Vụ án Huyền Như: ĐƠN TỐ CÁO

HUYEN NHU 02V/v Hội đồng xét xử và đại diện Viện Kiểm sát có dấu hiệu vi phạm pháp luật, không khách quan trong phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như

 HOÀNG ĐÔN HÙNG

NQL: Quê choa lâu nay không đăng tải các loại đơn tố cáo. Đây là một trường hợp đặc biệt. Phiên xử án đang xảy ra và người làm đơn tố cáo ngay phiên xử này. Quê Choa đã phá lệ đăng đơn này, để những người có trách nhiệm và những ai đang theo dõi vụ này có thêm một chiều thông tin rất cần thiết, ngõ hầu xử lý thông tin được chuẩn xác và công bằng

*

Kính gửi:         
 –     Chánh án Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. 
–      Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh

Đồng kính gửi:      

–  Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng

–  Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương

–  Ban Nội chính trung ương

–  Bộ trưởng Bộ Tư pháp

–  Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao

–  Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao

–  Ủy ban pháp luật của Quốc hội

–  Ủy ban tư pháp của Quốc hội

Sao gửi:            
Các cơ quan báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng

*

Tôi tên Hoàng Đôn Hùng, CMND số 023202736 do Công an Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 06/9/2011, thường trú tại số nhà 28/4 đường số 11, khu phố 4, phường An Phú, quận 2, Tp. Hồ Chí Minh. Tôi gửi đơn tố cáo đến các cơ quan trình bày nội dung sau:
I.  Về phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như:
Từ ngày 06/1/2014 đến nay, tôi tham dự liên tục phiên tòa xét xử công khai vụ án Huỳnh Thị Huyền Như tại Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định của Luật tố cáo, nay tôi tố cáo các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, không khách quan trong quá trình xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như của Hội đồng xét xử và chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Đức Sáu, và đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa. Cụ thể:
1.      Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã xác định sai, sót tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng.
1.1 Xác định sai tư cách tham gia tố tụng ở chỗ: Hội đồng xét xử đã xác định tư cách tham gia tố tụng của nhiều đơn vị, cá nhân gửi tiền tại Ngân hàng Công Thương là nguyên đơn dân sự trong vụ án do hành vi phạm tội của Huỳnh Thị Huyền Như. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng này là không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và bản chất của vụ án vì: Trên thực tế, rất nhiều cá nhân, đơn vị mà Hội đồng xét xử đã xác định tư cách tham gia tố tụng là nguyên đơn dân sự đã không có đơn yêu cầu Huỳnh Thị Huyền Như bồi thường thiệt hại trong khi đó theo quy định tại điều 52 Bộ luật Tố tụng hình sự thì nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
1.2 Hầu hết những đơn vị, cá nhân được Cáo trạng xác định bị Huyền Như chiếm đoạt tiền đã phản đối, yêu cầu Ngân hàng Công Thương trả tiền trước và ngay phần thủ tục phiên tòa, nhưng thẩm phán Nguyễn Đức Sáu cùng Hội đồng xét xử không đưa Ngân hàng Công Thương vào tham gia tối tụng với tư cách bị đơn mà chỉ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án do nhận tiền do Huyền Như chi trả.
1.3 Đối với hành vi vi phạm quy định về cho vay, gây hậu quả nghiêm trọng tại chính Ngân hàng Công Thương, thì cũng không đưa Ngân hàng Công Thương tham gia tố tụng.
1.4 Ngay tại phiên tòa các đơn vị, cá nhân gửi tiền tại Ngân hàng Công Thương và các luật sư tham gia phiên tòa đã đồng loạt yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, thay đổi tư cách tham gia tố tụng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã bác yêu cầu này và trả lời Hội đồng xét xử xác định tư cách tham gia tố tụng theo Cáo trạng.
Đây là trả lời trái pháp luật. Cho dù Cáo trạng xác định gì đi chăng nữa, nếu không có đơn yêu cầu bồi thường, thì không thể là nguyên đơn. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng phải theo luật.
