ĐÀO HIẾU TẠP VĂN – Phiếm luận về giày

adam-evaChắc chắn khi còn ở trong vườn Ðịa Ðàng thì cả ông Ađam lẫn bà Eva đều đi chân đất. Lúc ấy thời trang của hai vị chỉ là cái lá nho, thế thì làm sao họ có ý niệm về một đôi giày.

Vậy thì theo bạn giữa ông Ađam và bà Eva ai là người nghĩ ra đôi giày trước?

Ông Ađam hiền lành chất phác, ăn rồi chỉ biết lẩn quẩn trong khu vực mười sáu mét năm mươi của vườn Ðịa Ðàng, khu vực này cỏ xanh non mịn màng tươi tốt, chắc chắn chân không bao giờ bị đạp gai. Trái lại nàng Eva tính rất tò mò ưa phiêu lưu mạo hiểm, sau khi hái trộm trái cấm nàng cũng còn “quậy“ nhiều thứ nữa. Trong những chuyến đi bụi đời ấy làm sao nàng tránh khỏi đạp gai. Thế là trong cái đầu thông minh và đầy trí tưởng tượng của nàng một đôi giày đã hiện ra.

Chưa có tài liệu nào mô tả chính xác kiểu dáng của đôi giày ấy nhưng có lẽ chúng ta phải thừa nhận rằng Ma-đam Eva là nhà tạo mốt đầu tiên của nhân loại.

Và có thể kết luận đôi giày của Eva làm bằng cỏ vì đó là chất liệu dễ tìm nhất lúc ấy.

Ðôi giày cỏ ngự trị trên hành tinh này lâu lắm, từ thời bà Eva (tức là thuở khai thiên lập địa)  cho tới mãi sau này, khi con cháu của bà sinh sôi nảy nở đầy dẫy trên mặt đất.

Ngay cả lúc con người đã phát minh ra được vải vóc thì đôi giày cỏ vẫn tồn tại.

Trong văn học cổ điển Trung Quốc ta thấy xuất hiện những vị đạo sĩ, ẩn sĩ như Quỷ Cốc tiên sinh, Trang Chu, Lão Tử, Hứa Do, Sào Phủ… đều mang giày cỏ. Các hậu bối sau này ở nước ta như Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử… lúc làm quan thì áo mão xênh xang nhưng lúc về vườn thì cũng chỉ khoái đôi giày cỏ, đủ thấy giày cỏ là một top model thời ấy. Giày cỏ tạo cho người mang nó một cái vẻ tiên phong đạo cốt trông rất hoang đường. Tiếp tục đọc

CA NGỢI SỰ NGHIỆP CẢI CÁCH GIÁO DỤC

Hôm rồi có thằng cháu tui từ Bắc vô chơi, nó cho tui coi bài văn vần, bảo đó bài đang được cánh thầy cô ngoài đó truyền tụng. Tui coi thấy hay, nghĩ nếu không đăng ở mô thì cũng tiếc, nên nhờ ông Lề Trái đăng lên cho ai thích thì coi cùng.

MICHAEL LANG

CA NGỢI SỰ NGHIỆP CẢI CÁCH GIÁO DỤC. (Kính tặng bộ giáo dục – đào tạo.)

Cải cách giáo dục trước nay

Cũ thì đập bỏ, mới thay liên tằng

Ngày xưa chữ viết loằng ngoằng

Bộ đem cắt cụt thẳng băng dễ xài

Hết thiên niên kỷ thứ hai

Chữ cụt lạc hậu, lại xài chữ quăm (1) (2)

Ngày xưa giáo dục mười năm

Gộp cả vỡ lòng – mười một không sai

Chuyển sang giáo hệ (3) mười hai

Học hết lớp tám nhảy ngay lên mười (4)

Dân tình bái phục kêu trời

Bộ giáo (5) cỡ đó trên đời không đâu (6)

Ngày xưa thi – bộ đứng đầu

Chỉ đạo toàn quốc chung nhau một đề

Một ngày bộ mệt, bộ thề

Thôi thì kệ mẹ bọn tê tự làm

Các trường chủ động mươi năm

Bộ lại lãnh đạo để làm ba chung

Bây giờ bộ thấy lùng nhùng

Bộ lại chuẩn bị ném tung về trường (7)

