Liệu xung đột Israel-Palestine có thể chấm dứt?

IsraelTrong các lò lửa chiến tranh trên thế giới, lò lửa Trung Đông tồn tại lâu hơn cả, đã hàng ngàn năm nay. Từ khi nhà nước Israel của người Do Thái được lập lại vào năm 1948 đến nay, lò lửa này thường xuyên bùng lên dữ dội. Bao nhiêu sinh mạng đã bị đem ra trả giá cho những quan điểm cực đoan về sắc tộc và tôn giáo. Bao nhiêu cuộc ngoại giao “con thoi” của các chính khách trên thế giới đã được thực hiện, nhằm vãn hồi hòa bình ở khu vực này, nhưng tất cả đều vô hiệu.

Vậy liệu có thể có hy vọng nào cho việc chấm dứt đổ máu ở đây? Có vẻ như không thể trả lời được câu hỏi này. Nhưng để có thêm một sự hình dung về mức độ nan giải của xung đột Israel-Palestine và Trung Đông nói chung, chúng tôi xin tổng hợp dưới đây một số thông tin về lịch sử Israel và cuộc xung đột này để quý vị tham khảo và đưa ra nhận định riêng của mình.

*

Israel là quốc gia Tây Á, nằm trên phần bờ đông-đông-nam của Địa Trung Hải, giáp  Liban ở phía bắc, Syria ở đông bắc, Jordan ở phía đông, Palestine ở phía đông (khu Bờ Tây) và tây-nam (dải Gaza), Ai Cập, vịnh Aqaba và biển Đỏ ở phía nam. (Chú ý rằng cái gọi là Palestine đã có lúc bao gồm cả Israel.) Trung tâm chính trị và tài chính của Israel là Tel Aviv. Tuy nhiên, người Israel vẫn coi Jerusalem là thủ đô của nước mình, mặc dù thành phố này không nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát của chính phủ Israel và cũng không được quốc tế thừa nhận thuộc chủ quyền của nước này.

Theo văn bản cổ Torah của đạo Do Thái (Judaism), Thượng Đế đã hứa trao vùng đất gọi là Đất Thánh (bao gồm cả Irael và Palestine ngày nay) cho ba vị giáo trưởng của người Do Thái vào thời kỳ trước Công Nguyên gần 2 ngàn năm, và vương quốc Israel đầu tiên được thành lập vào thế kỷ XI trước CN. Nhà nước này sau đó bị chia cắt thành vài ba vương quốc, rồi bị xâm nhập bởi văn hóa Hồi Giáo và Assyria, sau đó là văn hóa Hy Lạp.

Năm 63 trước CN, đế quốc La Mã tiến đánh vùng này, và miền đất của người Do Thái trở thành nước chư hầu, rồi thành một tỉnh của La Mã. Như vậy, nhà nước Israel bị xóa sổ và người Do Thái sống tản mát khắp nơi. Sau đó là một thời kỳ biến động liên tục. Đến năm 614 (CN), một cộng đồng Do Thái được thành lập, nhưng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, trước khi đế chế Bizantine thiết lập trở lại sự cai trị của nó. 

Năm 635, một vùng bao gồm Jerusalem bị người A Rập chiếm giữ, và văn hóa Hồi Giáo thống trị ở đây trong gần 1300 năm tiếp theo, dưới nhiều chính thể “caliphate” khác nhau (caliphate là dạng nhà nước do giới tu sỹ Hồi Giáo cai quản, giống như Nhà Nước Hồi Giáo IS hiện nay ở Iraq và Syria).

Cuối thế kỷ XI, một loạt cộng đồng Do Thái nhỏ hình thành. Năm 1099, những người Do Thái còn lại ở Jerusalem đã cố chống lại các đạo quân Crusades để giữ thành phố này. Khi thành phố thất thủ, 6 ngàn người Do Thái đã bị đốt cháy trong giáo đường, nơi họ đến lánh nạn.

