Đài Loan bày tỏ hậu thuẫn đối với phong trào đòi dân chủ Hồng Kông

Sinh viên biểu tình tại Đài Bắc để hỗ trợ cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ đang diễn ra tại Hồng Kông, ngày 29/9/2014.

Sinh viên biểu tình tại Đài Bắc để hỗ trợ cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ đang diễn ra tại Hồng Kông, ngày 29/9/2014.

Thứ ba, 30/09/2014

Hàng ngàn người Đài Loan hôm chủ nhật đã xuống đường biểu tình để bày tỏ hậu thuẫn cho phong trào đòi dân chủ ở Hồng Kông. Các nhà lãnh đạo Đài Loan cũng công khai lập lại sự ủng hộ dành cho các nhân vật tranh đấu ở Hồng Kông. Từ Đài Bắc, thông tín viên Ralph Jennings của đài VOA gởi về bài tường thuật sau đây.

Chính phủ Đài Loan đã bày tỏ sự hối tiếc đối với những vụ đụng độ hôm chủ nhật ở Hồng Kông, nơi hàng ngàn người biểu tình chiếm cứ khu trung tâm tài chánh để đòi chính quyền thực hiện phổ thông đầu phiếu.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài truyền hình Al-Jazeera, Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu cho biết ông cảm thấy lo lắng về tình hình Hồng Kông và tuyên bố Đài Loan là nơi duy nhất của Trung Quốc có được dân chủ. Ông cũng bác bỏ đề nghị “một quốc gia hai chế độ” mà giới lãnh đạo Trung Quốc đưa ra.

“Tôi nghĩ rằng nếu có được phổ thông đầu phiếu thì đó là một việc có ý nghĩa vô cùng to lớn cho Hồng Kông và Hoa Lục, nhất là cho hình ảnh của Hoa Lục trên trường quốc tế. Chúng tôi đã nói rất rõ là Đài Loan không chấp nhận mô thức “một quốc gia, hai chế độ”. Chúng tôi nghĩ rằng nếu chế độ đó là một chế độ tốt thì chúng ta nên có “một quốc gia, một chế độ”.” Tiếp tục đọc

XIN MỌI NGƯỜI PHỔ BIẾN RỘNG RÃI. NGA VÀ TÀU CỘNG LÀ NGUỒN GỐC MỌI ĐAU THƯƠNG TANG TÓC TRÊN TOÀN THỀ GIỚI. HÃY GÓP PHẦN ĐÁNH ĐỔ CHÚNG THÌ VIỆT NAM, CUBA, BẮC TRIỀU TIÊN MỚI THOÁT ÁCH NÔ LỆ

Gọi những tầng trời.

*

Ông Trời ơi!

Ông có thể đi khắp ta-bà thế giới

Có thể nhìn thấu càn khôn, non nước, con người.

Nhưng hãy nán lại đây: Hong Kong

Rồi hãy trả lới chúng tôi

Từ đâu ma quỷ tràn về tấn công nhân dân?

Với lựu đạn cay, vòi rồng, ma-trắc.

*

Ông Trời ơi!

Xưa nay giòi bọ sống ở đâu?

Hãy trả chúng về môi trường của chúng

Nơi cống rãnh, xác thối và phân người

Để cho Hong Kong thân yêu sạch đẹp

Để cho con chim được hát

Để ngọn gió rong chơi giữa trời bát ngát

Để nhân dân thoát kiếp nô tài

*

Ông Trời ơi!

Hãy gom gạch đá và những lời nguyền rủa về cho đám linh cẩu, kềnh kềnh ở Trung Nam Hải

Vì chúng đang dự bữa tiệc xác người.

Vì chúng đang tru lên những tràng cười.

*

Những lão vua Đỏ bụng phệ, mặt nung núc thịt

Những lão Mao đoạt trinh tiết 1.000 gái đồng trinh

Sao lại để chúng nắm quyền cai trị dân?

Sao lại cho chúng giữ quyền lực, bạc vàng, tài nguyên và vũ khí?

*

Ông Trời ơi!

Chúng tôi, thế hệ trẻ Trung Hoa mới

Chúng tôi, nhân dân Trung Hoa vĩ đại

Sao có thể chịu khuất phục dưới lũ man rợ, tham ác và khát máu người?!

