NGUYỄN TRẦN SÂM – Muốn ra biển lớn, phải thoát khỏi hai gọng kìm Nga, Tàu

da113011a492caa87420c3f332de0994.jpg“Ra biển lớn” trước hết có nghĩa là đi lại tự do trên Biển Đông và các đại dương. Nhưng quan trọng hơn nữa là hội nhập với thế giới, trong đó có việc giao lưu ngày càng sâu rộng với thế giới văn minh.

Thế giới văn minh bao gồm những quốc gia nào?

Trước năm 1990, “thế giới văn minh” đối với người Bắc Việt là Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Trung Quốc không được người Bắc Việt liệt vào phạm trù đó nhưng cũng được coi trọng, trừ giai đoạn hơn 10 năm từ cuộc chiến biên giới phía Bắc đến Thỏa Ước Thành Đô. Đối với dân Nam, nhất là những người có óc nhận xét, thì không phải như vậy. Ngay từ trước 1975 họ đã biết Tây Âu và Bắc Mỹ mới là những vùng văn minh nhất. Một trung tâm văn minh lẻ loi nhưng đáng chú ý nữa là Nhật Bản.

Sang thế kỷ XXI này thì hầu hết mọi người, do mắt thấy tai nghe hoặc do những thông tin có được qua truyền thông và dựa vào sự đánh giá khách quan theo một hệ thống tiêu chí mang tính khoa học, đều thừa nhận rằng nơi được gọi là thế giới văn minh phải là Tây Âu (nói Tây Âu nhưng bao gồm cả Bắc Âu), Bắc Mỹ (gồm Hoa Kỳ và Canada) và Đông Bắc Á (gồm Nhật Bản và Hàn Quốc). Ở những nơi đó, không những kinh tế và khoa học – công nghệ phát triển, mà các tiêu chí về phát triển con người, trong đó có sự bảo đảm các quyền con người, cũng đạt mức độ rất cao, xã hội nói chung thanh bình (trừ những vụ gây rối hầu hết do người nhập cư gây nên), môi trường trong lành và đất nước đẹp như trong mộng.

Tiếp cận với thế giới văn minh không có nghĩa là hy vọng họ sẽ đem đến cho ta những lợi lộc. Hy vọng như vậy chỉ là hão huyền và không xứng đáng với những con người có lòng tự trọng. Nhưng một khi có quan hệ sâu rộng được với thế giới đó thì tiềm năng phát triển của dân tộc sẽ tăng lên. Không cần phân tích dài dòng, cứ nhìn những tấm gương như Nhật, Hàn, Singapore sẽ rõ – chính sách thân phương Tây là một yếu tố cực kỳ quan trọng để đưa các dân tộc này lên con đường phát triển. Có thể VN ta không phát triển nhanh được như họ, nhưng chắc chắn cũng sẽ nhận được những xung lực mạnh mẽ từ những mối quan hệ với thế giới này.

Không thể phủ nhận Nga và Trung Quốc là những dân tộc vĩ đại với tiềm năng văn hóa đáng kính nể. Tuy nhiên, các thế lực chính trị ở hai đất nước này không cho người dân được sống bình đẳng với họ cả về quyền làm người lẫn quyền được hưởng thành quả lao động và tài nguyên đất nước. Mặt bằng dân trí, đặc biệt là ý thức về quyền con người, ở hai quốc gia này cũng chưa thật cao. Chính quyền, đặc biệt ở Trung Quốc, cai trị bằng bạo lực, sẵn sàng thực hiện những vụ thảm sát hàng ngàn, hàng triệu người để giữ quyền cai trị. Hãy nhớ lại những vụ “đại cách mạng văn hóa vô sản”, Thiên An Môn 4 – 6 – 1989,… ở Trung Quốc, hay những vụ hãm hại các lãnh tụ đối lập ở Nga…

Có thể (và nên) có quan hệ “làm ăn” trên một số bình diện nào đó với Nga và Trung Quốc, nhưng không thể quan hệ theo lối dựa vào chính quyền hai nước này, và càng không thể để bị ràng buộc với họ bởi những thỏa thuận làm phương hại đến quan hệ với thế giới văn minh. (Tất nhiên, nếu mục đích là phục vụ quyền lợi của giới cầm quyền hoặc vì “ngưu tầm ngưu – mã tầm mã” thì lại là việc khác.)

Những hậu quả khốn nạn của quan hệ ràng buộc với Tàu Cộng thì đã quá rõ, từ việc đầu độc cơ thể và năng lực trí tuệ bởi những thứ đồ ăn ôi thối hoặc chứa hóa chất độc hại, đến sự lấn đất, lấn biển, sự đe dọa về an ninh, và bao điều tệ hại khác. Một số lợi ích thuần túy kinh tế trước mắt mà mối quan hệ này mang lại không đủ để bù đắp những nhức nhối mà phía “đối tác” gây ra cho dân tộc ta.

