ăn qua quýt. Tuyết gọi Phúc và bà Thúy dậy nhưng họ cứ nằm mê đi.

Khoảng bốn giờ chiều chiếc “tắc-xi” giảm tốc độ và từ từ dừng lại. Mấy chiếc “tắc-xi” khác cũng vừa trờ tới chạy vòng vòng tìm chổ cặp sát vô mạn tàu lớn. Những người trên tàu lớn buông thang xuống cho khách lên. Ðàn bà và trẻ con lên trước. Cứ tuần tự như thế. Mọi việc diễn ra khá trật tự. Hoàng hôn xuống rất nhanh, chiều tối dần. Mặc dù người ta cố hết sức để hạn chế tiếng động nhưng quang cảnh diễn ra cũng khá huyên náo. Gió thổi mạnh làm chiếc tàu lớn cứ rập rình rập rình.

Khi mọi người đã lên hết trên tàu lớn và sắp nhồ neo thì không biết từ đâu trong bóng tối hai chiếc ghe máy xuất hiện, động cơ gầm rú.

-Cho chúng tôi lên với.

Chủ tàu rọi đèn pin xuống chỗ hai chiếc ghe lạ vừa xuất hiện thấy lố nhố những đầu người đen kịt ông ta hoảng hồn.

-Không được, chủ tàu nói, tàu đã chở quá tải rồi.

Tiếng người dưới ghe lại la lên:

-Không cho, tôi báo động cho công an bây giờ.

-Báo động đi. Ở đây chẳng ai nghe tụi mày đâu.

Nhiều tiếng người dưới ghe nhỏ la hét cùng một lúc:

-Ð.m cho lên không? Trả lời lẹ đi!

-Lên sao được. Các anh đông như vậy chở sao nổi. Bộ muốn chết chìm cả lũ hả?

-Nói láo. Tôi hỏi ông lần cuối: cho lên không?

Liền sau câu nói là một loạt đạn tiểu liên giòn giã.

Chủ tàu quay sang hỏi tài công và những người thân cận của mình:

-Ý các anh thế nào?

-Bắn chết mẹ chúng nó đi. Tài công nói.

-Không được. Chủ tàu nói. Lúc nãy rọi đèn pin xuống tôi thấy súng ống tụi nó nhiều lắm. Có cả B40.

Tài công nhổ toẹt xuống sàn tàu:

-Ð.m quân khốn nạn. Cho nó lên rồi chết chìm cả lũ à.

Chủ tàu tiếp tục thương lượng với bọn dưới ghe:

-Tôi cho các anh lên thì được, nhưng rồi các anh cũng sẽ chết chìm chung với chúng tôi. Các anh suy nghĩ đi.

-Nói láo! Tàu ông còn rộng lắm.

-Không tin mời một người trong các anh lên đây coi. Chật cứng cả rồi. Xếp lớp như cá mòi từ dưới buồng máy trở lên.

Chiếc thang dây được ném xuống và một tên dưới ghe leo lên. Khi thấy tàu đông quá hắn ta có vẻ suy nghĩ. Cuối cùng hắn quyết định:

-Thôi được, ông cho tôi lên một ghe. Ba chục người thôi.

-Mười người. Chủ tàu nói. Mười người đã là liều mạng rồi đó. Anh cãi tôi là chết cả đám.

-Không được. Tôi cần đi ba chục người.

Sự im lặng ghê rợn bao trùm cả một vùng biển mênh mông đen kịt. Chỉ nghe tiếng gió hú như có loài thuồng luồng biển đang động cỡn chạy giỡn nhau quanh đây.

Chủ tàu đứng trầm ngâm trên boong, xuôi tay nhìn những người khách bất đắc dĩ đang lần lượt leo lên tàu mình.

Rõ ràng chúng toàn là một bọn đầu trộm đuôi cướp và du đãng ở đâu tụ họp lại. Không biết vũ khí chúng đánh cắp ở đâu mà cứ đeo lủng lẳng, cứ kè kè bên hông.

Chiếc tàu nặng nề xình xịch quay mình đi.

ĐÀO HIẾU

(còn tiếp)

Advertisements

One comment on “Vượt Biển 13 -NGƯỜI ĐÀN BÀ NƠI TRẠM TRUNG CHUYỂN

  1. Trạm trung chuyển chiếc Quán Nước Nơi chứa những người lén lút Vượt Biển Nơi tập trung người Đi và Đến-”Thiên đường Ước Mơ Bình Yên”
    …Nơi đó dun rủi xui khiến…Hai kẽ cũng đi Chung Chuyến gặp nhau-Không biết sẽ như thế nào?Nhan sắc Tin tưởng Tựa vào ở Ông -”Người đàn bà áo đen chủ động-Rất lịch sự, nhẹ tấn công làm quen..”Làm sao không khỏi động tình?!Trước nhan sắc ấy cố tình quan tâm?Mới quen đã tặng ”Hộp Sâm”-Ý nghĩ sức khỏe là CẦN chuyến đi…Mời”thuốc thơm hút”ý nhị?Bao nhiêu đó đủ quí chân tình?
    Kể ra ”TỐT SỐ”vẫn dành”Cho Ông có được hành trình Tự Tin?Là May tất nhiên sẽ đến? Như là số phận định mênh đẩy đưa…Người đàn bà áo ĐEN đó! Biết đâu lại là VẬN ĐỎ đời Ông?Đỏ Đen HOÁN nghịch cho Ông”Một đời KHÁCkhông giống Hiện tại???
    Tình hình trước mắt Họa tai….Thuyền Lớn khốn khổ”QUÁ TẢI”đầy người!Trấn áp vô lý bắt buộc..Chở nặng khẳm Tàu”Một giuộc đi đời…!”Nhưng với cá nhân cho người Như Thịnh điều May đã nói”Sẽ là bù đắp THIỆT THÒI”trải qua…..?Chuyện phía trước -Vẫn còn là…..???

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s