Năm cha con tài hoa họ Nguyễn

Từ đường họ Nguyễn ở thôn Đại Hòa - Ảnh: Hoàng Trọng

Từ đường họ Nguyễn ở thôn Đại Hòa – Ảnh: Hoàng Trọng

Trong số ít các sử liệu về nhà Tây Sơn còn đến nay có các tác phẩm thơ văn bằng chữ Hán, chữ Nôm của cha con tú tài Nguyễn Văn Khuê.

Ngày nay, con cháu cụ Tú Khuê sống ở thôn Vân Sơn, thôn Đại Hòa, xã Nhơn Hậu, TX.An Nhơn, Bình Định và thôn Bính Đức, xã Nhơn Mỹ, TX.An Nhơn. Từ đường của gia tộc ở thôn Đại Hòa nhưng gia phả và các tư liệu về dòng tộc lại do ông Nguyễn Đình Cao (48 tuổi, thôn Vân Sơn), cháu 5 đời của cụ Khuê cất giữ.

Văn hay để quan trường chấm uổng

Theo ông Cao, cụ Tú Khuê (1825 – 1896) có 4 người con trai là Nguyễn Bá Huân (1853 – 1915), NGUYỄN TRỌNG TRÌ (*) (1854 – 1922), Nguyễn Thúc Mân (1858 – 1896) và Nguyễn Quý Luân (1859 – 1911). Cả nhà không học thầy nào, chỉ cha dạy con, anh dạy em mà thành tài. Lúc cụ Khuê còn nhỏ, gia đình nghèo nên cụ ban ngày làm lụng giúp cha mẹ, ban đêm mượn sách vở của bạn bè về tự học. Năm 20 tuổi, cụ thi đỗ tú tài nhưng liên tiếp 5 khóa sau, mất cả thảy 18 năm, vẫn không đậu được cử nhân.

Ông Cao kể: Ông Nguyễn Bá Huân, tên trong gia phả là Nguyễn Văn Chĩnh, thông minh từ nhỏ, học đâu nhớ đấy. Năm 14 tuổi, ông Huân thi tú tài không đỗ, thi tiếp hai khóa sau cũng rớt. Ông nản việc thi cử nhưng mọi người khuyên can nên tiếp tục thi khoa năm 1876. Lần này, ông không mang lều chõng, giấy bút mà đem bầu rượu vào trường thi rồi lãnh giấy bút làm bài. Bài làm xong, ông rót rượu uống, đọc lại bài rồi vỗ đùi nói: “Văn hay thế này để quan trường chấm uổng”. Ông tự mình chấm, đọc một câu tự thưởng một chén rượu. Cứ thế cho đến khi say lăn ra ngủ… và tiếp tục thi hỏng khoa này. Từ đó, ông bỏ hẳn việc thi cử, tính tình trở nên ngang bướng, ngông cuồng. Tuy nhiên, ông chỉ ngạo nghễ với kẻ cậy tài cậy thế, hách dịch, chứ với người tài đức, lương dân thì vô cùng kính cẩn nên nhiều người yêu mến.

Ông Nguyễn Trọng Trì đậu cử nhân tại trường thi Bình Ðịnh năm 22 tuổi nhưng không tiếp tục thi hội. Hai năm sau, triều đình Huế bổ nhiệm ông làm quan. Vua Kiến Phúc băng hà, ông thấy triều chính đổ nát, bất lực trước giặc Pháp nên bỏ về quê mở trường dạy học. Ông Nguyễn Thúc Mân 10 tuổi biết làm thơ, 12 tuổi rành thi pháp. Ông Nguyễn Quý Luân 12 tuổi đã có thơ hay. Cả năm cha con đều làm thơ nên thường xuyên ra vần, đối ẩm với nhau. Khách ở xa nghe tiếng đến thăm, thử tài đều nể phục.