Năm 1516, toàn bộ vùng Tây Á bị đế chế Ottoman chiếm và giữ mãi đến khi kết thúc thế chiến I. Năm 1920, nó bị chia thành nhiều vùng ủy trị (mandate), trong đó, vùng bao gồm lãnh thổ Israel ngày nay có tên gọi là Palestine Ủy Trị (Mandatory Palestine).  

Đối với những người Do Thái lưu vong, niềm tin và hy vọng của họ về việc tái lập nhà nước Do Thái trên miền đất cố quốc không bao giờ tắt, nhờ những điều được xem là “mật khải” trong Kinh Thánh Hebrew. Trong thế kỷ XVI, một số nhóm người Do Thái đã trở về lập ra các cộng đồng nhỏ tại JerusalemTiberiasHebron và Safed. Năm 1697, Rabbi Yehuda Hachasid dẫn đầu một đoàn gồm 1500 người đi tới Jerusalem.

Trong thế kỷ XIX, rải rác có một số nhóm người Do Thái kéo về miền đất Palestine (hiện đang bị cai quản bởi các luật lệ Ottoman) với mong muốn tái lập nhà nước Do Thái. Để hỗ trợ họ trong sự nghiệp đó, nhà báo người Áo-Hung Theodor Herzl đã công bố rất nhiều tài liệu nhằm chứng minh rằng người Do Thái có quyền làm việc này. Ông cũng đích thân tổ chức một phong trào gọi là Zionism (theo tên gọi Zion của một trong các nhà nước Do Thái cổ đại) để tiến tới thành lập nhà nước Do Thái trên miền đất Israel. Năm 1896, ông đứng ra tổ chức và chủ trì Hội Nghị Zionist Quốc Tế lần thứ nhất.

Tại Anh, năm 1917, quốc vụ khanh đối ngoại Arthur Balfour đã ban hành Tuyên Ngôn Balfour 1917, trong đó khẳng định chính phủ Anh có dự định lập ra nhà nước Israel tại Palestine Ủy Trị. Tuyên ngôn này được gửi cho nam tước Rothschild, người đứng đầu cộng đồng Do Thái ở Anh.

Năm 1918, một đoàn lính tình nguyện người Do Thái đã theo chân quân Anh về đánh chiếm vùng Palestine vốn đang nằm dưới sự kiểm soát của các sắc dân A Rập. Năm 1920 hình thành phong trào Haganah (theo tiếng Hebrew có nghĩa là “phòng vệ”) của người Do Thái. Năm 1922, một tổ chức liên chính phủ (Société des Nations) hình thành sau thế chiến I đã trao cho Vương Quốc Anh sứ mạng giống như nói trong Tuyên Ngôn Balfour 1917.

Sau bốn đợt hồi hương (gọi là bốn Aliyah), đến năm 1929 trên đất Palestine đã có khoảng 100 ngàn người Do Thái. Đến đầu thập niên 1930, khi Đức Quốc Xã tiến hành chiến sách diệt chủng đối với người Do Thái thì diễn ra Aliyah thứ 5 với khoảng 250 ngàn người hồi hương. Điều này đã dẫn đến cuộc nổi loạn của dân A Rập vào những năm 1936 – 1939, buộc chính quyền Anh phải ra sách trắng hạn chế dòng người hồi hương Do Thái vào năm 1939. Tuy nhiên, khi rất nhiều nước không chịu mở cửa đón dòng người Do Thái di tản để tránh thảm sát ở Đức thì người Do Thái lại buộc phải trở về Palestine. Đến cuối thế chiến II thì số dân Do Thái ở Palestine đã chiếm 1/3 tổng dân số ở đó.

Sau thế chiến II, chính các cộng đồng Do Thái có những hoạt động chống lại chính quyền Anh ở Palestine. Cùng lúc, dòng người sống sót sau thảm sát ở Đức và châu Âu phải rời bỏ những nơi đó. Tuy vậy, họ không về được Palestine mà phải đi vòng vèo nhiều nơi rồi xin tị nạn ở Atlit và Cyprus.