2.      Triệu tập thiếu người có liên quan, cần xét hỏi, có dấu hiệu không khách quan
Trước khi xét xử, Thẩm phán Nguyễn Đức Sáu đã triệu tập rất nhiều các cá nhân ở các tổ chức có liên quan. Nhưng riêng tại Ngân hàng Công Thương, thì không triệu tập những người có trách nhiệm quản lý, liên quan trực tiếp đến vụ án.
Tại phiên tòa, tuy đã có nhiều kiến nghị chính thức của các luật sư và người tham gia tố tụng nhưng Hội đồng xét xử vẫn không chấp nhận. Đặc biệt là các trường hợp như: ông Trương Minh Hoàng, bà Nguyễn Thị Minh Hương, Phó Giám đốc Ngân hàng Công Thương chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh, là những người đã trực tiếp ký các Hợp đồng tiền gửi với các cá nhân gửi tiền tại Ngân hàng Công Thương, cấp trên của Huyền Như, liên quan đến việc quản lý tiền của khách, hạch toán, …
Trong khi đó, Hội đồng xét xử lại triệu tập đầy đủ các cá nhân đã ký Hợp đồng gửi tiền với ông Trương Minh Hoàng và bà Nguyễn Thị Minh Hương với tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Việc triệu tập thiếu người có liên quan làm ảnh hưởng việc xác định sự thật của vụ án, quá trình xét xử thiếu khách quan, không được toàn diện, đầy đủ. Hậu quả, cho đến nay, qua hết phần xét hỏi, nội dung vụ án, việc quản lý tiền tại Ngân hàng Công Thương cũng chưa được làm rõ.
3.      Rất nhiều thiếu sót, nhiều biểu hiện không khách quan trong xét hỏi tại phiên tòa
3.1 Hội đồng xét xử không nắm rõ hồ sơ vụ án, hỏi chiếu lệ, không xét hỏi bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như đầy đủ, chi tiết, không hỏi hết những điểm mà bị cáo chưa trả lời đầy đủ, những điểm mâu thuẫn so với hồ sơ vụ án; thậm chí khi bị cáo trả lời sai so với cáo trạng,kết luận điều tra thì Hội đồng xét xử vẫn lướt qua, không làm rõ. Cụ thể là:
a.      Hội đồng xét xử không hỏi chi tiết hành vi phạm tội thực hiện như thế nào, do ai giúp sức, đặc biệt là tại Ngân hàng Công thương …
b.      Hội đồng xét xử không xét hỏi chi tiết bị cáo Huỳnh Thị Huyền Như về nội dung số tiền chiếm đoạt đã chuyển đi đâu, ai là người nhận, sử dụng tiền, hành vi chi tiết chiếm đoạt tiền, sử dụng tiền chiếm đoạt như thế nào. Tất cả nội dung này chưa được làm rõ trong phần thủ tục xét hỏi.
c.      Đặc biệt, hầu như Hội đồng xét xử không hỏi gì liên quan đến trách nhiệm quản lý tiền của Ngân hàng Công Thương, đến xác định mối quan hệ tiền gửi của Ngân hàng Công Thương với khách hàng, đến việc ai là người thực hiện các chứng từ giả, đến việc ai trích tiền gửi của khách thu nợ vay trái pháp luật tại Ngân hàng Công Thương, hợp đồng gửi tiền thật hay giả …
d.      Ví dụ về khoản chiếm đoạt 200 tỷ của Ngân hàng Nam Việt, Hội đồng xét xử hỏi bị cáo Huyền Như như sau:
(1)  Hội đồng xét xử: Bị cáo hãy khai quá trình thực hiện việc huy động tiền của Ngân hàng Nam Việt.
Huyền Như: Thông qua ông Đoàn Đăng Luật bị cáo đã huy động tiền của Ngân hàng Nam Việt, số tiền huy động là 500 tỷ đồng, đã tất toán được 300 tỷ, còn nợ lại 200 tỷ. Lãi suất trên hợp đồng là 14%, lãi suất chênh lệch ngoài hợp đồng là từ 4% đến 9%.
(2)  Hội đồng xét xử: Bị báo chiếm đoạt tiền của Ngân hàng Nam Việt bằng cách nào?
Huyền Như: Bị cáo đã chia nhỏ số tiền, lập nhiều thẻ tiết kiệm đứng tên người gửi tiền và dùng thẻ tiết kiệm bảo lãnh cho khoản vay tại Ngân hàng Công Thương để rút tiền.
(3)  Hội đồng xét xử: Trong trường hợp này bị cáo đã trả tiền chêch lệch ngoài hợp đồng bao nhiêu?
Huyền Như: Bị cáo đã trả cho Đoàn Đăng Luật lãi suất chênh lệch ngoài hợp đồng tổng số tiền khoảng 30 tỷ đồng, nhưng chỉ được ghi nhận khoảng 9 tỷ đồng vì bị cáo chi trả bằng tiền mặt. Nhưng trong sổ sách của nhóm giúp việc bị cáo có ghi đầy đủ và bị cáo đã khai rõ tại cơ quan điều tra.
(4)  Hội đồng xét xử: Bị cáo đã gian dối gì trong trường hợp này?
Huyền Như: Bị cáo đã giả chữ ký, lập nhiều thẻ tiết kiệm thế chấp vay tiền của Ngân hàng Công Thương.
Các sai sót nghiêm trọng như sau:
–         Không hề hỏi Hợp đồng tiều gửi thật hay giả. Thực tế hợp đồng tiền gửi của Ngân hàng Nam Việt là thật.