Cởi áo cho bạn giữa chợ

Các ông Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Quý Luân tham gia phong trào Cần Vương tại Bình Định (năm 1885), được giao những chức vụ quan trọng. Còn cụ Tú Khuê do tuổi già sức yếu nên phải ở nhà. Người con thứ 3 là Nguyễn Thúc Mân cũng ở nhà dạy học, chăm sóc cha già. Khi phong trào Cần Vương thất bại, ba anh em ông Huân phải lánh nạn gần 10 năm mới về lại Vân Sơn. Tuy nhiên, vài tháng sau thì ông Mân lâm bệnh chết, cụ Tú Khuê cũng đau buồn mà qua đời.

Gần 20 năm ròng, ông Huân đóng cửa ở nhà uống rượu, đọc sách, chữa bệnh và ít giao du với người ngoài. Một đêm, ông Huân ngồi uống rượu, hát vở tuồng Diễn Võ Đình một mình. Hát rồi mang bầu rượu, một bó nhang, cặp đèn sáp và đội chiếc ghế dài ra ngoài gò cạnh nhà tế Trần Quang Diệu, đô đốc của nhà Tây Sơn. Tế xong, ông ngồi uống rượu rồi lên ghế nằm ngủ. Nửa đêm, ông bật dậy hét một tiếng và gục xuống, qua đời.

Ông Nguyễn Trọng Trì đem vợ con về quê mẹ ở Bính Đức, mở trường dạy học. Năm 1897, cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên do Võ Trứ, Trần Cao Vân lãnh đạo thu hút nhiều nghĩa sĩ tham gia. Đề phòng Nguyễn Trọng Trì tham gia khởi nghĩa, chính quyền bắt giam ông ở thành Bình Định gần một năm. Ra tù, ông đi nhiều nơi vùng An Nhơn, Tây Sơn thăm học trò, con cái…

Ông Cao kể tiếp: Có một năm, học trò góp tiền mua cho cụ Trì chiếc áo để mặc tết. Cụ lên An Thái, gặp vợ góa một đồng chí hy sinh trong phong trào Cần Vương liền hỏi về gia cảnh. Người đàn bà nước mắt chảy dài, trả lời: “Gần tết mà chưa có chút gì để cúng ông bà và cho con ăn trong ba bữa”. Cụ Trì nghe nói ứa nước mắt, cởi ngay chiếc áo vo gọn bỏ vào giỏ của bà rồi nói: “Chị bán đi mà sắm tết”. Nói xong, cụ Trì mình trần lẩn vào đám đông người giữa chợ đi mất.

Ông Diệp Trường Phát, tức ông Tàu Sáu (võ sư sáng lập ra phái võ Bình Thái Đạo) nhà ở gần đó vốn nể trọng cụ Trì nhìn thấy liền đón về nhà, lấy chiếc áo mới may của mình mời cụ mặc tạm. Mặc chiếc áo rộng thình, cụ Trì nói đùa: “Thật Tàu không ra Tàu, ta không ra ta”. Mọi người bật cười. Ông Tàu Sáu giữ cụ Trì ở lại rồi hối vợ mua vải may áo vừa vặn cho cụ. Cụ Trì mất năm 68 tuổi, mộ táng tại thôn Tân Ðức, xã Nhơn Mỹ, TX.An Nhơn.

Làm thơ ca ngợi nhà Tây Sơn

“Năm cha con cụ Tú Khuê có nhiều tác phẩm thơ văn bằng chữ Hán, chữ Nôm được lưu truyền đến ngày nay. Cụ tú Nguyễn Văn Khuê viết tập thơ Vân Sơn nhàn vịnh, tập văn Tây Sơn nhân vật ký. Nguyễn Bá Huân có Cân quắc anh hùng truyện viết về bà Bùi Thị Xuân và các nữ tướng Tây Sơn, Tây Sơn tiềm long lục viết về giai đoạn đầu khởi nghĩa Tây Sơn, Tây Sơn văn thần liệt truyện, Bình Định hào kiệt truyện. Nguyễn Trọng Trì có Tây Sơn danh tướng chinh nam, Tây Sơn lương tướng ngoại truyện… Cha con trong một gia đình nho học sống dưới triều Nguyễn mà viết thơ, văn ca ngợi nhà Tây Sơn là rất hiếm và nếu lộ ra có thể nguy hiểm đến tính mạng, dòng họ”.