Năm 1947, chính phủ Anh quyết định rút khỏi Palestine, nhường quyền cho người Do Thái và người A Rập ở Palestine tự giải quyết mâu thuẫn. Ngày 15 tháng 5 năm đó, Đại Hội Đồng LHQ thành lập một ủy ban đặc biệt để xem xét những vấn đề liên quan đến vùng Palestine. Trong báo cáo của ủy ban này ngày 3 tháng 9 có đưa ra kế hoạch thay thế sự ủy trị của Vương Quốc Anh bởi việc thành lập Nhà Nước A Rập, Nhà Nước Do Thái tại Palestine, trong khi Jerusalem không thuộc nhà nước nào, và lập ra một hệ thống theo dõi việc thực hiện phân chia lãnh thổ. Tiếp theo, Đại Hội Đồng thông qua nghị quyết 181 (II) về kế hoạch phân chia lãnh thổ và liên minh kinh tế. Cộng Đồng Do Thái đã ủng hộ nghị quyết này, nhưng Liên Đoàn A Rập và Ủy Ban Tối Cao A Rập của Palestine thì kịch liệt bác bỏ. Liền sau đó, Ủy Ban Tối Cao A Rập kêu gọi biểu tình phản đối 3 ngày; sau đó, các băng nhóm người A Rập bắt đầu tấn công các nhóm người Do Thái.

Người Do Thái ban đầu chỉ chiến đấu phòng thủ, nhưng sau đó họ chuyển sang tấn công. Chiến thắng dễ dàng của người Do Thái đã làm 250 ngàn người A Rập buộc phải di tản để lánh nạn.

Ngày 14 tháng 5 năm 1948, một ngày trước khi sự ủy trị của chính quyền Anh hết hiệu lực, David Ben-Gurion, người đứng đầu Văn Phòng Do Thái, chính thức tuyên cáo thành lập Nhà Nước Do Thái trên đất Eretz-Israel. Ngay ngày hôm sau, bốn nước A Rập gồm Ai Cập, Syria, Transjordan và Iraq mang quân đánh Israel, mở màn cuộc chiến A Rập – Israel. Saudi Arabia cũng gửi quân tham chiến dưới sự chỉ huy của phía Ai Cập. Yemen cũng tuyên chiến nhưng chưa hành động.

Sau một năm giao tranh, một thỏa thuận ngưng bắn đã được hai phía chấp nhận, và người ta vạch ra một đường ranh giới gọi là “Đường Xanh”. Jordan lấy thêm vùng Bờ Tây, trong đó có Đông Jerusalem, Ai Cập kiểm soát dải Gaza. Tại LHQ, người ta ước tính khoảng 700 ngàn người Palestine phải đi lánh nạn ở các nước láng giềng.

Từ 1948 đến 1970, có hơn 1 triệu người Do Thái đã về sinh sống ở Israel.

Ngày 11 tháng 5 năm 1949, Israel trở thành thành viên LHQ.

Cần nói rằng ngay trong lòng dân tộc Do Thái ở Israel cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa nhóm người về từ châu Âu với nhóm người đến từ các nước A Rập, đến mức nhiều khi đã xảy ra bạo loạn.

Trong thập niên 1950, Israel thường xuyên bị người Palestine tấn công, chủ yếu từ dải Gaza, nơi đang bị Ai Cập chiếm đóng, và Israel cũng mở những cuộc phản công. Năm 1950, Ai Cập đóng cửa kênh Suez, không cho tàu bè Israel qua lại. Xung đột nổ ra tại biên giới hai nước. Năm 1956, Israel tham gia hiệp ước bí mật với Anh và Pháp nhằm tìm cách kiểm soát kênh Suez mà Ai Cập đã quốc hữu hóa. Israel tiến đánh bán đảo Sinai, nhưng bị LHQ ép phải lui binh. Bù lại, Israel được phép cho tàu bè qua lại kênh Suez và biển Đỏ.  