ĐÀO HIẾU

29/9/2014

Tại sao triển lãm Cải Cách Ruộng Đất?

CAI CACH RUONG DATVề cuộc  triển lãm ảnh Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 9 vừa qua, có nhiều ý kiến cho rằng những người chủ trương mở triển lãm có ý đồ biện hộ cho CCRĐ, khi các nhân chứng của cái cuộc “long trời lở đất” này đã chết gần hết, khó có ai còn có thể đứng ra phanh phui những cái sai trái được nữa.

Tôi thì không nghĩ vậy. Để hiểu ý đồ thực của người chủ trương mở triển lãm, ta hãy cùng thử trả lời mấy câu hỏi dưới đây.

Câu hỏi 1: Có thể bới đống rác đã để lâu ngày theo cách nào đó, sao cho mọi người thấy thơm hay không?

Trả lời: Không. Không có cách nào hết. Muốn cho đống rác thối không làm nhức mũi mọi người, chỉ có cách là quên nó đi, đừng động đến nó, và nếu có thể thì lặng lẽ đổ bê-tông dày trùm lên nó. Còn khi đã bới ra và còn gọi: “Ới các ông các bà, lại xem này! Đống rác này thơm đấy chứ!” thì mọi người đều phải bịt mũi, và có những người sẽ nổi đóa lên vì không chịu nổi mùi thối và cú lừa thô thiển.

CCRĐ dù thế nào cũng đã phải “sửa sai”, và dù “sửa sai” thì cũng đã có hàng ngàn người chết oan một cách thảm khốc, dưới bàn tay “chỉ đạo” của các “cố vấn” con cháu Mao. Chỉ cần nhắc đến cũng đã khơi dậy lòng uất hận và ghê sợ. Và chỉ cần nhìn một tấm hình với chân dung “lãnh tụ” bên trên và cảnh đấu tố nhục hình bên dưới, người xem, kể cả người chưa có khái niệm nào về CCRĐ, cũng đủ hình dung ra sự khốn kiếp của nó. Tiếp tục đọc

Sự tồi tệ của tâm lý bầy đàn

BAY DANTôi chưa được thấy ở đâu một định nghĩa chính xác về tâm lý bầy đàn. Nhưng tôi đoán, cụm từ này có thể được hiểu theo hai cách. Thứ nhất là giống như “tâm lý đám đông”, tức là tâm lý chung của một đám người, với những “hiệu ứng” của nó, nhưng nghiêng về kiểu không có suy nghĩ, gần với bầy đàn động vật. Thứ hai là tâm lý của những cá thể, luôn muốn sống giữa đám đông, sợ những khoảng thời gian đơn độc, và làm gì cũng đều nhìn đám đông mà làm theo, gần như không suy nghĩ, không có quan điểm và sở thích riêng.

Trong bài này, chúng tôi nói về tâm lý bầy đàn theo cách hiểu thứ hai.

Mỗi một con người đều cần đến những người chung quanh: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đoàn thể,… Cần vì nhiều lý do. Thứ nhất là vì có những nhu cầu trong cuộc sống mà có sự phối hợp tập thể thì việc đáp ứng sẽ dễ dàng hơn. Thứ hai, quan trọng hơn, là nhu cầu tình cảm: người thân là chỗ dựa tinh thần cho chúng ta. Và thứ ba là nhu cầu nhận thức: việc trao đổi, bàn bạc, học và dạy lẫn nhau là vô cùng quan trọng đối với việc thu nhận và sàng lọc kiến thức, chắt lọc lấy chân lý.

Tuy nhiên, nhận thức và thế giới nội tâm của một con người chỉ có thể hoàn thiện (theo nghĩa tương đối) nếu người đó có khả năng ở một mình trong những khoảng thời gian khá dài (có thể là nhiều ngày). Việc đó vừa thể hiện năng lực tự giải quyết những vấn đề riêng tư, vừa thực sự cần thiết cho việc suy tư, nghiền ngẫm để đạt tới tri kiến sâu sắc, thứ mà người ta khó có thể nhận được khi ở trong đám đông ồn ào, dù là đám đông tụ tập để thảo luận những vấn đề nhận thức, như hội thảo khoa học chẳng hạn. Nhà khoa học không thể lúc nào cũng ở trong hội thảo; người đó cần có những lúc ngồi một mình để ý nghĩ và trí tưởng tượng phát huy hết tác dụng. Nhà văn khi viết cũng cần ngồi một mình. Đối với một vài tôn giáo, việc “luyện hồn” càng cần đến sự đơn độc, thậm chí là sự cô độc. Có thể nói, nhu cầu và khả năng sống đơn độc là thước đo sự trưởng thành của con người. Tiếp tục đọc

