Kẻ Tử Đạo Cuối Cùng – kỳ 07 – NHỮNG TÁC PHẨM ĐẦU TIÊN CỦA HỒNG ĐẠO

KE TU DAOBây giờ đối với Phạm Hưng thì vẻ đẹp của căn phòng trở nên vô nghĩa, sự sạch sẽ của nó cũng không còn cần thiết. Phòng tràn ngập giấy và giấy. Không phải là giấy học trò mà là giấy bản, không phải là giấy kẻ khuôn âm sẵn mà là giấy trơn. Anh kẻ khuôn nhạc bằng bút nỉ, vừa kẻ vừa viết nhạc. Anh viết như điên, khuôn nhạc của anh to như những luống cày, như những đường ray không thẳng hàng, nốt nhạc thì có khi chỉ là những nét vạch chéo những vòng tròn lệch và những dấu móc thì bay bướm như lá cờ phướn, như đuôi con chim trĩ. Viết xong một tờ giấy bản anh ném vội xuống nền nhà, lại gạch lia lịa những đường ray không đều nhau trên tờ giấy bản kế tiếp. Những cái đuôi chim trĩ lại mọc lên. Ðô thăng thứ. Hưng sử dụng nhiều hợp âm rải để tạo ra sự mênh mang của nỗi nhớ và khi giai điệu đi đến cuối con đường của nó, anh để cho tay trái lồng lên với những chùm hợp âm táo bạo chuyển sang Mi trưởng.

Ðó là tác phẩm đắc ý nhất trong loạt mười lăm sonates anh viết cho Hồng Ðạo. Hưng không biết anh kết thúc tác phẩm của mình vào lúc mấy giờ chỉ thấy thành phố im lặng quá, không một tiếng người, không một tiếng xe đi qua. Gió cũng không có. Phạm Hưng đốt một điếu thuốc ngồi trầm ngâm nhìn những tờ giấy bản tung tóe khắp nền gạch bông. Chúng tràn ngập khắp nơi, chúng che lấp cả những ô vuông, rải rác dưới gầm bàn, trên nóc tủ, trên nắp đàn piano.

Hưng gom chúng lại, kẹp thành một xấp rồi đến ngồi trước cây đàn, nó ngân lên, tỏa ra như những tia nắng đầu tiên của bình minh, bay la đà như cánh chim trắng trên biển phẳng lặng lạnh se rồi trầm xuống, chậm dần, chậm dần như những bước chân đi lang thang trên cát. Người nhạc sĩ vừa đi vừa hướng theo cánh chim bay mỗi lúc mỗi xa. Chàng đặt tên cho nó là SONATE CÁNH CHIM. Chàng đàn đi đàn lại không biết bao nhiêu lần, quên cả mệt mỏi, quên cả thời gian, quên cả giấc ngủ. Chàng đàn say sưa cho đến khi có tiếng gõ cửa. Lúc đầu là ba tiếng nhỏ. Rồi im. Chàng không nghe thấy, vẫn đàn. Sau đó là bốn năm tiếng to hơn. Chàng vẫn không nghe thấy. Tiếng đập cửa dồn dập, cắt ngang những âm thanh đang dồn dập. Hưng đứng dậy nghe ngóng một lúc rồi đến mở cửa.

Ðứng đợi bên ngoài là năm người hàng xóm mặt mày nghiêm nghị, lạnh lùng.

– Ông có biết bây giờ là mấy giờ rồi không? Một người hỏi.

– Xin lỗi, xin lỗi… Hưng ấp úng.

Một bà sồn sồn chìa cổ tay đeo đồng hồ điện tử ra trước mặt Hưng:

– Hai giờ sáng. Tôi không tài nào ngủ được. Suốt ba đêm nay.

Một ông cụ tóc bạc, đến bắt tay Hưng và nói:

– Anh thông cảm. Ðêm đã khuya quá.

Hưng nói nhỏ nhẹ:

– Tôi thật có lỗi. Xin hứa sẽ không làm phiền các vị nữa.