–         Không hề hỏi tiền Huyền Như đã tất toán là của Ngân hàng Công Thương hay của Huyền Như, Ngân hàng Công Thương hạch toán khoản tiền này như thế nào, lãi ai trả …
–         Câu hỏi và trả lời của Huyền Như tại Tòa đều xác định Huyền Như thế chấp toàn bộ tiền gửi của Navibank để vay tiền Ngân hàng Công Thương. Nhưng trên thực tế, Kết luận điều tra, Ngân hàng Nam Việt khẳng định Huyền Như chiếm đoạt 200 tỷ đồng của Ngân hàng Nam Việt bằng hai cách: (1) Đối với số tiền 59,7 tỷ đồng, Huyền Như đã chia nhỏ, lập nhiều sổ tiết kiệm giả đứng tên người gửi tiền, sau đó dùng các sổ tiết kiệm giả cầm cố cho Ngân hàng Công Thương vay tiền và chiếm đoạt; (2) Đối với số tiền 140,3 tỷ đồng còn lại, Huyền Như đã giả chữ ký của người gửi tiền để rút tiền mặt hoặc làm lệnh chi giả để chuyển tiền, chiếm đoạt.
–         Không hề hỏi sau khi thế chấp thẻ tiết kiệm bằng chữ ký giả thì ai là người trích tiền thu nợ. Thậm chí, thẩm phán Nguyễn Đức Sáu đưa ra câu nhận định trái pháp luật ngay khi xét hỏi: Với việc ký giả để thế chấp thẻ tiết kiệm, coi như việc chiếm đoạt đã hoàn thành. Nhận định này nhằm bỏ qua trách nhiệm của Ngân hàng Công thương.
–         Không hề hỏi về việc tiền chiếm đoạt được đi đâu …
200 tỷ đồng, có rất nhiều vấn đề, có nhiều tranh cãi, Hội đồng xét xử chỉ hỏi bằng 4 câu hỏi, với 4 câu trả lời chung chung, không rõ nghĩa.
Các khoản khác cũng tương tự.
e.      Hội đồng xét xử không đặt ra bất cứ câu hỏi nào đối với đại diện Ngân hàng Công Thương tham gia phiên Tòa để làm rõ nội dung sự việc, trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương trong vụ án.
3.2 Trong phần các luật sư tham gia xét hỏi, thì:
a.      Hình thức xét hỏi không khách quan
–         Đối với các câu hỏi của các Luật sư đặt ra và yêu cầu đại diện Ngân hàng Công Thương trả lời trực tiếp tại phiên tòa như: trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương trong việc quản lý tiền gửi của khách hàng, trách nhiệm bồi thường đối với tiền gửi của khách hàng, trách nhiệm trong việc cán bộ của Ngân hàng Công Thương làm giả hồ sơ chứng từ chiếm đoạt tiền gửi của khách hàng, về việc Ngân hàng Công Thương tự ý trích tiền của khách hàng để thu nợ vay trái pháp luật, … đại diện Ngân hàng Công Thương tham gia phiên tòa đã không trả lời.
Nhiều lần, nhiều Luật sư đề nghị, Hội đồng xét xử cũng không cho phép các Luật sư đặt câu hỏi trực tiếp với đại diện Ngân hàng Công Thương tại phiên tòa mà yêu cầu các Luật sư đặt câu hỏi, đại diện Ngân hàng Công Thương ghi nhận và trả lời bằng một bài phát biểu chung.
Hậu quả sau khi đại diện Ngân hàng Công Thương bằng một bài phát biểu chung trả lời hơn 30 câu hỏi của các luật sư đã đặt ra cho Ngân hàng Công Thương là không làm rõ được trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương trong vụ án, hầu hết các câu hỏi không được trả lời.
–         Đối với các câu hỏi mà các Luật sư đặt ra cho bị cáo Huyền Như trong phần xét hỏi, Hội đồng xét xử không những đã yêu cầu Luật sư không đặt các câu hỏi khó cho bị cáo Huyền Như mà còn gợi ý cho bị báo Huyền Như có quyền không trả lời các câu hỏi của Luật sư.
Hậu quả của việc này là sau đó, Huyền Như đã liên tục trả lời các câu hỏi của các Luật sư bằng các câu trả lời: bị cáo không nhớ rõ; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo không trả lời câu hỏi này của Luật sư.
3.3 Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã không tham gia phần xét hỏi, không đặt ra bất cứ một câu hỏi nào đối với tất cả các bị cáo, đại diện Ngân hàng Công Thương hay những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa để làm rõ các tình tiết của vụ án. Ngay cả khi Hội đồng xét xử hỏi thiếu, bị cáo Huyền Như trả lời sai so với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng thì đại diện Viện Kiểm sát cũng không hỏi lại để làm rõ.
Không tham gia hỏi bất cứ câu hỏi nào trong phần xét hỏi, đại diện Viện Kiểm sát đã trình bày kết luận của mình theo đúng nội dung cáo trạng.
3.4 Chấm dứt xét hỏi khi có nhiều câu hỏi cần thiết chưa được trả lời.