Thứ tư, 24/9/2014 | 05:08 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

Thảm cảnh của người Syria chạy loạn

Chạy trốn khỏi Nhà nước Hồi giáo, dòng người Syria đổ sang Thổ Nhĩ Kỳ sống trong cảnh đói khát, ngủ vạ vật trên đường, trong những ngôi nhà đổ gần biên giới.

Ít nhất có 130.000 người Syria đổ sang Thổ Nhĩ Kỳ trong vài ngày qua để trốn chạy cuộc tấn công của Nhà nước Hồi giáo. Trong ảnh, những người tị nạn Syria tập trung tại biên giới ở thị trấn Suruc, tỉnh Şanlıurfa, Thổ Nhĩ Kỳ, hôm 20/9. Ảnh: AP.

 

Phó thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Numan Kurtulmus cảnh báo, số người tị nạn Syria sang biên giới nước này có thể sẽ tăng nữa nhưng khẳng định Ankara đã sẵn sàng phản ứng với “kịch bản tồi tệ nhất này”.

Binh lính Thổ Nhĩ Kỳ đứng canh gác khi một cậu bé người Syria khệ nệ mang theo những vật dụng trong chiếc túi căng phồng tại biên giới ở thị trấn Suruc hôm 20/9. Ảnh: AP.

 

Al Jazeera dẫn lời ông Kurtulmus cho biết, dòng người nhập cư ào ạt sang Thổ Nhĩ Kỳ “không phải là một thảm họa tự nhiên” mà là “thảm họa do con người tạo nên”. “Chúng tôi không biết có bao nhiêu ngôi làng bị truy quét và bao nhiêu người bị buộc phải bỏ làng mà đi. Chúng tôi không biết được”, ông Kurtulmus nói.

Phụ nữ và trẻ nhỏ chờ đợi trong mệt mỏi tại biên giới ở thị trấn Suruc hôm 20/9. Ảnh: AFP.

 

Bé gái người Kurd vừa bế em vừa ngước nhìn cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ khi đi qua biên giới giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Syria ở tỉnh Sanliurfa hôm 20/9. Ảnh: AFP.

 

Người đàn ông trong ảnh đang đứng đợi sau khi đã sang được biên giới gần thị trấn Suruc, tỉnh Sanliurfa, Thổ Nhĩ Kỳ, hôm 21/9. Ảnh: AFP.

 

Những đứa trẻ Syria khuôn mặt nhem nhuốc, quần áo lấm bẩn ôm khư khư gói bánh quy khi vượt biên. Ảnh: AFP.

 

Người phụ nữ tật nguyền ngồi xe lăn vất vả khi băng qua ranh giới ở tỉnh Sanliurfa, Thổ Nhĩ Kỳ hôm 20/9. Bên kia hàng rào dây thép gai, những con dê của người dân mang theo bị buộc phải bỏ lại. Ảnh: AFP.

 

Em bé Syria nhận lấy cốc nước từ người lớn sau những ngày dài chờ đợi trong đói khát và mệt nhọc. Ảnh: AFP.

 

Người già cố lết theo con cháu đi di tản sang Thổ Nhĩ Kỳ. Không theo được đoàn người, bà cụ trong ảnh được một người đàn ông bế đi. Ảnh: AFP.

 

Những người Kurd ném đá vào binh lính Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc đụng độ gần biên giới sau khi chính phủ Thổ đóng cửa đường biên ở thị trấn Suruc, tỉnh Sanliurfa hôm 21/9. Ảnh: AFP.

 

Sau khi bỏ chạy khỏi Syria, người tị nạn nằm ngủ trong sân của một nhà máy sát biên giới hôm 22/9. Phần lớn những người này đều không kịp mang theo được đồ đạc gì ngoài vài chiếc chăn. Ảnh: AFP.

