Phiên tòa xử Đoàn Văn Vươn sẽ đi vào lịch sử, hãy ghi nhớ điều ấy!

DOAN VAN VUON 2013

Phiên tòa xử Đoàn Văn Vươn sắp tới, sẽ đi vào lịch sử. Người ta có thể quên những phiên tòa khác, những sự kiện khác nhưng sẽ không bao giờ quên phiên tòa này. Nếu nó có công lý nó sẽ được ca ngợi đời đời. Nếu nó man rợ và đê hèn thì nó sẽ bị nguyền rủa và khinh bỉ trong nhiều thế hệ con cháu chúng ta từ hôm nay cho đến ngàn năm sau.

Những người đang nắm trong tay quyền quyết định phiên tòa này hãy nhớ lấy điều đó.

LỀ TRÁI

Khánh Ly: tiếng hát cho quê hương

KHANH LYTrong một lần về Việt Nam cách đây 13 năm, Khánh Ly có bước lên sân khấu ở một phòng trà tại Sài Gòn hát vài ca khúc quen thuộc của Trịnh Công Sơn, theo lời yêu cầu của khách có mặt hôm đó.

Không qua mắt được công an nên chị đã được mời lên làm việc, hỏi chuyện có được giấy phép chưa mà hát.
Tháng Chín năm ngoái, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin Khánh Ly đã có giấy phép để chính thức về Việt Nam biểu diễn. Nhưng chị không về.
Chuyện Khánh Ly có về nước hát hay không lại không thuần túy mang tính văn nghệ như với nhiều ca sĩ khác.

Hát cho quê hương
Khánh Ly về không phải là để được hát trên quê hương mà để “hát cho quê hương” đúng với tiếng hát đã gắn liền với nhạc Trịnh, không bằng tình ca, mà qua những “Ca khúc Da vàng” trong các băng nhạc “Hát cho quê hương Việt Nam” đã từng làm rung động lòng người và được thế giới biết đến.
Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở thành đôi nghệ sĩ không thể tách rời nhau từ khi hai người bước vào sân cỏ quán Văn, tụ điểm của sinh hoạt văn nghệ sinh viên vào cuối thập niên 1960.
Ở đó những ca khúc da vàng về thân phận quê hương, nỗi đau chiến tranh và mong ước hòa bình được cất tiếng hát lên lần đầu.
Neil L. Jamieson trong tác phẩm “Understanding Vietnam” khi nhắc đến nhạc Trịnh đã trích dẫn ba bài hát: “Ta phải thấy mặt trời”, “Chính chúng ta phải nói” và “Những ai còn là Việt Nam” với ca từ phản ánh cuộc nội chiến giữa hai miền:

Hãy mở mắt ra nhìn quanh đây
Những ai còn là Việt Nam triệu người đã chết
Hãy mở mắt ra lật xác quân thù
Nhiều bài hát của Trịnh Công Sơn vẫn bị cấm ở Việt Nam
Mặt người Việt Nam trên đó
Đi trên những xác người
Bao năm thắng những ai…

“Đất khổ” là một phim của đạo diễn Hà Thúc Cần, thực hiện trong những năm đầu thập niên 1970 và không được phép phổ biến tại miền Nam thời bấy giờ.
Tác phẩm điện ảnh này phản ánh con người Trịnh Công Sơn, vì nhạc sĩ đóng vai chính trong bối cảnh của gia đình, trên quê hương chiến tranh và với người thân mang những lý tưởng khác nhau.
Lồng trong phim cũng là những ca khúc da vàng.
“Em đi trong chiều” mang hình ảnh buồn của một thiếu nữ nhận tin chồng chết ngoài chiến trường:

Em đi qua cầu có gió bay theo
Thổi bùng khăn tang trắng giữa khung chiều
Em đi qua cầu có lá xôn xao
Một giòng sông sâu chở hồn thương đau.

Giữa cảnh tang tóc, đổ nát do chiến tranh kéo dài, qua phim này nhạc Trịnh đã như một lời nói thay cho thế hệ với những ước mơ hoà bình của “Tôi sẽ đi thăm” do chính nhạc sĩ hát hay những mong ước của tuổi trẻ trong việc xây dựng quê hương thể hiện qua ca từ “Dựng lại người dựng lại nhà”:

Ta cùng lên đường đi xây lại tình thương
Lòng mẹ ta xưa kia bao la như Thái Bình Dương
Những đứa con lạc dòng mừng hôm nay xóa hết căm hờn
Mượn phù sa đắp trên điêu tàn lòng nhân ái lên nụ hồng.

