NGUYỄN TRẦN SÂM – Những đứa em tôi , kỳ 14

NHUNG DUA EM TOITrong những năm tôi sống ở nhà tập thể của cơ quan, có một cặp vợ chồng ở cùng dãy nhà với tôi. Cả hai vợ chồng đều kém tôi chừng dăm bảy tuổi. Cô vợ tên Linh là người cùng cơ quan với tôi, còn chồng tên Di thì là giáo viên dạy ở trường cao đẳng sư phạm gần đó. Ở gần nhau được vài tuần thì Di đã coi tôi như người rất gần gũi, thường xuyên ngồi chuyện trò với tôi những khi rảnh rỗi.

Di có tầm vóc trên trung bình, cơ thể khỏe mạnh, đi lại mạnh mẽ, nhưng ánh mắt cậu ta có vẻ gì đó luôn bất an. Chỉ đến mấy năm gần đây, khi đã xa những tai họa khủng khiếp và đã đến tuổi 60 thì cái nhìn của cậu ta mới có cái vẻ hướng nội và điềm tĩnh.

Cuối 1972, khi cuộc chiến chống Mỹ đến hồi khốc liệt nhất thì Di ở trong số sinh viên đang học dở đại học được gọi đi lính. Hết chiến tranh, cậu ta được xuất ngũ và đi học tiếp đại học. Ra trường, Di được phân công về dạy ở trường cao đẳng sư phạm đó, rồi quen và yêu Linh. Nửa năm sau thì hai người cưới nhau. Sau 6-7 năm, họ có với nhau 3 đứa con, 2 trai 1 gái.

Trong những câu chuyện mà Di tâm sự với tôi, chỉ thỉnh thoảng cậu ta mới nói thoáng qua về giai đoạn binh nghiệp. Nhưng có hai câu chuyện mà tôi nhớ đến từng lời cậu ta nói, và hình dung rất rõ những cảnh mà cậu ta mô tả. Một chuyện liên quan đến nước, chuyện kia liên quan đến lửa.

*

Một lần, đơn vị của Di giành thắng lợi trong một trận giao tranh với lính Việt Nam Cộng Hòa và bắt được khá nhiều tù binh. Trung đội của Di còn lại khoảng 20 người. Khi hành quân tiếp để đến nơi tập kết của tiểu đoàn, trung đội phải giải đi cũng cỡ hơn 20 tù binh. Để đề phòng đám tù binh bất ngờ chống lại hoặc bỏ chạy, Di và đồng đội lấy dây thép buộc giằng tay họ với nhau. Vì mệt mỏi, chán nản và vướng nhau nhùng nhằng, lại có cả những người bị thương, cánh tù binh đã làm cho việc di chuyển diễn ra rất chậm chạp. Việc đó gây nguy hiểm cho trung đội của Di, vì ở những khoảng cây cối thưa thớt, máy bay đối phương rất dễ phát hiện ra họ. 

“Đm. Mấy ông máy móc bỏ mẹ. Nhân đạo rởm.” Một đồng đội của Di nói.

“Đúng. Chính sách tù binh quái gì. Bắn bỏ hết cho rảnh. Bọn nó mà thắng thì có tha cho mình không?” Một người khác nói.

“Đi thế này, máy bay nó phát hiện thì bỏ mẹ cả lũ.” Người thứ ba nói.

Mấy người trong đám tù binh quay lại nhìn với vẻ sợ sệt.

Bấy giờ, trung đội trưởng bấm vài người đi tách ra một đoạn và nói nhỏ với nhau điều gì đó. Cánh tù binh càng tỏ vẻ sợ hãi. Tuy vậy, cũng có kẻ hình như tỏ ra bất cần.