 

Trẻ em Syria nằm ngủ trong những ngôi nhà đổ nát gần biên giới giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ sau khi tháo chạy khỏi những ngôi làng đang bị phiến quân Nhà nước Hồi giáo đánh chiếm. Ảnh: AFP.

‘Tôi sợ sự giả dối truyền đến đời con cháu’

“Hậu quả của lối làm ăn chụp giật, giả dối này ghê gớm lắm. Tôi sợ nhất là nó truyền đời đến con cháu”, nguyên Chủ tịch An Giang, ông Nguyễn Minh Nhị chia sẻ.

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Minh Nhị, tên thường gọi là Bảy Nhị, nguyên chủ tịch UBND tỉnh An Giang.
Nguyễn Minh Nhị, Bảy Nhị, cá ba sa, nông sản, nông dân, xuất khẩu, ngoại tệ
Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch An Giang. Ảnh: Duy Chiến

Mở đầu những trăn trở về nông nghiệp và người nông dân VN, ông Bảy Nhị chia sẻ câu chuyện thăng trầm của cá ba sa – loài cá được dựng tượng đài tại Châu Đốc – An Giang vì tầm quan trọng của nó.

Làm ăn kiểu “tình chị duyên em”

Sau khi thịt cá ba sa phi lê tìm được đường xuất khẩu vào thị trường Mỹ đầu những năm 1990, trải qua quá trình nghiên cứu, khảo sát vất vả, ông Nhị và các đồng nghiệp đã thành công trong việc cho loài cá này sinh sản nhân tạo. Một thời cơ vàng dường như mở ra khi chúng ta chủ động được nguồn giống và nhu cầu thị trường lúc đó đang rất lớn.

Vậy nhưng…

Ông Nguyễn Minh Nhị: Tôi còn nhớ có lúc cao điểm giá cá ba sa xuất khẩu lên đến 8 USD/kg! Các bè cá mới mọc san sát trên sông Hậu. Các nhà máy, cơ sở chế biến tấp nập ra đời.

Lúc ấy tôi cũng lo là để phát triển tự phát sẽ chèn ép lẫn nhau, cạnh tranh sẽ không đảm bảo chất lượng, có sự gian dối nên đề nghị Nhà nước phải quản lý, nhất là khâu giống. Nhưng không ai nghe cả. Họ nói: “Thị trường là tự do! Nhà nước không nên can thiệp”.

Khi nhu cầu cá ba sa tăng nhanh thì khách hàng ở Mỹ, mấy ông Việt kiều gợi ý đưa cá tra vào nuôi đội lốt cá ba sa kiếm lời khủng. Cá tra dễ nuôi, năng suất cao, trong khi cá ba sa rất ‘trưởng giả”, khó tính. Cũng nên biết rằng, trên thế giới này chỉ có Việt Nam nuôi cá ba sa thương phẩm thành công.

Vậy là bất chấp tất cả, có quy hoạch hay không, bất kể đất lúa màu mỡ, rất nhiều người cứ thế đào ao nuôi cá tra rồi quy hoạch sau. Phong trào rộ lên từ tỉnh đầu nguồn, lan ra khắp ĐBSCL, rồi đến lượt các nhà máy chế biến cũng bị hút vào cuộc, thi nhau vay vốn đầu tư.

Từ sau năm 2000, sản lượng nuôi tăng vọt, số nhà máy chế biến cũng tăng theo. Từ đó cung vượt cầu, sinh ra cạnh tranh kiểu “tự hủy diệt”. Cứ sau mỗi kỳ hội chợ thủy sản ở Boston (Mỹ), Brussels (Bỉ) hay ở Việt Nam là giá cá lại sụt, vì các DN đến hội chợ chủ yếu “đi đêm” chào giá thấp.

Khi dự hội nghị Chính phủ tại Hà Nội, tôi từng phát biểu tình hình này với tâm trạng rất bức xúc. Bức xúc nhất là việc gian lận đánh tráo cá tra vào, mà tôi gọi là “Tình chị duyên em”, khiến cá ba sa không còn mấy người nuôi. Hành vi này làm mất uy tín VN trên thương trường, vừa làm cạn kiệt một giống loài là nguồn thực phẩm quí hiếm mà thiên nhiên ban tặng.