Ngày xưa lớp học tầm thường

Lớp trưởng, lớp phó ra đường xấu cây (8)

Bây giờ sang tận trời tây

Tới Cô lôm bỉ (9) rước ngay về dùng

Mô hình lớp có hội đồng

Chủ tịch chọn kiểu phổ thông phiếu bầu

Các phó chủ tịch tiếp sau

Cùng mấy ban bệ chia nhau quyền hành (10)

Làm quan từ tuổi trẻ ranh

Chắc sau này lớn tài danh như c.ồn

Ngày xưa phân nát các môn

Toán, Văn, Lý, Sử,… lại còn khen hay

Giờ bộ chỉ đạo làm ngay

Tích hợp môn học, môn này bằng ba

Học một được mấy, sướng ha!

Đại lợi, đại tiện, đúng là hết chê.

Chỉ lo cuốc khố (11), mới nghe

Còn đâu có bốn lăm tì (12) mà thôi

Chi cho tích hợp xong rồi

Lại chi để tái đào bồi (13) thày cô

Thì còn được tí đếch mô

Để làm bao dự án to đang bàn (14)?

Lại nghe có kẻ phàn nàn

Trò tái đào tạo có làm như không (15).

Bớ các bà, bớ các ông!

Lại đây xem bộ giỏi không?

– Hết tầm!

 

CHÚ THÍCH

(1) Quăm: Ý nói có thêm những nét cong.

(2) Cuối thập niên 1970, bộ GD-ĐT quyết định đổi kiểu chữ viết, chuyển sang dùng mẫu chữ viết gần giống chữ in, dễ viết nhưng xấu và các chữ cái của cùng một từ không nối liền với nhau. Khoảng năm 2000 thì lại đổi lại mẫu chữ cũ.

(3) Giáo hệ: Hệ thống giáo dục.

(4) Trước 1975 là miền Bắc, và từ 1975 đến đầu thập niên 1980 là cả nước, thực hiện hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm. Từ đầu thập niên 1980 gộp cả lớp vỡ lòng vào thành 11 lớp và chuyển sang hệ thống 12 năm. Tuy nhiên, vì sách giáo khoa chưa kịp soạn cho 12 lớp, mà lãnh đạo thì cứ muốn hết phổ thông là phải hết lớp 12, nên đành cho học sinh hết lớp 8 lên thẳng lớp 10. Mấy năm sau, khi đã soạn sách giáo khoa lớp 9 (và soạn lại cho lớp 8 và 10), học trò hết lớp 8 phải lên lớp 9 chứ không được ‘nhảy’ lên lớp 10 nữa. Bấy giờ mới thực sự có hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm.

(5) Bộ giáo: Bộ GD-ĐT.

(6) Không đâu: Không ở đâu có (thứ tương tự như vậy).

(7) Chính sách thi tuyển sinh đã trải qua 3 giai đoạn và sắp đến giai đoạn thứ tư. Trước cuối thập niên 1980: bộ quản. Từ cuối thập niên 1980 đến 2001: các trường tự chịu trách nhiệm. Từ 2002: bộ quản (3 chung). Năm 2015: chuẩn bị cho các trường tự chủ.

(8) Xấu cây: Ý nói kém oai.

(9) Cô lôm bỉ: Colombia.

(10) Mô hình lớp học có hội đồng tự quản, gồm chủ tịch, một vài phó chủ tịch và 5-6 ban (ban học tập, ban đời sống, lại có cả ban đối ngoại như bộ ngoại giao,…). Bầu bán có tổ chức vận động tranh cử, ứng viên nêu cương lĩnh như tranh cử tổng thống Mỹ. Khiếp!

(11) Cuốc khố: Quốc khố, tức ngân sách nhà nước.

ĐÀO HIẾU TẠP VĂN – Quyến rũ bằng hương thơm

nude 02Những sinh vật đẹp đẽ như  bướm, chim, cá kiểng… tuy rực rỡ nhưng khi cần quyến rũ bạn tình, chúng cũng phải thay màu đổi sắc cho hợp nhãn đối tượng của mình.

Nhưng các sinh vật hoang dã xấu xí như con cầy hương thì được trời cho một túi xạ thơm tho để mồi chài người đẹp. Cái túi xạ nhỏ bé giấu trong bụng nó là niềm khao khát của loài người.