Nhà nghiên cứu Lộc Xuyên ĐẶNG QUÝ ĐỊCH

Nguồn: Thanh Niên, ngày 08/01/2015 04:24

NGUYỄN TRỌNG TRÌ

(Ông cố, thân sinh của bà nội Đào Hiếu)

Đường Nguyễn Trọng Trì ở TP Quy Nhơn hiện nay

Nguyễn Trọng Trì (18541922), hiệu Tả Am, là nhà thơ và cũng là nhà yêu nước kháng Pháp tiêu biểu trongphong trào Cần VươngBình Định.

Nguyễn Trọng Trì, quê ở làng Vân Sơn, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Tại trường thi Bình Ðịnh khoa Bính Tý, Tự Ðức thứ 29 (1876), ông trúng cử nhân thứ 8. Nhưng trước cảnh nước nhà loạn lạc, nền nho học suy vi, ông không còn muốn lập thân bằng khoa cử nữa, cho nên kỳ thi Hội tiếp theo không có mặt ông.

Năm Mậu Dần (1878), triều đình Huế chọn những cử nhân đỗ cao bổ làm quan, trong đó có Nguyễn Trọng Trì. Thấy ông dùng dằng, bạn bè xúm lại khuyên, bất đắc dĩ ông phải đi nhậm chức.

Năm Quý Mùi (1883), vua Tự Đức thăng hà, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền phế lập. Triều đình Huế ký hoà ước nhận quyền bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ. Làm quan giữa lúc vận nước ngửa nghiêng, hận vì tài sức mình không góp được gì cho cuộc cải biến, ông luôn nghĩ đến chuyện bỏ quan về làng. Ít lâu sau ông trốn về thật.

Cuối tháng 5 năm 1885, Pháp lấn chiếm nước Việt. Kinh thành Huế bị thất thủ, vua Hàm Nghi theo Tôn Thất Thuyết chạy ra phía Quảng Trị xuống chiếu Cần Vương. Đào Doãn Địch vốn người Bình Định đang làm quan tại Kinh, mang chiếu về quê tụ nghĩa. Sau trận Cần Úc, chủ tướng họ Đào lâm bệnh rồi chết, trao binh quyền cho Mai Xuân Thưởng. Cả ba anh em Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Trọng Trì, Nguyễn Quý Luân cùng lúc lên đường đến Bình Khê ứng nghĩa.

Ông, các anh em ông và Nguyễn Duy Cung được Mai chủ tướng đặc biệt kính trọng, thường giữ ở bên, để cùng nhau bàn định kế sách và dự các trận đánh lớn ở Cẩm Văn, Thủ Thiện, Phú Phong… Ðến khi lực lượng Cần vương của Mai Xuân Thưởng bị liên quân Pháp – Trần Bá Lộc đánh tan rã, chủ tướng họ Mai bị bắt rồi bị chém vào tháng 6 năm 1887, Nguyễn Trọng Trì và Nguyễn Phong Mậu ở vào số những người chạy thoát, đến ẩn náu ở núi Thuận Ninh. Sau, Nguyễn Phong Mậu không chịu nổi gian khổ đã ra hàng, khiến Nguyễn Trọng Trì phải bỏ nơi ẩn cũ, tiếp tục đi trốn.

Tám năm sau (1895), khi lãnh tụ Phan Đình Phùng qua đời, triều Thành Thái cho bãi lệnh truy tầm dư đảng Cần Vương, đến lúc ấy, Nguyễn Trọng Trì mới dám trở về. Khi còn nương náu ở núi rừng, Nguyễn Trọng Trì vẫn ngầm nuôi chí phục thù báo quốc. Lúc về nhà, ông mới hiểu rằng giấc mộng hưng quốc khó mà thực hiện được. Rất nhiều dư đảng Cần Vương đã quy thuận chính quyền để mưu cầu hai chữ bình an, có kẻ trở mặt hại đồng đội như Vũ Phong Mậu. Với những người có khí tiết như ông, tuy nhà cầm quyền không hạch họe gì, nhưng họ vẫn ngấm ngầm theo dõi ông.