Đi một hồi nữa thì đoàn người gặp một dòng suối trong một khoảnh rừng. Anh em trong trung đội thay nhau xuống suối để thỏa mãn cơn khát. Sau đó thì đến lượt cánh tù binh. Gần như tất cả cánh này đều gục mặt xuống nước để uống lấy uống để. Chỉ một vài người cố ngẩng mặt lên nhìn như kiểu trông chừng. Bấy giờ, trung đội trưởng hất hàm ra hiệu, và khoảng một chục người, trong đó có Di, giơ AK lên, nhằm đám người dưới suối mà vãi đạn. Chỉ một phút sau, toàn bộ đám tù binh đã ngã gục xuống nước. Vài thân người vẫn còn cựa quậy hoặc giãy giụa. Nước sủi bọt đỏ lòm. Màu đỏ trôi dọc theo dòng nước xuống phía hạ lưu thành một vệt lớn cứ thế dài ra mãi.

Không thèm nhìn kỹ, trung đội của Di lại hành quân tiếp.

Một lần khác, đơn vị của Di đánh vào một làng có lính VNCH trụ lại đó trên đường rút lui. Cuộc chiến tiếp diễn rất khốc liệt. Việc tấn công trở nên khó khăn vì đối phương trà trộn lẫn với dân, nấp trong nhà dân bắn ra. Sau hơn hai ngày thì tiếng súng cũng gần như im hẳn, và đơn vị lính VNCH coi như bị xóa sổ. Tuy nhiên, thỉnh thoảng lại vẫn có người trong đơn vị của Di bị chết vì bắn tỉa. Có những kẻ bắn tỉa bị phát hiện và lập tức biến thành một đống thịt bầy nhầy máu vì phải hứng hàng chục viên đạn AK và những cú đập bằng báng súng và bằng những vật cứng khác. Có những kẻ bắn tỉa mặc quần áo dân thường.

“Đm, bọn dân ở đây gớm mặt. Chứa chấp lính ngụy. Mà có khi chính chúng nó chống trả cánh ta…” Một đồng đội của Di nói. Vài người khác tỏ ra đồng ý.

Theo sự phân công của cấp trên, đơn vị của Di được chia thành từng nhóm nhỏ đi lục soát trong làng để phát hiện bằng hết những kẻ chống trả còn lẩn khuất trong làng. “Giết nhầm còn hơn bỏ sót” – lệnh trên được truyền xuống đến từng người.

Chập tối, nhóm của Di đi ngang qua một ngôi nhà tranh quay mặt ra đường. Tâm trạng của ba người trong nhóm đều hết sức bực bội. Họ tìm chưa ra được kẻ bắn tỉa nào, trong khi thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng súng ở đâu đó, lúc gần lúc xa. Rồi bỗng một bóng đen mờ mờ vụt qua từ một ngôi nhà sang một ngôi nhà khác. Nhóm của Di đi lại gần ngôi nhà thứ hai. Trong nhà có một thiếu phụ trẻ và hai đứa nhỏ, một đứa tuổi chừng 6-7, đứa kia tầm 3-4 gì đó, đang sửa soạn ăn tối. Di và đồng đội dừng bước.

“Này, chồng mày đâu?” Đà, nhóm trưởng của Di, hất hàm hỏi người mẹ trẻ.

“Dạ thưa, ảnh đi…” Thiếu phụ trả lời.

“Đi tìm chỗ nấp để bắn tỉa tụi tau hả?”

“Dạ đâu có…”

Đà quay lại bảo Di:

“Làm đi.”

Thấy Di lúng túng, Đà chỉ vào khẩu B-40 mà Di đang đeo:

“Dùng cái này. Cho cả cái nhà này ra tro.”

Di tì khẩu B-40 lên vai, hướng nòng súng vào ngôi nhà. Thiếu phụ chợt hoảng sợ, trong khi hai đứa trẻ vẫn chưa cảm thấy có chuyện.

“Chơi đi. Nhanh.” Đà sốt ruột.

Lập tức, một vầng lửa nóng hàng ngàn độ phụt ra từ khẩu B-40, trùm lên ba mạng người quanh mâm cơm, rồi cả ngôi nhà tranh bùng cháy ngùn ngụt.

Nhóm của Di quay đi và bước tiếp.