Vì thế con người phải khổ công lên rừng tìm bắt con cầy hương để lấy cái túi xạ của nó. Con người còn xuống biển, đem cả sinh mạng mình chiến đấu với cá nhà táng cũng chỉ mong lấy được chất thơm của nó gọi là Long Diên Hương. Sự hình thành của Long Diên Hương cũng rất lạ đời. Cá nhà táng là con cá voi khổng lồ, nó rất thích ăn mực nang, nó há miệng nuốt cả đàn mực hàng ngàn con vô bụng. Và có một bộ phận của con mực không thể tiêu hóa được đó là cái NANG. Nang làm cho cá đau, và cơ thể nó phải tiết ra một chất keo bao lấy những cái nang ấy để chống lại cơn đau. Chính chất keo này tiết ra mùi thơm làm ngây ngất loài…người.

Người ta dùng Xạ Hương, Long Diên Hương… để chế tạo ra nước hoa, mỹ phẩm đắt tiền và dùng nó để bôi lên người, át đi cái mùi mồ hôi hăng hắc của làn da. Tiếp tục đọc

BÙI GIÁNG – ÐÔI MẨU CHUYỆN VỀ BÙI GIÁNG

BG 00Tác giả: NGUYỄN THUỲ

Ai đã gần Bùi Giáng ít lâu cũng đều có thể ghi lại đôi sự việc khác thường dần dần được xem như là giai thoại trong cuộc sống của ông. Bùi Giáng và tôi thân nhau trước tiên do cùng đồng hương xứ Quãng, tiếp theo do thời gian thuê nhà ở sát bên nhau vào những năn 1959-1961 tại một hẽm đường Trương Tấn Bửu. Sau nầy, Bùi Giáng thường đến nhà tôi ở Chung Cư Minh Mạng đường Sư Vạn Hạnh, có lúc ở luôn cả hai ba tháng. Có nhiều sự việc kỳ lạ nơi anh nhưng tôi không nhớ hết, chỉ xin kể đôi việc do chính tôi chứng kiến.

Những người nữ Việt Nam mà anh hay nhắc đến là: Ni cô Trí Hải, Nam Phương Hoàng Hậu và Kim Cương (thỉnh thoảng có Hà Thanh và Thu Trang). Với Nam Phương Hoàng Hậu, anh không có lời nào bông đùa, vô lễ, có lẽ anh quí trọng nét phúc đức hiền hậu, nét thiên hương quốc sắc mà cũng có thể do anh nhớ lời Jésus qua câu nói bí hiểm: “Trong cuộc xét đoán Nữ Vương Nam Phương sẽ đứng lên với dòng dõi nầy mà định tội nó…” (ma:12-42). Thử nghe một đoạn anh nói về Hoàng Hậu Nam Phương: Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU TẠP VĂN – Mặc áo cho hoa

04Người nữ là sinh vật đẹp nhất trong tất cả mọi sinh vật trên mặt đất này. Người nữ đẹp hơn cả hoa vì nhan sắc của họ làm rung động lòng người sâu thẳm và lâu bền hơn những bông hoa gấp nhiều lần. Hoa đẹp làm ta sững sờ, ngây ngất, nhưng người đẹp làm ta nhói tim, đứng tim và đôi khi vỡ tim. Hoa đẹp quyến rũ ta nhưng người đẹp thì mê hoặc, bỏ bùa, xỏ mũi dẫn ta đi vòng vòng. Hoa chỉ làm ta dừng chân quyến luyến nhưng người đẹp thì có thể khiến chim sa cá lặn, khuynh quốc khuynh thành.

Hoa, tự nó đã đẹp, không cần tô điểm thêm. Nếu có ai may áo mặc cho hoa thì đó là chuyện điên rồ. Thân thể người nữ tự nó còn đẹp hơn hoa rất nhiều, thế thì tại sao chúng ta phải che giấu nó dưới những lớp trang phục?