Những người hàng xóm bỏ về.

Hưng đóng cửa, lại giường nằm nhưng dòng nhạc vẫn chảy trong đầu anh. Anh nằm thao thức mãi cho đến sáng.

*

Nguyễn Xuân Ðắc tạc hai bức tượng bán thân, một bức Hồng mặc áo xẩm kẹp tóc đuôi gà, bức kia Hồng khỏa thân tóc bay tự nhiên. Cả hai đều là tượng thạch cao. Tượng rất có hồn, đường nét khá sinh động nhất là bức khỏa thân thì rất gợi cảm nhưng vẫn có một cái gì đó anh chưa bằng lòng lắm. Anh suy nghĩ hoài không biết là cái gì. Cuối cùng nó vụt hiện. Chính là cái matière. Vì Hồng đẹp quá nhưng đằng sau cái mượt mà uyển chuyển kia còn có một cái gì đó mạnh mẽ hoang dã mà thạch cao không diễn tả nổi. Thế là anh quyết định tạc bằng đá tảng, thứ đá hoang sơ ngoài thiên nhiên chớ không phải cẩm thạch.

Cẩm thạch sẽ làm hỏng mất.

Nhưng đá tìm đâu ra? Ðắc đi lang thang trong các công viên, trong những khu vườn của những ngôi biệt thự quen biết. Chàng ra ngoại ô, lên Tây Ninh, Bảo Lộc… nhưng vẫn chưa chọn được loại đá vừa ý. Cuối cùng chàng quyết định đi Vũng Tàu.

*

Ðắc vác bao đồ nghề đi thẳng ra bãi Dâu. Anh dừng lại bên một sườn núi đá rồi leo lên núi. Nơi lưng chừng núi có một tảng đá hoa cương mầu xám xanh mọc sừng sững như một ngọn tháp nhỏ, anh ngồi xuống dưới chân tảng đá soạn đồ nghề ra xem xét các thứ, rất hài lòng về những dụng cụ quá tốt. Ðắc đứng ngắm nghía tảng đá một lúc lâu rồi một tay cầm búa một tay cầm đục anh leo lên cao. Trong đầu anh lúc ấy bức tượng LE JOUR nổi tiếng của Michel Ange hiện ra rõ từng đường nét. Ðó là một bức tượng tạc vào đá nhưng không toàn vẹn. Michel Ange thiên tài đã cố ý cho một nửa nhân vật của mình chìm trong đá, chính nét độc đáo ấy đã làm cho nó có vẻ huyền ảo và cực kỳ gợi cảm. Ðắc quay nhìn ra biển. Mặt nước trong xanh phẳng lặng và thanh thản. Biển đang nhìn anh bằng những ánh mắt lấp lánh của nắng sớm. Chân trời kẻ một nét ngang thẳng tắp và xanh biếc. Lòng đầy hứng khởi Ðắc đục nhát đầu tiên vô mặt đá hoa cương ấm áp. Gió biển thổi vào tóc anh như những ngón tay của người tình đan vào ve vuốt.

*

Nhà văn Lê Ðạo đọc đi đọc lại Kinh Tân Ước và suy gẫm về bút pháp của tác phẩm nổi tiếng nhất thế giới này. Một thứ văn ít lời mà câu nào cũng có linh hồn của nó, câu nào cũng toát ra vẻ đẹp hoài cảm thiêng liêng lấp lánh. Ngôn ngữ của Thánh Kinh là ngôn ngữ ẩn dụ, ấm áp và mang đầy hơi hướng của một thời hồng hoang xa xưa mộng mị. Nhà văn suy nghĩ rất nhiều về những gợi ý của Ðắc nhưng anh sợ tài năng của mình không tạo nổi một bút pháp như thế, không mời gọi được vẻ bát ngát mênh mông của thế giới huyền nhiệm thâm trầm, nếu như thế thì không còn là Kinh Thánh nữa mà chỉ là sao chép, bắt chước trơ trẽn. Tất nhiên anh không thể viết cuốn Kinh của mình theo kiểu Thánh Kinh của Ðạo Ki- tô nhưng anh cũng không thể sử dụng kỹ thuật của tiểu thuyết. Vậy thì anh phải chọn lối nào đây?