Bây giờ ngay tại An Giang, quê hương của cá ba sa mà cá ba sa cũng chẳng còn. Tôi đi tiếp khách vào nhà hàng thấy thực đơn có món cá ba sa, bèn gọi. Dù đã hỏi, căn dặn nhà hàng mấy lượt là phải đúng cá ba sa, họ dạ dạ vâng vâng nhưng đưa lên toàn cá tra! Tôi giận quá, truy hỏi tại sao, họ trả lời: “Dạ, bây giờ không còn ai nuôi cá ba sa nữa. Bác thông cảm!”. Chết không?

Con cá ba sa trời ban tặng cho miền sông Hậu đã đi vào truyện cổ tích mất rồi. Tôi đang viết lại câu chuyện này để con cháu mai sau còn nhớ trên quê hương mình có giống cá “độc nhất vô nhị” mà không giữ được!

Thưa ông, thời ông làm chủ tịch UBND tỉnh, An Giang xây tượng cá ba sa, bông lúa – hai biểu tượng kinh tế nông nghiệp của An Giang. Nay cá ba sa đã “đi vào cổ tích”, ông có lo cây lúa cũng theo bước?

Nguyễn Minh Nhị, Bảy Nhị, cá ba sa, nông sản, nông dân, xuất khẩu, ngoại tệ
Tượng đài cá Basa tại Châu Đốc. Ảnh: Bazantravel

Ông Nguyễn Minh Nhị:Có chuyện này tôi mới nghe mà hết hồn hết vía! Nhiều hộ nông dân đang áp dụng kiểu ăn gian, ngày mốt cắt thì bữa nay xả nước vào ruộng, phun thuốc vào. Hôm sau xả nước ra để ngày mai cắt lúa. Kiểu gian dối này cho thêm khoảng 1 tấn/ha.

Tôi điện hỏi mấy anh em DN có biết không? Họ trả lời biết rồi, nhưng không sao vì họ có máy móc thiết bị đo độ ẩm, dễ gì ăn gian được. Chết là mấy ông hàng xáo đi thu mua, nhưng họ cũng chỉ một lần bị mắc lừa nông dân thôi.

Người ta nói “điếm vườn sao bằng điếm chợ”, nông dân mình cứ tưởng làm vậy là khôn, có cái lợi trước mắt. Nhưng chính họ sẽ bị trả giá nhiều nhất, không chỉ bị thương lái biết rồi ép trở lại, mà họ không thấy rằng uy tín của hạt gạo không có thì họ cũng bị thiệt nhất.

Làm ăn không nhìn xa thấy rộng, chỉ thấy lợi trước mắt, bất chấp thiệt hại lớn gấp nhiều lần sau đó. Nuôi cá cũng vậy, trồng lúa cũng vậy, rất chụp giật…

Đừng trách người nông dân

Thưa ông, tại sao tầng lớp nông dân luôn được xem là thật thà, chất phác mà lại có những trò gian dối như vậy? Không chỉ có trong nuôi cá và trồng lúa, họ sẵn sàng phun thuốc trừ sâu vào rau để sáng mai thu hoạch bán, bất chấp sức khỏe của người tiêu dùng?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Nông dân mình có nhiều cái tệ, nhưng không trách họ được, và cũng không nên trách. Họ không có điều kiện để hiểu biết hết nên thấy cái gì có lợi là làm, hứng lên là làm. Có ai chỉ họ làm cái gì cho có hiệu quả đâu? Họ phải tự mày mò, tự mưu sinh, làm ra sản phẩm may thì bán được, không may thì lãnh đủ nợ nần!

Họ không có tổ chức, không có ai hướng dẫn họ làm cái gì, không nên làm cái gì, làm ra bán ở đâu. Họ phải tự mưu sinh bằng những cách làm hại chính cả họ. Và, cuối cùng họ vẫn là người chịu thiệt thòi nhất. Theo tôi biết, ở các nước, nông dân được quan tâm, được tổ chức rất tốt chứ không bỏ mặc như nông dân ở ta đâu.