Kẻ đầu tiên làm việc ấy là nàng E-va với chiếc Lá Nho trong vườn Ðịa Ðàng rồi sau đó là hàng loạt những nhà tạo mốt vô danh với đủ loại chất liệu như vỏ cây, da thú, kim loại…và ngày nay khắp nơi trên thế giới từ châu Âu đến Trung Quốc, sang tận châu Phi châu Mỹ cho tới… Việt Nam mọc lên những tên tuổi như Gaultier, Christian Dior, Giorgio Armani, Cát Tường, Hoàng Hoa… vẽ vời đủ kiểu.

Những xiêm y năm tầng bảy lớp của thời Phục Hưng, thời phong kiến bên Tàu đã được xếp vào quá khứ để bày ra những y phục hở ngực, hở cổ, hở đùi, hở rún ngày nay. Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU TẠP VĂN – Người đàn bà trên đồi cỏ

NGUYEN DUC SON 05

(ghi theo lời kể của Phượng và các con)

Năm đó chùa Tây Tạng ờ Bình Dương có một vị Phật tên gọi là Tỳ Lô Giá Na và một cô tiên nhỏ tên là Annie Phượng. Buổi tối khi các tín hữu đã xong lễ về nhà, khi thầy trụ trì và các sư sãi đã tụng xong bài kinh Kim Cang Đảnh, khi rừng cây đã im lặng, mái chùa đã chìm khuất trong màn đêm… thì ánh sáng của hai vầng hào quang tỏa ra, ôm lấy ngôi chùa. Một vầng sáng màu tím nhạt, ấm áp của đức Phật và một vầng sáng trắng tinh khiết của Phượng.

Hào quang của Phượng tươi mới, rực rỡ như một khóm hoa lung linh trong sân chùa. Annie Phượng không phải là ni cô, không đi tu, nhưng hai mươi năm sau, khi theo Nguyễn Đức Sơn lên rừng, nàng đã hóa thân thành Bồ tát.

Tôi chưa từng gặp Phượng thời con gái. Cũng chưa từng gặp Phượng năm nàng hai mươi tám tuổi dắt con theo chàng thi sĩ ngông cuồng lên rừng. Tôi chỉ gặp nàng khi nàng đã vượt qua chín tầng địa ngục, qua những cái chết, những cơn bệnh, những đám cháy rừng và những cơn đói.

Nhưng tôi vẫn biết nàng rất đẹp.

Trịnh Công Sơn cũng biết nàng rất đẹp.

Nguyễn Đức Sơn thì nguyền rủa mọi thứ. Tôi nói:

-Tôi đến đây để tìm một Nguyễn Đức Sơn “vĩ đại” nhưng tôi chỉ gặp một Phượng vĩ đại. Nếu không có người đàn bà này, ông đã chết rồi Sơn ạ.

Sơn la hét. Và Phượng im lặng. Luôn luôn im lặng. Một cái bóng mảnh mai ngồi bất động trong hoàng hôn, trên mặt đất đầy lá khô và cỏ. Một khuôn mặt đầy nếp nhăn và một đôi mắt đẹp đầy những dấu chân chim.

*

Năm 1972 Nguyễn Đức Sơn trốn lính, về tá túc ở Bình Dương, dạy Anh văn tại một tư thục. Nếu không gặp Phượng hắn sẽ chẳng có tác phẩm nào ra hồn. Phượng rọi hào quang của nàng vào cái đầu mê gái tơi bời của hắn và hắn được cô “độ” cho thành…thi sĩ. Tác phẩm “Đêm Nguyệt Động” ra đời từ dòng nước cam lồ róc rách tuôn ra từ nhục thể của “thánh cô” Annie Phượng. Và huyền thoại đã bắt đầu:

Năm mười bốn có lần anh ngó thấy

Em cởi truồng ngoe nguẩy cuối vườn trăng

Hồn thảo dã trong đêm vừa thức dậy

Khắp bầu trời ướt mượt cả lông măng

*

Từ dạo đó xác hồn anh mất hết

Một đêm nào trở lại cõi vô biên

Đời anh đó đâu có bằng hạt cát

Đã vô tình vương dưới gót chân em

Từ đó chàng thi sĩ luôn trộn lẫn trần tục với bồng lai nên khi cô nữ sinh “tụt quần xuống đái” thì hào quang cũng rực sáng muôn trùng.