Lê Ðạo lại đọc Kinh Thi, đọc kỹ 160 bài Phong: từ Bội Phong, Dung Phong, Vệ Phong đến Chu Nam, Thiệu Nam… là những tác phẩm thiên về tình yêu nhưng càng đọc lại càng thấy không thể áp dụng được vì Kinh Thi là thơ ca, là ca dao, tuy rất trữ tình, rất dân gian, rất đằm thắm, nhưng lại không toát lên được cái thần của một Ðạo giáo, cái bí nhiệm của một đức tin.

Cuối cùng anh tìm đến Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Ðó là một bài thơ xuôi vĩ đại. Con chim bằng dang đôi cánh rộng như đám mây rũ ngang trời, bay về biển Nam lên cao chín muôn trượng, làm cho nước biển sóng sánh ba ngàn dặm. Bay cứ sáu tháng mới nghỉ. Con chim bằng ấy bây giờ ở đâu? Trong lòng ta chỉ còn lại con chim Hồng rực rỡ. Ước gì ta có thể viết được một cuốn như Nam Hoa Kinh. Trang Tử đã nói về con chim Bằng để so sánh với con chim sẻ bay cao vừa quá mái hiên nhà và đậu xuống đám cỏ bồng, nhưng con chim sẻ cũng có lẽ huyền nhiệm của nó. Trong thiên Tề Vật Luận, Trang Tử đã nhìn thấu bản thể huyền nhiệm của từng sự vật trong cõi càn khôn. So với cái lớn vô cùng thì không gì nhỏ hơn núi Thái Sơn nhưng nếu so với cái nhỏ vô cùng thì không gì lớn bằng lông đuôi thú. Vậy thì con chim Hồng của ta há chẳng cao quý chẳng vĩ đại như cánh chim Bằng kia sao?

Nhà văn suy nghĩ trong suốt một tháng trời để tìm ra lối thể hiện riêng và bút pháp riêng của mình. Cuối cùng anh quyết định ngồi lại bàn viết, trước cái máy chữ. Trong đầu anh chỉ có một số nét phác thảo và một hình dung mơ hồ, một không khí mộng tưởng hoang sơ nào đấy nhưng anh biết rằng anh sẽ viết được, sẽ thành công vì anh tin ở tình yêu, tin ở vẻ đẹp của nó, ở sự cao quý, sự thiêng liêng không gì sánh nổi.

*

Nhạc sĩ Phạm Hưng đi phố mua thêm một tập giấy bản và một lố bút nỉ mầu đen. Cây đàn piano đang đợi chàng ở nhà nhưng chàng không có gì phải vội vàng. Suy nghĩ của chàng đã chín như trái cây đã mọng lên nhưng còn đợi đôi môi, còn đợi hàm răng đẹp của người. Lúc ấy hương thơm sẽ phát tiết, mật ngọt sẽ tươm ra ngây ngất. Nhưng bỗng nhiên đang bước đi giữa phố thì dòng nhạc ở đâu bỗng lùa về như gió lộng trong thảo nguyên mênh mông giữa đêm lạnh buốt. Chàng nhìn thấy một ánh lửa du mục cháy lập lòe trong sương mù và chàng hoảng hốt, cuống cuồng sợ dòng nhạc trôi đi mất. Cũng may chàng vừa đi ngang qua vườn Tao Ðàn, thế là chàng tạt vào đấy ngồi bệt xuống cỏ dưới bóng một cây si. Buổi trưa công viên vắng người. Chàng ném cái xách tay qua một bên, đặt xấp giấy bản trước mặt mình. Chàng viết hối hả. Những đường ray đen không thẳng hàng đầy đặc những nốt nhạc như chim én đậu trên đường dây. Chàng viết không cần bôi xóa sửa chữa gì cả. Gió cứ lùa trong đầu chàng, lồng lộng trong trí tưởng tượng của chàng, gió mang đầy âm thanh với giai điệu giá lạnh thánh thót. Từng tờ, từng tờ giấy bản viết xong được ném qua một bên vươn vãi đầy trên vạt cỏ nhưng chàng không để ý đến chúng, chàng say sưa viết như bị thôi miên, như kẻ đang lên đồng.