Khi Di kể lại những câu chuyện đó, tôi không thấy cậu ta tỏ thái độ gì. Chỉ thấy ánh mắt cậu ta long lanh, nhưng với vẻ không phải phấn khích mà là bất an.

Còn tôi, tôi thấy ghê sợ.

*

Năm 1983. Một lần Di nhận được điện phải về quê hay có việc gấp. Quê cậu ta ở vùng núi thuộc một tỉnh phía Bắc. Mươi ngày sau, khi tôi đi làm về thì thấy Di đã đến. Cậu ta ngồi trên chiếc ghế ở hè trước gian nhà tập thể, đầu và vai tựa vào cây cột xây. Thấy tôi đi lại gần, Di không thay đổi tư thế, chỉ ngước nhìn và nói “Anh” với vẻ phờ phạc. Hai mắt Di trũng sâu, da mặt xạm lại, mái tóc rối bời bù xù. Tôi hỏi ở quê có chuyện gì, Di khẽ lắc đầu rồi cúi nhìn xuống hè. Lúc sau, cậu ta ngẩng lên nói:

“Cả nhà em chết hết rồi anh ạ.”

Tôi sửng sốt:

“Sao? Cậu nói gì?”

Người Di rung lên một hồi. Lát sau, gắng trấn tĩnh, Di mới kể lại được câu chuyện về thảm họa xảy ra với gia đình mình. Một cơn mưa lớn bất ngờ, gây lũ quét và lở đất trong đêm, cuốn đi hàng chục người, trong đó có cha mẹ và hai em gái Di. Người làng (hay bản gì đó) chỉ tìm hộ được xác mẹ Di và một em gái. Di về để lo chôn cất họ.

Vậy là trong những người ruột thịt, Di chỉ còn mỗi vợ con. Từ đó, cậu ta không bao giờ về quê cha ngoài Bắc nữa.

Đầu năm 1989, nhận lời mời của bà chị vợ lấy chồng ở một thành phố trong Nam, Di cùng vợ con vào trong đó ăn tết. Sau gần 6 năm kể từ tai họa xảy ra với cha mẹ và hai em gái, Di đã bình tâm trở lại. Nhìn 3 đứa con chuẩn bị cho chuyến đi với vẻ phấn khích, Di tỏ ra vui thật sự.

Mồng 1 Tết, tôi nhận được cú điện thoại Di gọi ra chúc mừng năm mới. “Trong này hay lắm anh ạ. Mọi người ăn Tết vui. Thành phố đẹp, và đang xây dựng nhiều công trình mới nữa. Vào đây em khỏe hẳn ra.” “Chúc mừng và chia vui nhé!” Tôi nói.

Mấy hôm sau, tôi bàng hoàng khi thấy Di về một mình với vẻ rũ rượi. Cái nhìn đầy vẻ đau đớn và ngơ ngác của Di cho thấy tai họa lần này đối với Di còn đáng sợ hơn lần trước. Nhìn thấy tôi và mấy người sống cùng dãy, Di không thèm hé miệng chào. Vào đến hè nhà, Di ngồi phịch xuống. Tôi sợ không dám hỏi chuyện.

“Có chuyện gì thế?” Một người hàng xóm khác hỏi.

Di không trả lời.

“Chị với các cháu đâu?” Một người khác hỏi.

Bấy giờ, Di bỗng gục hẳn xuống hè, hai tay ôm mặt khóc rống lên.

“Ố em ôi, ố các con ơi! Sao tôi khổ thế này! Có ai khổ như tôi không?”

Tôi hoảng hốt quỳ xuống ôm lấy vai cậu ta.

“Sao? Chuyện thế nào?” Vài người chung quanh cũng sợ hãi hỏi.

Một lúc sau, Di mới bắt đầu trả lời từng câu hỏi của mọi người. Có những lúc, cậu ta im lặng một lúc lâu mới cất tiếng trở lại được.