Năm 1964, Israeli đàm phán với Jordan để phân chia nguồn nước sông Jordan. Khi đó, Syria và Liban liền bàn nhau chặn dòng sông ở phía thượng nguồn, dẫn đến sự gia tăng căng thẳng dọc biên giới của Israel với hai nước đó.

Về phía Ai Cập, chính quyền của tổng thống Gamal Abdel Nasser đã không công nhận Israel, thậm chí còn kêu gọi triệt hạ nhà nước này. Năm 1967, Ai Cập trục xuất các nhân viên bảo vệ hòa bình LHQ và tuyên bố phong tỏa lối ra biển Đỏ của Israel. Tháng 5 năm đó, một số nước A Rập điều binh chuẩn bị đánh Israel. Nhân cớ đó, ngày 5 tháng 6, Israel tiến đánh cùng lúc cả Ai Cập, Jordan, Syria và Iraq. Chỉ trong 6 ngày, đội quân ít người nhưng hiện đại và thiện chiến của Israel đã chiếm được Bờ Tây, dải Gaza, bán đảo Sinai và cao nguyên Golan. Địa giới Jerusalem được nới rộng.

Việc chiếm thêm được đất đai không hẳn là điều tốt đối với người Israel. Bấy giờ, những nhóm người Palestine và A Rập nói chung sống trong lãnh thổ nhà nước Do Thái liên tục tổ chức những cuộc tấn công vào người Do Thái. Mặt Trận Giải Phóng Palestine (PLO) nêu ra mục tiêu “giải phóng quê hương” khỏi sự chiếm đóng của người Israel. Những tranh cãi về phân chia nguồn nước sông Jordan cũng gay gắt thêm. Người Israel thì chiếm lấy các trạm bơm của người Palestine, trong khi phía bên kia thì cố tìm cách khơi ngòi để lái dòng nước.

Trong những năm 1960 và 1970, các nhóm bán vũ trang Palestine mở rộng phạm vi tấn công người Israel ra nhiều nước khác. Một trong những vụ được coi là “thành công” của người Palestine là vụ đánh bom trên máy bay, giết gọn đội vận động viên Israel đi dự đại hội thể thao Olympic 1972 tại Munich, gây chấn động dư luận thế giới. Để trả đũa, Israel cho người tìm diệt những kẻ tổ chức các cuộc ám hại, và cho máy bay ném bom vào trụ sở PLO ở Liban.

Ngày 6 tháng 10 năm 1973, khi người Do Thái đang hành lễ Yom Kippur, quân đội Ai Cập và Syria đã bất ngờ tấn công bán đảo Sinai và cao nguyên Golan. Sau 20 ngày giao chiến, quân Israel đã đẩy bật được đối phương ra khỏi hai nơi nói trên, nhưng cũng chịu tổn hao lực lượng đáng kể.

Năm 1977, chính phủ Ai Cập của tổng thống El Sadat công nhận nhà nước Israel. Năm 1978, El Sadat và thủ tướng Israel Begin ký Thỏa Thuận Trại David (ở Mỹ) và năm 1979 ký hòa ước Israel – Ai Cập. Theo thỏa thuận, Israel rút khỏi bán đảo Sinai và đồng ý đàm phán về quyền tự trị của người Palestine ở Bờ Tây và dải Gaza.  

Ngày 11 tháng 3 năm 1978, PLO tấn công Israel từ Liban, giết chết 33 và làm bị thương 71 dân thường Israel. Sau đó, Israel phản công và phá hủy các cơ sở của PLO ở Nam Liban. Mâu thuẫn giữa đôi bên càng sâu sắc thêm khi chính quyền Begin cho dân Do Thái đến định cư tại những vùng vừa chiếm được. Ngoài ra, năm 1980 quốc hội Israel thông qua một đạo luật tái khẳng định Jerusalem là thủ đô của Israel, đồng thời sát nhập cao nguyên Golan vào lãnh thổ nước này. Tất cả những động thái trên của Israel đều vấp phải sự phản đối từ đa số các thành viên LHQ.