Một trận gió nổi lên bất chợt. Những tờ giấy bản uốn mình cất lên cao như những cánh diều. Chàng hoảng hốt đứng bật dậy. Những dòng nhạc của chàng theo gió bay đi, lượn lờ khắp nơi, vướn trên cành cây, trên ghế đá, trên những lối đi… Có tờ bốc lên thật cao, chao qua chao lại mấy cái rồi mất hút trong khoảng không chói lòa ánh nắng. Hưng đứng ngơ như trời trồng, khi tỉnh lại chàng mới đi nhặt những gì còn có thể nhặt được. Chúng đã mất quá một nửa. Bọn trẻ con thấy giấy bay liền xúm lại nhặt, có đứa đem trả cho chàng, có đứa chạy biến đi. Chàng chỉ muốn khóc. Ðau khổ và bất lực.

Khi chàng trở lại chỗ ngồi lúc nãy thì cái xách tay của chàng đã biến mất. Trong đó có một trăm năm mươi bảy ngàn, một cuốn sổ tay, một hộp bút nỉ và vài thứ giấy tờ cần thiết.

Chàng nằm dài xuống cỏ, nhắm mắt. Mệt mỏi rã rời. Chàng lẩm nhẩm đọc bài kinh nhật tụng do Lê Ðạo sáng tác và ngủ quên đi.

Xế chiều chàng tỉnh dậy và nhìn thấy trên đầu chàng, nơi một cành cây nhỏ, có một tờ giấy bản chi chít những nốt nhạc đang nằm vắt ngang, lay bay theo cơn gió nhẹ. Nhưng chàng vẫn cứ nằm im. Chàng đợi. Chàng sẽ nằm đợi cho đến bao giờ những dòng nhạc kia rơi xuống cùng chàng.

*

Buổi chiều ngày thứ ba khuôn mặt của pho tượng đã hiện ra trên nền đá xám. Khuôn mặt ấy – một nửa chìm trong đá – đang đăm đăm nhìn ra biển mênh mông. Mặt trời sắp lặn lơ lửng trên biển, to tròn, đỏ thắm như một trái hồng khổng lồ, chín mọng. Nắng xế dọi mái tóc của pho tượng làm ánh lên vẻ óng ả lạ thường. Chàng bám lên tảng đá sần sùi, hôn lên mái tóc ấy và thấy lòng mình đang tan ra như bọt nước tản mạn trong gió chiều. Chàng muốn ôm ghì mãi mãi khuôn mặt của pho tượng và ao ước có kẻ nào đến đóng đinh chàng vĩnh viễn nơi ấy. Bỗng nhiên chàng bật cười quay nhìn biển trầm lặng, lòng tràn trề hạnh phúc.

Suốt một tuần nay chàng không rời sườn núi, chàng làm việc từ sáng đến trưa, nghỉ tay một chút để gặm bánh mì khô uống nước lã và lại làm việc tiếp. Tối lại chàng ngủ trên một tảng đá bằng phẳng ngay dưới chân pho tượng dang dở, sáng ra lại bắt đầu một ngày làm việc mới.

Chiều nay chàng quyết định xuống tàu của người bạn để nghỉ dưỡng sức một đêm trước khi bắt đầu tạc phần dưới của pho tượng.