Theo những lời kể đứt đoạn của Di thì vợ con Di chết vì sự cố nổ khí gas trong bếp nhà bà chị vợ. Nguyên nhân cụ thể thì không ai biết. Lúc đó trong bếp có đúng 4 mẹ con Linh.

“Anh ơi, trời quả báo em rồi.” Di nói và lại khóc rống lên. “Em giết người ta dưới suối thì cha mẹ chị em em cũng chết dưới suối. Em giết vợ con người ta bằng súng phun lửa thì vợ con em cũng chết cháy vì lửa. Trời phạt em rồi anh ơi! Bây giờ thì em còn sống làm gì nữa. Thà chết quách đi còn hơn…”

Mấy người hàng xóm cố tìm cách khuyên giải Di, nhưng tất nhiên chẳng có ý nghĩa gì. Còn tôi, tôi chẳng biết nói gì, làm gì, ngoài việc cứ ngồi đó ôm vai cậu ta.

Tối hôm đó, khi đi ngang qua một dãy nhà, có mấy người đang bàn về chuyện của Di. Một người nói:

“Liệu những chuyện đấy có tình cờ không nha, hay là quả báo thật?”

“Tình cờ thôi. Quả báo cái gì. Chẳng lẽ những ông khác đồng đội của ông Di cũng bị quả báo vậy cả à?” Một người khác nói.

“Chưa biết đâu. Luật trời nó vậy. Không phải ai cũng được phép nhận ra là bị quả báo.” Người thứ ba nói.

Tôi nghe vậy, và trong thâm tâm cũng lấy làm lạ.

Những ngày sau đó, Di bước đi như một cái xác chết đang di chuyển. Nghỉ ít hôm, rồi cậu ta vẫn lên lớp dạy. Nhưng cậu ta phải cố gắng lắm mới truyền đạt được những bài học vô hồn. Đồng nghiệp và học trò ai cũng ái ngại cho cậu ta.

Vài tháng sau, trong bài dạy, nghe bảo cậu ta thỉnh thoảng nói đến luật trời, nói đến việc quả báo. Trong câu chuyện với tôi và một vài người khác, đôi khi Di nói đến nghiệp, đến luân hồi. Có người bảo Di có dấu hiệu tâm thần nhẹ.

*

Rồi năm tháng cũng làm được cái công việc của nó là làm lành dần những vết thương tâm hồn. Những vết sẹo vẫn còn đó, nhưng nỗi đau thì dịu bớt. 7 năm sau cái chết thê thảm của vợ con, Di đã chấp nhận tình cảm của Thanh, một cô gái hơi cứng tuổi, tầm 32-33, chưa chồng, không xinh nhưng được cái hiền lành, tình cảm. Di như được tái sinh. Trong ánh mắt vẫn còn thấy nỗi đau, nhưng hạnh phúc mới đã đem lại niềm vui cho cậu ta. Một lễ cưới đơn giản được cử hành, rồi Di chuyển về ở chỗ vợ mới.

Trước đó vài năm, tôi cũng mua nhà riêng bên ngoài, không ở tập thể nữa. Trước khi lấy Thanh, Di thường đến nhà tôi vài tuần một lần. Thỉnh thoảng, tôi cũng ghé qua khu tập thể cũ thăm cậu ta ít phút. Khi gặp nhau thường là ít chuyện. Nhiều khi hai chúng tôi im lặng ngồi bên nhau. Tôi hiểu Di cần có ai đó để chia sẻ, dù chỉ bằng sự im lặng.

Sau khi Di cưới vợ thì chúng tôi ít gặp nhau hơn. Ba năm sau thì Di đã có hai con gái, và cậu ta đã trở lại gần như bình thường hẳn. Tôi thực sự mừng cho Di.

“May mà trời vẫn còn thương em, không phạt em đến cùng.” Di nói vậy với tôi trong một lần gặp.

NGUYỄN TRẦN SÂM

Advertisements

2 comments on “NGUYỄN TRẦN SÂM – Những đứa em tôi , kỳ 14

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s