Năm 1982, không quân Israel tấn công phá hủy các cơ sở ở Liban mà từ đó PLO bắn tên lửa sang Israel.

Năm 1985, PLO thực hiện một vụ tấn công khủng bố đối với người Israel tại Cyprus. Israel trả lời bằng việc ném bom trụ sở PLO tại Tunis.

Năm 1986, Israel rút khỏi phần lớn đất đai chiếm được của Liban, nhưng vẫn duy trì một vùng đệm gần biên giới đến năm 2000.

Trong cuộc chiến Vùng Vịnh 1991, PLO đứng về phía Saddam Hussein, trong khi tên lửa Iraq bắn sang Israel (có phần để trả đũa việc trước đó vài năm Israel cho máy bay ném bom phá hủy cơ sở hạt nhân của Iraq). Tuy nhiên, Mỹ đã ngăn được Israel không trả đũa.

Năm 1992, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng Israel. Năm sau, nhà nước Israel và PLO ký Thỏa Ước Oslo, theo đó chính quyền dân tộc Palestine được quyền kiểm soát một phần Bờ Tây và dải Gaza. PLO cũng thừa nhận nhà nước Israel và cam kết chấm dứt chính sách khủng bố. Tuy nhiên, những phe cánh đối lập trong nội bộ Israel chống lại thỏa ước này, và năm 1995, Yitzhak Rabin bị ám sát bởi một phần tử cực hữu.  

Cuối thập kỷ 1990, ban lãnh đạo của thủ tướng Benjamin Netanyahu quyết định rút quân khỏi Hebron và ký Giác Thư Sông Wye, trao cho chính quyền dân tộc Palestine những quyền giống như tự trị trong lòng nhà nước Israel. Năm 2000, thủ tướng mới của Israel là Ehud Barak cùng lãnh tụ PLO Yasser Arafat gặp nhau tại trại David, và Barak đưa ra kế hoạch về việc thành lập nhà nước Palestine, nhưng Arafat bác bỏ vì bản kế hoạch không thỏa mãn yêu cầu của PLO.

Từ năm 2000 đến nay, tình hình xung đột Israel-Palestine ít có đột phá lớn. Chính sách “đổi đất lấy hòa bình” của phía Israel cũng không làm tình hình thay đổi đáng kể.

Cũng phải nói thêm rằng bên phía Israel thì mâu thuẫn giữa hai đảng thay nhau cầm quyền là Likud (hữu) và Công Đảng (Labor Party, tả) cũng không cho phép họ đi tới được một quyết định nào mà không bị phía đối lập phản đối. Bên phía Palestine, mâu thuẫn giữa Fatah và Hamas còn gay gắt hơn, đến mức không những phải chia quyền mà phải chia cả đất.

Nhìn lại cuộc xung đột Israel-Palestine, hay đúng hơn là xung đột giữa Israel và thế giới A Rập, ta thấy nó có những điểm khác thường sau đây:

Một: Thực chất đây là một giai đoạn của lịch sử xung đột liên miên bắt nguồn ít nhất từ hơn 2 ngàn năm trước.

Hai: Cuộc xung đột này không những mang tính chất sắc tộc, mà con mang cả tính tôn giáo. Cả 3 tôn giáo lớn ở vùng này, đạo Do Thái (Judaism), đạo Ki Tô (Christianity) và đạo Hồi (Islam), đều tuyên bố đất Palestine là “đất thánh” của mỗi đạo. Đặc biệt, mỗi tôn giáo đều tuyên bố Jerusalem là bất khả phân, và phải là của mình, do đó mọi thỏa ước đều không thể chấp nhận được đối với một nhóm người. Ngoài ra, còn nhiều địa điểm và vùng đất khác được một, hai tôn giáo coi là đất thánh của mình (như xứ Nazareth, nơi sinh Đức Mẹ Maria, các thành phố Tiberias, Safed, Bethlehem, Hebron,…).