Xuống tàu, Ðắc được người tiếp đón rất nồng hậu. Anh ăn một bữa chiều toàn đồ biển loại xuất khẩu, bia hộp đem ra ba thùng uống một hơi hết cạn lon bia, ném vỏ xuống biển. Ðắc ăn nhanh, mạnh bạo và tham lam như chưa hề được ăn uống sang trọng như thế bao giờ. Trong bữa tiệc anh đã thấy thấp thoáng năm sáu cô gái lượn qua lượn lại. Lúc ấy thì anh quên Hồng, quên cả cái Ðạo của mình và tuyệt nhiên không hề nhớ gì tới pho tượng. Tuy vậy sau một tuần làm việc quá sức Ðắc thấy buồn ngủ khủng khiếp đến độ ăn xong chưa kịp súc miệng đánh răng anh đã chui vào giường mà ngáy. Lúc ngủ trông anh giống hệt chúa Jésus. Giấc ngủ say sưa, thanh thản và tràn đầy hạnh phúc. Gần sáng anh bị đánh thức dậy bởi những tiếng nhạc the thé và tiếng cười của các cô gái. Rồi anh nghe tiếng chân chạy đuổi nhau, lẫn trong tiếng sóng vỗ vào mạn tàu. Những âm thanh ấy đối với anh chẳng có gì xa lạ, chúng không làm anh khó chịu trái lại anh thấy vui tai, chúng gợi lên trong trí anh những chuỗi ngày sống buông thả ở Sài- gòn, gọi dậy cái không khí đàn đúm, hội hè vui nhộn. Tuy vậy anh cứ nằm im mà nghe ngóng. Thế rồi có tiếng gõ cửa, anh chưa kịp ngồi dậy thì cánh cửa đã mở toang ra. Một lúc ba cô gái ùa vào phòng vây lấy anh.

– Trốn hả? Bọn họ đều hỏi và ngồi vây quanh giường anh.

Ðắc kéo trong gối ra gói thuốc lá, chậm chạp châm lửa và mỉm cười. Anh hỏi:

– Chỉ có ba em thôi à?

– A! Anh này ngon há. Ba em cũng đủ xé xác rồi đó cưng.

Ðắc tốc váy một cô lên rồi lại tốc váy cô khác.

– Quần lót bỏ đâu cả rồi?

– Bị trấn lột dọc đường.

– Ðứa nào trấn lột các em? Chỉ đi, anh giết nó cho mà xem.

Một cô nắm bộ râu xồm xoàm của anh giựt lia lịa và nói:

– Thuyền trưởng đấy. Dám giết không?

– Thuyền trưởng cũng giết. Kiếm cho anh khẩu súng đi.

– Thôi đừng có điên. Anh đẹp trai quá.

Một cô khác phụ họa:

– Ðẹp trai thiệt. Làm chồng em đi.

– Làm chồng cả ba được không?

– Ðược quá đi chớ.

– Nhưng bây giờ sao. Ai trước? Bốc thăm nhé?

Một cô đề nghị:

– Oẳn tù tì.

Cô khác la lên:

– Ðừng chơi trò con nít. Nhào vô giết nó đi.

Thế là cả ba nhào lên mình Ðắc, cười lên rũ rượi.

Ðắc vẫn bình tĩnh, nằm im mặc cho họ quần thảo mình suốt tới sáng.

*

Tám giờ sáng. Biển vẫn trong vắt, thuyền đánh cá đậu lô nhô quanh chiếc tàu viễn dương, thành phố ẩn hiện sau những cột buồm, những rặng dừa cao rậm rạp. Ðắc ăn sáng với người bạn xong thì đòi lên bờ. Người bạn cho một chiếc ca nô nhỏ chở anh và bao dụng cụ trở vào thành phố. Ðắc lại gọi xích lô đến chỗ bức tượng dang dở của mình và tiếp tục công việc. Lúc ngước nhìn khuôn mặt của người tình Ðắc cảm thấy lòng mình thanh thản, những hoan lạc của đêm qua đã hoàn toàn được gột sạch bởi thánh linh.

Chàng trở lại công việc một cách say mê như những ngày đầu. Ðêm chàng vẫn ngủ lại dưới chân pho tượng. Ðến ngày thứ mười lăm thì tác phẩm gần như hoàn tất.