Theo ông, nguyên nhân những khiếm khuyết đó của nông dân ta, mà trầm kha nhất là chụp giật, tầm nhìn ngắn, tự đục vào chân mình là gì?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Ngày xưa, nông dân ta luôn được đánh giá là lương thiện, đạo đức, cần cù. Còn ngày nay, họ cũng bị ảnh hưởng rất nhiều thói xấu. Tất cả bắt nguồn từ sự chụp giật, tranh thủ tối đa, bất kể hậu quả. Căn bệnh này đã lây lan rộng chứ không chỉ nông dân. Nhưng với nông dân thì quả thật đau lòng, vì họ lẽ ra phải là thành trì của đạo đức, của sự lương thiện, chất phác phải không?

Theo tôi, chúng ta phải nhìn sâu xa vào những nguyên nhân từ trong chính sách. Bản chất của nông dân là gắn với đất đai, cả ngàn đời nay là vậy. Nông dân là đất, đất là nông dân.

Khi đất không phải của nông dân mà chỉ được sử dụng có thời hạn thì họ chẳng còn gắn bó máu thịt với đất đai như xưa.

Không còn gắn bó thì cũng không còn gìn giữ, bồi đắp vào cho đất, vì ngày mai có còn là của mình nữa đâu! Nhiều cái xấu ra đời từ đây, chính vì không gắn bó với đất, không nặng lòng với đất mà lương tâm, tình làng nghĩa xóm, tình quê hương bị tha hóa, sẵn sàng đánh đổi vì những lợi ích ngắn hạn.

Tôi còn nhớ hồi mới giải phóng, ta thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” giống như ở miền Bắc trước đây. Hồi ấy, những người có nhiều ruộng đất trong Nam là do họ cần cù, siêng năng, chịu khó mà có nên nặng lòng với đất. Tôi nhớ như in nhiều nông dân nghèo được Nhà nước chia lại ruộng của những người này, đã không nhận. Họ nói: “Người ta làm sáng tối, không biết nghỉ mới có nhiều đất. Mình lấy không của người ta coi sao được!”.

Tôi báo cáo việc này lên Tỉnh ủy, ông Bí thư lúc ấy kết luận: “Nếu không nhận đất thì không phải là nông dân, thì không cho nữa!”. Đơn giản thế thôi. Lúc ấy chúng ta không lường được hậu quả tai hại như ngày nay đang chứng kiến.

Người nông dân vốn dĩ là tốt, đã chuyển hóa và tha hóa từ đó. Lúc đầu thấy nhận đất của người khác, tức mồ hôi và nước mắt của người khác là “kỳ lắm”, “coi không được”, quyết không nhận! Nay thì khác rồi. Hai đám ruộng của hai nhà liền ranh còn lấn nhau từng chút huống chi những chuyện khác có nhiều lợi ích hơn. Cái gì lợi cho mình thì dẫu có hại cho người khác cũng làm.

Cái tình của người nông dân với đất phôi phai đi cũng làm cho cái tình với quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn không còn thiêng liêng như xưa. Những giềng mối gìn giữ đạo đức, lương tri, nhân bản chân chất nhất cũng từ đấy mà sút sổ, long ra.

Nguyễn Minh Nhị, Bảy Nhị, cá ba sa, nông sản, nông dân, xuất khẩu, ngoại tệ
Làng bè cá Châu Đốc

“Nói một đàng làm một ngả” nhiều quá

Từng giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, về hưu trở lại làm nông dân trồng lúa và nuôi cá, ông nhìn nhận các chủ trương, chính sách và công tác quản lý nhà nước với nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Tình trạng chung nhất là “Nói một đàng làm một ngả” nhiều quá. Có muôn thứ chuyện chứng minh cho điều này.

Chẳng hạn chuyện vận động nông dân làm ra nhiều lúa gạo rồi bán không được, mặc cho họ bị thua lỗ. Xui nông dân nuôi con nọ, trồng thứ cây kia rồi bỏ chạy mất, không biết bán cho ai. Lẽ ra, bảo nông dân trồng lúa thì phải có công ty mua số lúa làm ra chứ. Có bên quăng thì phải có bên hứng, phải tổ chức cho khớp nhau thì nói và làm mới đi đôi chứ?

Gần đây tôi nghe Bộ NN – PTNT triển khai kế hoạch chuyển 200.000 ha đất lúa kém hiệu quả chuyển sang trồng bắp, đậu nành và màu. Tôi thấy băn khoăn không hiểu trồng những thứ đó rồi nông dân bán cho ai hay lại đẩy họ vào chỗ khó như các chương trình chăn nuôi bò trước kia?