Nguyễn Trọng Trì sum họp với gia đình chưa bao lâu thì em là Nguyễn Thúc Mân mất, cha mất. Nhà cửa sa sút, ông để cho anh cả là Nguyễn Bá Huân trông coi từ đường, còn mình thì dẫn vợ con về quê mẹ ở Bình Đức mở trường dạy học.

Chân dung ông NGUYỄN TRỌNG TRÌ, biệt danh "Ông Nghè Vân Sơn" (1854-1922)

Chân dung cụ Nguyễn Trọng Trì (tức ông nghè Vân Sơn)

Năm Đinh Dậu (1897), cuộc tụ nghĩa ở Phú Yên do Trần Cao VânVõ Trứ lãnh đạo ảnh hưởng lan tới Bình Định. Nguyễn Trọng Trì phấn chấn vui mừng. Nhiều học trò của ông theo lời khuyên của thầy đã trốn vào Phú Yên ứng nghĩa. Nhà cầm quyền đánh hơi được, liền bắt ông giam ở thành Bình Định để phòng ngừa.

Gần một năm, ông mới được thả. Sau khi ra tù, ông càng uống rượu nhiều, rất ít khi ở nhà. Người ta thường gặp ông ở các đám hát bội. Có lẽ sau men rượu, những đêm hát là nơi ông có thể tìm được nguồn an ủi, khi xem các vở tuồng phò chính diệt tà.

Theo nhà nghiên cứu Đặng Quí Địch cho biết, khi chủ tướng họ Mai phải ra nộp mình cho Pháp thì ông cũng bị Pháp bắt, nhưng chỉ bị tước mất học vị cử nhân rồi đuổi về làng giao cho địa phương quản lý.

Ông mất ngày mười sáu tháng Giêng nămNhâm Tuất (1922) thọ 68 tuổi, mộ táng tại thôn Tân Ðức, nay thuộc xã Nhơn Mỹ, huyện An Nhơn. Vì ông bị tước mất học vị cử nhân, nên trên mộ chí chỉ thấy ghi hai chữ tú tài.

Văn nghiệp

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Trọng Trì, do thời gian và hoàn cảnh chiến tranh đã không thể tìm lại đủ, nên nay chỉ còn:

Tác phẩm chữ Hán: Tả Am thi tập, Tây Sơn danh tướng chinh Nam, Tây Sơn lương tướng ngoại truyện và hai tập ký do ông và Nguyễn Bá Huân chép lại các giai thoại phường hát bội.

Cũng như anh ông là Nguyễn Bá Huân, ngay trong thời buổi triều đình Huế còn thâm thùnhà Tây Sơn đến cùng cực, vậy mà ngòi bút của cả hai người dám viết và truyền bá đề tài này nhằm cổ vũ, nuôi dưỡng ý chí quật cường của nhân dân, thì rõ ràng là hành động quá dũng cảm.

Và cũng nhờ thế mà ta biết được ít nhiều chi tiết về cuộc đời, về sự nghiệp của 15 danh tướng nhà Tây Sơn.

Nguồn: Wikipedia

Advertisements

One comment on “Năm cha con tài hoa họ Nguyễn

  1. ”Năm Cha Con tài hoa”Cuối cùng đều chết cả!Chết trẻ không đợi già!?Đúng cái số tài hoa?!Năm Cha Con thanh nhã.Giỏi thi phú văn hoa ”Giỏi cao ngạo sinh ra…Làm Quan chi mệt quá!?”Năm Cha Con tất cả!Cùng giống ”gen”đó là..”Thất chí”buồn quá xá…Danh lợi chi Thiên hạ!?”Tú Khuê-Tình yêu Cha…Phú hết bốn Qúi tử..Bá Huân mất..buồn quá!Trọng Trì nghĩ..xót xa!”Cái nỗi khổ cảnh nhà!”Thúc Mân buồn mục rá Rượu tiêu sầu cho đã! ”Quên đời lắm vất vả…Giáo chức chạy bôn ba!”Qúy Luân tính thật thà!Một luân lý lo xa…”Gà chết khi bút sa!” Nên không viết gì cả…Cứ rượu vào lời ra…Say mèm -Say tài hoa! Ôi tài hoa-tai họa!Năm Cha Con đi xa….

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s