Tiếp theo đó, ngày 13/01/2014, Hội đồng xét xử đã không chấp nhận yêu cầu của các luật sư kiến nghị tiếp tục phần xét hỏi vì hầu hết các câu hỏi về việc xác định trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương đã không được trả lời. Đồng thời nêu, Ngân hàng Công Thương tiếp tục phải trả lời câu hỏi về trách nhiệm của mình trong phần tranh luận. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong phần tranh luận tại phiên tòa không có hề có quy định về hỏi và đáp.
Tất cả các câu hỏi của luật sư với Ngân hàng Công Thương đều là cần thiết, nhưng Hội đồng xét xử, Viện Kiểm sát không hỏi. Trước sức ép và đòi hỏi của các luật sư, chính Hội đồng xét xử cũng khẳng định trả lời của Ngân hàng Công Thương là không thỏa đáng.
Tất các hành vi nêu trên của Hội đồng xét xử, đại diện Viện Kiểm sát trong xét hỏi tại phiên tòa có dấu hiệu vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.
Hơn nữa, Hội đồng xét xử, đại diện Viện Kiểm sát còn thể hiện dấu hiệu ưu ái, bao che cho Ngân hàng Công Thương khi: không xét hỏi Ngân hàng Công Thương các nội dung cần thiết để làm rõ trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương trong vụ án; khi các Luật sư yêu cầu hỏi trực tiếp Ngân hàng Công Thương thì không cho; cho phép Ngân hàng Công Thương trả lời chung tất cả các câu hỏi bằng một bài phát biểu; không truy tìm, xét hỏi rõ tiền do hành vi phạm tội mà có đã đi đâu; Lướt qua các nội dung bị cáo trả lời sai so với cáo trạng, kết luận điều tra.
II.   Về trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương đối với khách hàng gửi tiền:
Tôi cũng là một khách hàng của Ngân hàng Công Thương, có mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Phòng Giao dịch Bình Hòa trực thuộc Chi nhánh 7 Tp. Hồ Chí Minh Ngân hàng Công Thương.
Vào thời điểm trước khi vụ án Huỳnh Thị Huyền Như được đưa ra xét xử, qua thông tin công khai về vụ án này, tôi được biết Huỳnh Thị Huyền Như là quyền Giám đốc Phòng Giao dịch, đã hủy bộ chứng từ mở tài khoản của khách hàng, tráo bộ chứng từ khác để giả chữ ký rút tiền trên tài khoản của khách; tự ý dùng chứng từ giả, ký giả chữ ký của khách hàng để rút tiền, chuyển tiền trên tài khoản tiền gửi của khách hàng. Tôi cũng được biết đã có nhiều ý kiến nêu Huyền Như không có trách nhiệm quản lý tiền của khách hàng và Ngân hàng Công Thương không chịu trách nhiệm với khách hàng trong các trường hợp này.
Là khách hàng của Ngân hàng Công Thương, vào thời điểm đó, ngày 28/12/2013, tôi đã gửi văn bản đề nghị Ngân hàng Công Thương Việt Nam giải đáp bằng văn bản cho tôi các nội dung sau:
1.      Hồ sơ mở tài khoản của tôi đã nộp cho Ngân hàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Việt Nam không hề trả lại cho tôi bất cứ bằng chứng nào xác nhận các hồ sơ tôi nộp là gì, vậy làm thế nào tôi biết được hồ sơ của tôi đã nộp không bị đánh tráo và hủy đi?
2.      Tôi có nghĩa vụ phải thường xuyên theo dõi số dư tài khoản của mình hay không, bao nhiêu lâu tôi phải theo dõi một lần. Cách thức theo dõi như thế nào. Nếu tôi không theo dõi, khi tiền bị người khác giả mạo rút đi, thì tôi có phải tự chịu trách nhiệm không?
3.      Làm sao tôi biết được trần lãi suất của Ngân hàng Công Thương đang áp dụng là bao nhiêu, nếu Nhân viên Ngân hàng Công Thương trả tôi lãi vượt trần, tôi nhận thì có vi phạm gì không?
4.      Số tiền gửi tiền gửi của tôi tại Ngân hàng Công Thương Việt Nam được quản lý như thế nào? Ai là người có trách nhiệm quản lý tiền gửi của tôi? Chức vụ cụ thể của người có trách nhiệm quản lý tiền gửi của tôi?
5.      Trong trường hợp cán bộ và nhân viên Ngân hàng Công Thương Việt Nam tráo hồ sơ mở tài khoản của tôi, giả mạo chứng từ rút tiền từ tài khoản của tôi thì tôi có được Ngân hàng Công Thương Việt Nam có bồi hoàn, trả lại tiền không?
Tất cả các nội dung trên hiện được quy định ở đâu, có được Ngân hàng Công Thương Việt Nam thông báo cho khách hàng không?
Tuy nhiên cho đến nay, tôi vẫn chưa nhận được văn bản trả lời chính thức của Ngân hàng Công Thương. Cung cấp thông tin này, tôi khẳng định Ngân hàng Công Thương không tôn trọng, không minh bạch với khách hàng.
 