Những điểm khác thường này làm cho mâu thuẫn giữa hai phía ngày càng trầm trọng và cuộc xung đột có vẻ như KHÔNG BAO GIỜ giải quyết được. Hình như “thượng đế” đã quyết định rằng số phận của người Do Thái và A Rập ở đây phải là như vậy, chiến tranh là “nghiệp” của họ, và sẽ kéo dài không hồi kết.

Và như vậy, các hoạt động của giới ngoại giao quốc tế có lẽ chỉ giống như sự kiếm việc mà làm để tiêu tiền của các quốc gia và của LHQ mà thôi.

TRẦN DƯƠNG

 

 

Advertisements

11 comments on “Liệu xung đột Israel-Palestine có thể chấm dứt?

  1. Pingback: Tin thứ Năm, 04-09-2014 « BA SÀM

  2. Pingback: -Tin thứ Năm, 04-09-2014 « PHẠM TÂY SƠN

  3. Pingback: Anhbasam Điểm Tin thứ Năm, 04-09-2014 | doithoaionline

  4. Pingback: Tin Tổng Hợp, thứ Tư, 04-9-2014 | UB Vận Động CPC

  5. Pingback: Tin Tổng Hợp, thứ Tư, 04-9-2014 | DIỄN ĐÀN CỦA CHÚNG TA

  6. Tình hình Do Thái-Palestin khó chấm dứt vì mỗi bên có mục đích hoàn toàn
    đối nghịch không thể tương nhượng.
    Do Thái bị bao vây bởi các nước Hồi giáo với dân số gấp ngàn lần họ,nên
    họ phải tìm cách tồn tại.
    Palestin với sự giúp sức của khối Hồi giáo vốn cực đoan,nhất là Iran quyết
    tâm đòi tiêu diệt hoàn toàn quốc gia Do Thái.

  7. Mỹ và một số nước phương tây, không mong muốn vùng Trung Đông có hòa bình, vì quyền lợi của các trùm tư bản sản xuất dầu mỏ và vũ khí
    Xung đột Israel và Palestine, sẽ còn kéo dài. Người Palestine dân vô tội còn phải đổ máu

      • Bạn Nguyễn Trường Sơn CHỉ nhìn thấy người dân Palestine chịu đổ máu thôi sao? Còn người dân Israel thì tuyệt đối an toàn?

        Và, CHỈ vun hết trách nhiệm cho Mỹ và một số nước phương Tây (giá mà không có chữ “phương Tây” này) là một cách nhận xét thiếu khách quan.

  8. Là sao ? Nếu tôi nhớ không lầm, Tháng 9 đen là nhóm tổ chức vụ khủng bố này đã đột nhập và bắt cóc các thành viên Olympic của Israel ngay tại làng Olympic tại Munich, sau đó toàn bộ nhóm này bị cảnh sát Cộng Hòa LB Đức tiêu diệt. Các con tin không một ai sống sót. Việc từ chối không cho lực lượng đặc nhiệm Israel tham gia giải cứu của chánh phủ Đức lúc đó bị phía Israel cho là nguyên nhân chính để dẫn tới các vận động viên của họ bị giết hại.

    “Một trong những vụ được coi là “thành công” của người Palestine là vụ đánh bom trên máy bay, giết gọn đội vận động viên Israel đi dự đại hội thể thao Olympic 1972 tại Munich, gây chấn động dư luận thế giới.”

    Thông tin nhỏ mà không chính xác rất có thể làm cả bài viết – khá công phu – bị ảnh hưởng.

  9. Cảm ơn “Toipham” đã nhắc nhở. Tôi đã tra cứu lại về Thảm Sát Munich (Munich massacre) và xin thừa nhận là trong bài viết đã nêu thông tin sai, dựa vào trí nhớ hoặc thông tin không chuẩn từ nhiều năm trước. Thông tin đúng có thể tóm tắt như trong comment của “Toipham”.
    Thành thật xin lỗi bạn đọc.
    TRẦN DƯƠNG

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s