Thưa ông, theo tôi biết hàng năm Chính phủ vẫn cho thu mua tạm trữ, giảm áp lực tiêu thụ lúa cho nông dân mà?

Ông Nguyễn Minh Nhị: Chuyện này tôi quá hiểu! Khi lúa chín rộ, các công ty lương thực sàng bên này, lách bên kia để chậm triển khai. Bởi giá lúa càng thấp thì họ càng có lợi. Đến khi triển khai cũng đâu có làm đúng như tinh thần chỉ đạo. Nông dân gần như chẳng được gì.

Tôi có ông bạn cùng quê xứ Tịnh Biên làm công tác thu mua lúa. Tôi đến mấy trạm thu mua của ông ấy kiểm tra, thấy có hai giá mua, cao và thấp khác nhau. Giá rẻ để ngoài là giá mua thật cho nông dân, còn giá cao cất bên trong, khi có đoàn kiểm tra đến thì trưng ra! Bữa tôi bất ngờ đến, họ thay không kịp, tôi hỏi sao làm ăn vậy. Họ trả lời: “Giá cao là giá Nhà nước quy định. Còn giá thấp là giá thu mua theo… thị trường!”. Bất nhẫn vậy đấy. Nhà nước cho vay không lãi để thu mua song thực chất họ mua vẫn ép nông dân chứ có nương gì đâu!

Tôi cũng nhiều lần đi ký hợp đồng xuất khẩu gạo với anh em. Ký xong về giá lúa lên là… bẻ chĩa ngay!

Hậu quả của lối làm ăn chụp giật, giả dối này ghê gớm lắm. Tôi sợ nhất là nó truyền đời đến con cháu sau này thành một xã hội giả dối. Thế hệ chúng tôi dù sao cũng được “chích ngừa”, còn phản kháng lại được.

Còn thế hệ sau thì sao? Lo lắm!

Duy Chiến (thực hiện)

Nguồn VietnamNet

By daohieu Posted in Chưa phân loại

3 SỰ KIỆN – Đào Hiếu

-Trong kỳ thi tốt nghiệp PTTH vừa qua, tại trường Quang Trung (Hà Nội) chỉ có một thí sinh thi MÔN SỬ. Đó là em Khánh Linh. Cũng trong kỳ thi đó, tại trường Nguyễn Thị Minh Khai (TPHCM) cũng chỉ có 2 thí sinh thi MÔN SỬ. Đó là các em Đinh Quế Trân và Lâm Bảo Anh.
-Trước đó, học sinh trường Nguyễn Thượng Hiền, quận 11 TPHCM đã xé vụn hàng trăm đề cương môn sử, ném xuống sân trường khi nghe loan báo sẽ BỎ MÔN SỬ trong kỳ thi tốt nghiệp PTTH.
-Mới đây ngành điện ảnh quốc doanh dưa ra rạp bộ phim triệu đô mang tên SỐNG CÙNG LỊCH SỬ và đã không bán được một vé nào cả.
Hãy nghĩ xem có mối tương quan nào giữa 3 sự kiện đó không?
Không những học sinh chán ghét môn SỬ mà quần chúng cũng chán ghét nó mặc dù họ không trực tiếp học môn sử dưới mái trường XHCN.
Tại sao?
Vì chế độ này đã biến môn sử thành công cụ tuyên truyền khoác lác và quá lộ liễu về mình đến độ trẻ con chúng còn ngán ngẩm và sự ngán ngẩm ấy đã lây lan ra cả xã hội.
Thực ra, ở thế hệ của chúng tôi, SỬ là một môn học rất hay. Nó như những cổ tích có thực, mang đấy tình cảm dân tộc và ý nghĩa sâu sắc. Nó là những bài học yêu nước cảm động và hào hùng. Và nó rất hấp dẫn. Ngày ngày, chở cháu nội đi học về, ngang qua những đường phố, tôi đã nhìn tên đường và kể cho nó nghe về Nguyễn Trãi, Hàm Nghi, Duy Tân, Hoàng Diệu… Nó rất thích và hỏi: “Ông nội đọc ở đâu vậy?” Tôi nói: “Đó là môn sử mà ông nội đã học từ khi bằng tuổi con bây giờ.”