TẠ LINH – Đạo Phật và việc đời

636-1_3Viết nhân đọc comment bài “Bi kịch của thiên tài” của Đào Hiếu

Nhiều người, kể cả những người duy vật, thường tỏ vẻ tâm đắc với lời dạy của Phật về sự từ bi. “Đúng quá, dại gì mà làm điều ác. Không làm điều ác thì không có kẻ thù, và như thế rõ ràng làm ăn sẽ thuận lợi hơn.” – họ nghĩ vậy về ý nghĩa của điều Phật dạy.

Họ không hề nghĩ rằng nếu chỉ có vậy thì cần gì đến Phật. Cái cốt lõi của những điều Phật dạy thực ra nằm ở chỗ khác. Một trong những thành tố quan trọng nhất của học thuyết mà Phật truyền bá là quan niệm về luân hồi.

Thuyết luân hồi dạy rằng các sinh linh (nói chung) là bất tử và trải qua hàng ngàn kiếp sống hữu hình (có cơ thể) ở nhiều “cõi” khác nhau. Trong quá trình lâu dài đó, sinh linh tiến hóa dần. (Những sinh linh không thể tiến hóa có thể bị “đọa” vào một cõi riêng mà một vài tôn giáo gọi là “địa ngục” hoặc bị “hình thần toàn diệt”.) Trong các kiếp sống ở “cõi trần”, sinh linh có thể là người hoặc sinh vật các bậc cao thấp khác nhau. Khi đã tiến hóa đến mức “ngộ đạo” thì sinh linh sẽ được giải thoát, không quay trở lại đầu thai để sống tiếp những kiếp sống hữu hình nữa. Cuộc sống tiếp theo sẽ là ở “miền cực lạc”.

Các kiếp sống hữu hình luôn gắn liền với những khổ đau. Nguồn gốc của những khổ đau này là “nghiệp”, do tâm trí thấp kém, cụ thể là những ham muốn (tiền tài, địa vị, danh vọng, tình ái và tình dục,…) và những hành động để đạt được ham muốn, gây ra. Muốn thoát được biển khổ thì cách duy nhất là rũ bỏ lòng tham, ham muốn, không để cảm xúc chế ngự (đoạn tuyệt với “thất tình, lục dục”).

Người thường chúng ta nghe nói vậy thì vừa ra vẻ hiểu, vừa thấy hoảng sợ. Không còn ham muốn thì không thất vọng, không đau khổ – dễ hiểu quá (!?). Nhưng hết ham muốn thì có được hưởng sung sướng cũng chẳng thấy sướng, vậy chẳng phải là cuộc sống vô nghĩa hay sao? Về câu hỏi này thì đạo Phật trả lời là không phải vậy, không phải như ta nghĩ. Ngược lại, người không còn những tham vọng trần tục sẽ được hưởng những phúc lạc vô biên mà người thường không thể nào biết được. (Có thể tạm so sánh với việc người hiểu biết xem bộ phim có tình tiết phức tạp thì thấy khoái, còn kẻ ngu đần thì chẳng thấy thích thú chi.)

Trong cuộc sống có rất nhiều hiện tượng “oái oăm”. Một cô gái vừa xinh đẹp, vừa thông minh, bỗng mê mệt một anh chàng gù, dị dạng. Một chàng trai mơn mởn xuân xanh bỗng si mê đến mức không tài nào dứt nổi một mụ nạ dòng, thậm chí là một bà già hơn mình ba bốn chục tuổi. Một người suốt đời ghét một tính xấu nào đó lại không thể nào bỏ được một người vợ hoặc chồng có tính xấu đó, ngay cả khi không có con chung. Một con hổ cái cho những con lợn con bú vú mình và liếm láp chúng như mẹ liếm láp con. Một chú chó và một chú cá heo quấn quýt nhau hệt một cặp tình nhân, đến mức chú chó lao xuống nước để theo chú cá heo… Tất cả những điều đó không thể nào giải thích được, nếu không thừa nhận có những lực lượng vô hình chi phối cuộc sống của muôn loài hữu hình và không thừa nhận thuyết luân hồi… Hiểu những thứ đó, ta còn có thể giải thích được sự thăng trầm trong vận mệnh của các quốc gia. 

Nói như vậy thì liệu có phải dân số Trái Đất ngày một ít đi, vì sẽ có những người được giải thoát, không đầu thai trở lại làm người nữa? Không phải vậy. Sẽ luôn có “nguồn bổ sung linh hồn” gồm những sinh linh mà kiếp trước là động vật. (Và tôi phải nói một điều mà các nhà giáo dục sẽ kịch liệt phản đối, là một linh hồn mới thoát thai từ các kiếp động vận sẽ hầu như không thể dạy để thành người tư cách và hiểu biết được!)

Ở mỗi thời đại, số lượng người đã gần “ngộ đạo” đều rất ít, vì đây là tầng phát triển rất cao của “linh hồn” (và cũng vì cứ ngộ đạo thì hầu hết không còn trở lại đầu thai làm người nữa, trừ những nhân vật có sứ mệnh đặc biệt). Mặt khác, những người này sống cuộc sống “hướng lên”, hướng về cõi huyền, về miền cực lạc. Họ hầu như không quan tâm đến việc đời, bởi nếu quá quan tâm thì lại không ngộ đạo được. Vì thế, cuộc sống trần gian cứ diễn ra theo quy luật của nó, mà những quy luật này được quyết định bởi “thất tình, lục dục”, tức là bởi hành vi của đa số, gồm những người có “linh hồn” ở các tầng thấp hơn.

Liệu loài người có thể tiến hóa về linh hồn, để đến một thời đại nào đó, ví dụ 1 triệu năm sau, trên Trái Đất chỉ còn toàn những người gần ngộ đạo? Không, không bao giờ. Bởi người ngộ đạo thì không quay lại, và vẫn luôn có những linh hồn mới từ các loài động vật “nhập” vào tập thể loài người. Như vậy, dù xã hội loài người dù phát triển đến đâu về khoa học – kỹ thuật, thì về “linh hồn”, nó cũng không khá hơn hiện nay. Và cuộc sống loài người vẫn mãi bị chi phối bởi hỷ – nộ – ai – lạc – ái – ố – dục.

Bây giờ nói về “việc đời” đối với những người muốn quản lý xã hội và cải tạo nó cho tốt lên. Liệu những người này có nên coi rằng xã hội loài người gồm đa số là những người có ý thức tu Phật? Hoặc họ có nên đặt ra mục tiêu là làm cho tất cả hoặc đa số trở thành những người ngộ đạo? Tất nhiên là không. Như ở trên đã nói thì rõ ràng quan niệm và mục tiêu như vậy sẽ là sai lầm lớn, và hoàn toàn không tưởng. Đào Hiếu đã nói đúng khi nhấn mạnh rằng muốn quản lý tốt xã hội ở chốn trần gian này thì phải thừa nhận những bản năng gốc của loài người, nếu không sẽ thất bại thê thảm, như Khổng Khâu và Karl Marx. Và điều đó chẳng có gì mâu thuẫn với nhận thức của chúng ta về đạo Phật.  

TẠ LINH

P.S. Để dễ hiểu, trong bài tôi đã dùng ngôn từ không hẳn là được dùng trong kinh sách đạo Phật.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s