 

Trên rừng vắng một mình anh hái trái

Bỗng mơ hồ trông thấy quá nhiều chim

Bên nương vắng em tụt quần xuống đái

Anh thấy càn khôn rụng xuống trong tim

Nhưng những vần thơ mê gái thượng thừa ấy cũng không lay động được Annie Phượng. Chàng khóc lóc, rên siết, quỳ lạy…cũng chẳng ăn thua, bèn dùng “khổ nhục kế”. Nếu như ngày nay thì chàng thi sĩ sẽ quấn chất nổ quanh mình rồi lao vào “đánh bom tự sát”, nhưng Nguyễn Đức Sơn thời đó đã trèo lên thành giếng và kêu lên: “Bớ Chúc Anh Đài! Ta chết đây!” làm Phượng hoảng hốt.

Cuộc hôn nhân đã bắt đầu như vậy.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Tiếp tục đọc

ĐÀO HIẾU TẠP VĂN – Những kiểu ăn xin trên thế giới

ga-an-may-hieu-biet-va-cau-chuyen-marketing-kinh-dien-4Ăn mặc rách rưới, thấy khách bộ hành đi đến thì chìa tay ra, chìa cái mũ ra, dọn sẵn một bộ mặt bi thương, chuẩn bị một giọng nói thống thiết. OK. Đó là diễn xuất của những người ăn xin thông thường.

Khi lối diễn ấy không có hiệu quả,
người ăn xin thường dùng cả thuật hóa trang. Dùng cả đạo cụ. Thuốc đỏ, bông gòn và băng dán có thể dễ dàng biến một cái chân lành lặn thành ghẻ lở, đầy thương tích. Khi bị cảnh sát rượt đuổi, họ có thể chạy rất nhanh nhưng sau đó lập tức biến thành một gã què, lê lết vỉa hè, đầu chợ, miệng hát nghêu ngao những lời ai oán.

Người khó tính có thể lật tẩy họ bằng cách giật tung những bông băng để chứng minh với thiên hạ rằng họ đang đóng kịch, đang lừa bịp, nhưng người dễ tính thì nói: “Cứ coi như đó là một cái nghề. Họ cũng đóng kịch như ai, có điều tư thế của họ hèn kém hơn, họ không có sân khấu, không có bục diễn, họ chỉ có vỉa hè, xó chợ vì thế mà họ chỉ ‘lượm bạc cắc’.” Tiếp tục đọc

Hình ảnh

Nguyễn Trần Sâm – NHỮNG ĐỨA EM TÔI kỳ 16: Kẻ cầm tinh con sên

oc2Xưa nay trong thiên hạ thường hay nói đến việc mỗi người sống trên đời đều “cầm tinh” một trong 12 “con giáp”. Tôi chưa thấy bằng chứng thuyết phục nào về việc này, nhưng đã chứng kiến cuộc đời của một kẻ thực sự cầm tinh một loài vật, chỉ có điều loài này không có trong 12 con giáp. Đó là con sên.

*

Hồi tôi học lớp 8, tức đầu cấp III ngày xưa, ông Cù, một ông chú họ của tôi, thấy tôi học khá, ăn nói mạch lạc, bèn gom mấy đứa trẻ kém tôi 4-5 tuổi, trong đó có con trai ông, rồi nhờ tôi kèm chúng học các môn của lớp 3, lớp 4. Được sự cổ vũ của ông già tôi, tôi nhận lời và làm việc đó một cách khá hào hứng, mặc dù hoàn toàn miễn phí.

Có điều hơi đáng buồn là trong đám trẻ đó thì chính thằng Hán con trai ông chú tôi là học kém nhất. Nhiều lần tôi phải ra riêng loại toán rất dễ cho Hán. Một trong những bài toán đó là thế này: Một con sên mỗi giờ bò được 0,5 mét. Hỏi sau 9 giờ thì con sên bò được bao xa? Tôi viết cái đề toán đó vào vở của Hán. Nó viết “Bài làm”, và viết tiếp phía dưới: “Một con sên bò lên bờ là…” rồi chép phép tính của bài toán trước xuống đó, chỉ khác con số, trong khi bài toán trước phải dùng phép chia để giải. Tôi coi mà buồn xỉu vì thấy mình hoàn toàn bất lực trước thằng em này. Tôi nghĩ đến hy vọng của ông chú mà thấy ái ngại. Tiếp tục đọc