Buổi trưa có một cậu bé chăn dê đội cái nón cời, tay cầm một nhánh trúc lùa đàn dê đến gần chỗ chàng đang làm việc. Em bé bỏ mặc đàn dê, đứng nhìn say mê. Có một lúc Ðắc quay lưng, trông thấy em, anh mỉm cười nhưng không nói gì. Em bé hỏi:

– Chú làm gì vậy?

– Chú tạc tượng. Quán Thế Âm. Cháu có biết phật bà Quán Thế Âm không?

– Biết.

– Cháu thấy có đẹp không?

– Ðẹp. Nhưng không giống Phật Bà. Mà chú tạc tượng này chi vậy?

Ðắc ngừng tay, lấy nước uống. Anh ngoắc nó lại gần, bảo nó ngồi xuống cạnh mình rồi hỏi:

– Bây giờ chú hỏi cháu nhé. Người ta dựng tượng Chúa, tượng Phật, trong nhà thờ, trong chùa, trên đỉnh núi mà cháu thường thấy đấy, để làm gì?

Thằng bé nghĩ ngợi một chút xíu rồi trả lời:

– Ðể thờ.

– Vậy thì chú dựng tượng này cũng để thờ.

– Sao kỳ vậy? Bộ đây là cô tiên hả?

– Không. Ðây là người yêu của chú.

Thằng bé ngó ra biển nói:

– Chú nói nghe ngộ quá. Nhưng chú nên coi chừng

– Coi chừng cái gì?

– Hai bữa nay cháu thấy có mấy người công an cứ đi lảng vảng dưới chân núi, họ nhìn chú, chỉ chỏ rồi nói xầm xì cái gì đấy.

Ðắc vỗ lưng thằng bé:

– Cám ơn cháu. Nhưng chắc không phải họ nói gì về chú đâu. Chú có làm gì bậy đâu.

Thằng bé đứng dậy, chào Ðắc rồi đi theo đàn dê của mình.

Ðắc ném tàn thuốc ra xa rồi đứng lên nhìn xuống chân núi nhưng chẳng thấy một bóng người nào cả. Anh quay lại với tác phẩm của mình, ngắm nghía hồi lâu và lấy làm đắc ý. Anh nghĩ, từ giờ tới chiều mình sẽ khởi công làm ngay một chi tiết nhỏ nhưng vô cùng quan trọng: Một bức tượng của chính anh, chỉ nhỏ bằng bàn chân của người anh yêu. Anh sẽ tạc tượng anh đang quỳ ngay trước bàn chân của Hồng, cúi hôn ngón chân út. Vì đã có ý định trước như thế nên khi tạc xong pho tượng lớn anh đã chừa lại một khối đá nhỏ ngay dưới chân tác phẩm của mình. Với sự náo nức chưa từng có anh cầm dụng cụ lên tay và bắt đầu công việc.

ĐÀO HIẾU

(Còn tiếp)

Advertisements

One comment on “Kẻ Tử Đạo Cuối Cùng – kỳ 07 – NHỮNG TÁC PHẨM ĐẦU TIÊN CỦA HỒNG ĐẠO

  1. NHẠC SĨ say sưa Hợp Âm…Sức quyến rũ ĐẠO NHẠC ru Tâm Thân Khiến mê mẩn quên thời gian”SAY chân lý Yêu Tâm hồn say TÌNH”-VĂN SĨ say Ảo mộng Tình Ca ngợi tôn thờ NỖI TÌNH thế nhân!Đối diện thực tế ĐẠO VĂN-”Phũ phàng vẫn nắm phút giây lãng mạn…”HỌA SĨ khắc tạc kiên nhẫn ĐẠO MÊ THẦN TƯỢNG lưu giữ CÓ- ”ĐƯỢC”Hình ảnh Thực để nhớ tưởng…Tất cả THỎA CÁI TÔI trong ĐAM MÊ?Và ĐẮC đạt ĐƯỢC là bước sang Lãnh vực- Luận bàn ĐẠO khác nữa???

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s