Sự kiềm tỏa do Nga gây ra thì khó thấy hơn. Cho đến nay, Nga chưa trực tiếp gây cho người dân cũng như chính quyền VN những việc thực sự khó chịu. Những cuộc gặp gỡ song phương luôn diễn ra trong bầu không khí hồ hởi, mang màu sắc hữu nghị thắm thiết. Quan hệ Nga-Việt, đặc biệt trên bình diện kinh tế, đem lại lợi ích cho cả hai bên. Chính quyền hai nước rõ ràng cũng cảm thấy tâm đắc với nhau trong nhiều vấn đề quốc tế, vì đều không thích các nước tư bản phương Tây. Nga không thích vì phương Tây là rào cản đối với mộng bá quyền của họ. Chính quyền VN không thích vì sự khác biệt về chế độ xã hội. Dù rất muốn phát triển quan hệ làm ăn với phương Tây do mục tiêu lợi nhuận, chính quyền VN chưa bao giờ thực sự hết nghi ngại vì chính quyền các nước tư bản phương Tây có thể ủng hộ “diễn biến hòa bình”. Thậm chí một số người trong giới chức cao cấp VN vẫn ngầm coi phương Tây là kẻ thù lâu dài.

Mặc dù chính giới VN e ngại phương Tây, nhưng rõ ràng họ không thể cản được quá trình tiếp cận ngày càng mạnh mẽ với các nước tư bản phát triển, do những lợi lộc trước mắt và do sự xuất hiện của những nhân tố thân phương Tây. Điều này thể hiện rõ nhất ở sự phát triển của quan hệ Việt-Mỹ. Dù mối quan hệ này còn lâu mới đáp ứng được kỳ vọng của các nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền của VN, nhưng rõ ràng nó làm cho ông chủ Kreml không thích. Và một khi đã không thích, ông ta sẽ tính cách cản trở nó. Hãy xem cách Putin đối xử với hai nước mà ông ta xem là “đàn em” là Gruzia và Ukraina khi hai nước này có ý định ngả sang phía Tây. Lấy cớ chính quyền Gruzia đàn áp dân Nga ở Abkhazia và Nam Ossetia, ông ta đem bom dội thẳng xuống thủ đô Tbilisi của Gruzia làm không ít dân thường thiệt mạng; và với cái cớ tương tự, ông ta cho quân cướp không bán đảo Krym, rồi đưa quân vào Đông Ukraina hòng ủng hộ những kẻ ly khai thân Nga tách vùng này ra khỏi Ukraina và lập ra cái gọi là Nước Nga Mới (Novorossiya).

Với VN ta, đương nhiên Putin không thể làm được những việc như với Gruzia và Ukraina. Nhưng ông ta vẫn có thể cản trở VN một cách đáng kể, làm chậm tiến độ, thậm chí làm mất cơ hội hội nhập. Thứ nhất, ông ta có thể dùng lời đường mật và một vài thứ lợi lộc nào đó để thuyết phục VN ở lại trong liên minh tay ba Việt-Trung-Nga; và như vậy có nghĩa là VN không thoát khỏi sự kiềm tỏa tay đôi của Nga và TQ. Thứ hai, ông ta có thể xúc xiểm để chính quyền VN nghi ngờ phương Tây nhiều hơn. Thứ ba, với sự hiện diện bán quân sự tại cảng Cam Ranh và tại biển Đông nói chung, ông ta sẽ cùng TQ tạo ra một rào cản đáng kể đối với sự hiện diện của Mỹ và liên minh Mỹ-Nhật-Úc ở vùng này. Điều đó đã lộ dần ra từ phát biểu của thứ trưởng quốc phòng Nga A. Antonov tại diễn đàn Shangri-La và từ những tuyên bố tập trận tại biển Đông.

Cũng như từ trước thập niên 1990, Việt Nam luôn chịu sự chi phối của Tàu Cộng và Nga, một bên là sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ, bên kia là sự áp đặt quan điểm lập trường một cách khéo léo, thông qua các khoản viện trợ. Và hơn thế, cả hai nước này luôn xúi VN làm tên lính xung kích trên “tuyến đầu chống Mỹ” và chống thế giới tư bản văn minh nói chung. Trước kia đã thế, và bây giờ cũng vẫn vậy.

Vậy nên, nếu không thoát khỏi sự ràng buộc với hai đế chế Nga, Tàu thì Việt Nam sẽ không thể phát triển và hội nhập với thế giới văn minh.

NGUYỄN TRẦN SÂM

Advertisements

One comment on “NGUYỄN TRẦN SÂM – Muốn ra biển lớn, phải thoát khỏi hai gọng kìm Nga, Tàu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s