Tóm lại tôi nhận thấy:
1.      Ngay từ trước phiên tòa, trong phiên tòa, đã có dấu hiệu không tuân thủ pháp luật, không khách quan từ Thẩm phán Nguyễn Đức Sáu, từ Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát.
Cụ thể là dấu hiệu bao che, né tránh tất cả những gì liên quan đến việc xác định trách nhiệm của Ngân hàng Công Thương, nghĩa vụ của Ngân hàng Công Thương. Các biểu hiện này là công khai.
2.      Với cách xét hỏi chiếu lệ, không đầy đủ, thậm chí không phát hiện ra các sai sót trong lời khai tại tòa so với hồ sơ, kết luận điều tra … của Hội đồng xét xử; với sự không tham gia xét hỏi của Viện kiểm sát, có thể dẫn đến sự suy diễn kết quả phiên tòa đã được ấn định trước, dân gian gọi là “án bỏ túi”. Cho dù kết quả phiên tòa như thế nào, các cá nhân, tổ chức liên quan trong vụ án này phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật nhưng với cách làm việc của Hội đồng xét xử, Viện Kiểm sát trong phiên tòa này sẽ không đáp ứng được lòng mong đợi của người dân.
Nghị quyết số 49 ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung Ương Đảng đã xác định rõ: trong cải cách tư pháp, Toà án là trung tâm, hoạt động xét xử là trọng tâm, xét xử phải trên cơ sở tranh tụng, dân chủ. Vì thế muốn dân tin thì trước hết trong các phiên Tòa, Hội đồng xét xử, đại diện Viện Kiểm sát phải làm đúng, làm đủ trách nhiệm của mình.
Tôi hiểu nếu sơ thẩm xử sai, sẽ còn phúc thẩm. Tuy nhiên, nếu thấy các sai phạm, các dấu hiệu không khách quan như vậy mà không ngăn chặn, thì việc sửa sai sẽ phải trả giá rất đắt, mất lòng tin của người dân.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang về việc toàn dân tích cực tham gia chống tham những, tôi viết đơn này, có danh tính rõ ràng và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung nêu trong đơn, để tố cáo và kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, làm rõ các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật của Hội đồng xét xử và chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Nguyễn Đức Sáu,và đại diện Viện Kiểm sát trong phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án Huỳnh Thị Huyền Như.
Trân trọng.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 01 năm 2014
                                                                                              Người tố cáo
Hoàng Đôn Hùng
 
Advertisements

3 comments on “Vụ án Huyền Như: ĐƠN TỐ CÁO

  1. Tôi rất đồng thuận với tác giả HĐH ! với 1 ngân hàng nhà nước như Vietinbank phủi bỏ trách nhiệm với khách hàng là đánh mất ut tín của mình TÔI TIN CHẮC RẰNG SẺ KHÔNG CÒN AI HOẶC RẤT ÍT NGƯỜI SẺ TIẾP TỤC GỬI TIỀN CHO NGÂN HÀNG NẦY vì giống như giao trứng cho ác .nhưng tôi tin rằng sẻ có câu trả lời cho nhửng phiên tòa LẠ LÙNG như thế nầy và sự hiện diện của ông Thanh không phải là đến để rút kinh nghiệm mà như 1 bài báo đả đăng “hư cấu 1 vụ án Huyền như ” tôi tin còn nhiều điều phải giải quyết cho ban nội chính TW ,hàng ngàn tỷ 1 mình như không nuốt nổi ,còn lại chảy về đâu ?ai nhửng ai đang hưởng lợi số tiền nầy ban bí thư sẻ làm rỏ để lấy lại niềm tin cho dân NẾU KHÔNG SẺ CHẲNG CÒN AI DÁM ĐEM GỬI TIỀN VÀO CÁC NHÀ BANK VN mà sẻ chuyển sanh HCBC hoặc ANZ ,hay citibank . tệ hơn nửa là người dân sẻ gom vàng gom dollar cất giử trong nhà hậu quả sẻ rất khó lường ,tiền sẻ không còn lưu thông trong quốc kế dân sinh

  2. Thế là hết, một tiền lệ đã hình thành, kể từ nay với người gửi tiền trên toàn quốc ở bất kỳ một ngân hàng nào, bất kỳ lúc nào cũng có thể nhận được tin xấu. Toàn bộ chứng từ gửi tiền mình đang giữ là chứng từ giả, ngân hàng không chịu trách nhiệm. Biết đem tiền đi đâu bây giờ có lẽ phải nhập quốc tịch nước khác mất thôi.

    4000 tỷ đồng chắc phải nhổ răng Quỳnh như ra đấu giá, may ra có thằng điên nào nó mua thì mới có tiền mà bồi thường.

    Thế kỷ 21 rồi mà vẫn còn kiểu kết án cái tay đánh người cái tay chịu, cái chân đá người cái chân phải chịu. phần còn lại của cơ thể là vô can. Nói thật nếu vụ án này không được xử lại, Vietin bank không chịu trách nhiệm thì sẽ là dấu chấm hết cho niềm tin vào toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s