Hai miền cùng cấm
Năm 2002, đài truyền hình PBS ở Mỹ chiếu bộ phim “Vietnam Passage” với cuộc sống của sáu người Việt sau khi chiến tranh chấm dứt vào tháng 4-1975, trong đó có Trịnh.
Người dẫn chương trình, phóng viên David Lamb của báo Los Angeles Times, kể lại chuyện nhạc Trịnh bị cả hai miền Nam, Bắc cấm; chuyện sau năm 1975 nhạc sĩ phải đi nông trường lao động.
Trong phim, Trịnh Công Sơn xuất hiện bên cạnh Hồng Nhung với bài hát “Huyền thoại Mẹ” và khi đó nhạc sĩ chỉ còn viết những ca khúc ca ngợi tình yêu.
Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn đã là đề tài nghiên cứu ở Nhật, Pháp, Hoa Kỳ.
Giáo sư John C. Schafer của California State University, Humboldt trong tác phẩm “Trịnh Công Sơn Bob Dylan như trăng và nguyệt?” (Cao Thị Như Quỳnh dịch, Nxb Trẻ 2012) đã soi rọi và đối chiếu quan niệm phản chiến giữa hai nhạc sĩ sống cùng thời đại, bị ảnh hưởng bởi cùng một cuộc chiến.
Tác giả phân tích ca từ trong “Ngày dài trên quê hương”, “Huế Sài Gòn Hà Nội”, “Một buổi sáng mùa xuân”, “Dựng lại người dựng lại nhà”, “Gia tài của Mẹ”.
Khi nhắc đến ca khúc da vàng của Trịnh thì không thể tách rời Khánh Ly vì tiếng hát của chị đã chuyên chở những nỗi đau và ước mơ đến với người nghe.
Vì thế, Khánh Ly về Việt Nam mà chị không thể hát những lời ca đã một thời gắn liền chị với Trịnh Công Sơn, với thân phận quê hương, thì đó không còn là Khánh Ly của Việt Nam đã được người Việt và thế giới biết đến.
Nhạc Trịnh có hai bản đồng ca một thời vang vang khắp miền Nam, từ sân trường đại học, quán cà phê cho đến thôn làng xa xôi.
Ngày chiến tranh chấm dứt, Trịnh Công Sơn để lại dấu ấn qua ca khúc “Nối vòng tay lớn” trên đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975 bằng chính giọng hát của mình:

Rừng núi giang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát
Quay cuồng trời rộng
Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.

Ca từ đó nay vẫn vang vang trong lòng người Việt. Nhưng nhiều ca khúc da vàng khác nay vẫn còn bị cấm, trong đó có “Gia tài của Mẹ”. Đây cũng là bài đồng dao đã được rất nhiều người miền Nam biết đến.

Một ngàn năm nô lệ giặc tàu
Một trăm năm đô hộ giặc tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn
Dạy cho con tiếng nói thật thà
Mẹ mong con chớ quên mầu da
Con chớ quên mầu da nước Việt xưa
Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Ôi lũ con cùng cha quên hận thù.

Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh trong lúc chuẩn bị cho đêm nhạc năm thứ 12 ngày mất Trịnh Công Sơn, dự kiến sẽ diễn ra chiều 31/3 tại Hồ Bán nguyệt trong khu Phú Mỹ Hưng, đã chia sẻ thông tin cho bạn bè về một số ca khúc da vàng mới được nhà nước cho phép phổ biến cùng với cảm nhận riêng của chị về dòng nhạc của anh mình:
“Bây giờ ở Việt Nam, nhiều người nhìn lại những ‘Ca khúc Da vàng’ và đặt trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông cùng những việc khác… Nhiều người nghĩ anh Sơn là ‘một nhà tiên tri’ hoặc nói theo Giáo sư Tương Lai đó là những ‘dự cảm thiên tài’.”
Sau bao năm mơ ước, đất nước đã hoà bình. Nhưng tại sao nhà nước nay vẫn cấm nhiều bài trong số khoảng 100 ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn?
Giáo sư Cao Huy Thuần trong đêm nhạc tưởng nhớ 10 năm Trịnh Công Sơn ở Paris có nhận xét:
“Hòa bình là tình trạng ai ai cũng có thể nói lên được điều mình mơ ước… Ấy vậy mà hát Trịnh Công Sơn chỗ này chống, chỗ kia đối, chỗ nọ xì xào, da vàng da đỏ. Hòa bình chỗ nào?
Chiến tranh chấm dứt rồi. Điều đó không có nghĩa rằng hòa bình không còn là giấc mơ.”
Trong hiện tình quê nhà, Khánh Ly trở về mà không hát ca khúc da vàng, không cất tiếng với “Gia tài của mẹ” thì đó không phải là Khánh Ly được người Việt và thế giới biết đến.
Vì chị đã là tiếng hát tâm thức của Việt Nam.
Khi đó nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở cõi vô thường không biết có mỉm cười được không?

Nhà báo tự do BÙI VĂN PHÚ gửi cho BBC từ California
Cập nhật: 12:28 GMT – thứ sáu, 29 tháng 3, 2013
Tác giả dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, Hoa Kỳ.

Nguồn BBC

Nhật Ký Dân Đen 03 – Không có trò nào hay hơn để diễn nữa sao?

NHAT KY DAN DEN 03

Khi Điều Cày bị kết án 12 năm tù. Khi Cù Huy Hà Vũ, Lê Thị Công Nhân bị ngồi nhà đá. Bộ ngoại giao các nước tư bản liền ra thông báo: “Chúng tôi quan ngại sâu sắc Việt Nam vi phạm nhân quyền.”

Nhưng họ vừa “quan ngại” vừa ngoéo tay với nhà cầm quyền Việt Nam. Cùng bầy linh cẩu da vàng xé xác hàng tỷ đô la. Cùng bầy dã thú rút ruột các công trình. Cùng chia chác dầu mỏ, rừng, biển… mà tổ tiên chúng tôi để lại.

*

Huỳnh Ngọc Chênh được nhận danh hiệu Netizen. Tạ Phong Tần được vinh danh “Phụ Nữ Can Đảm Nhất Thế Giới”. Huỳnh Thục Vy được giải thưởng nhân quyền Hellman – Hammet. 

Nhưng các người vừa trao giải thưởng vừa cho vay nặng lãi. Không phải 10%, 12%, 50% mà là 1.000%. Các người chỉ bỏ ra 1 đồng để xây một cây cầu nhưng Việt Nam phải ký sổ nợ 1.000 đồng. Chỉ cần chữ ký của một thằng Việt gian cũng đủ biến các người thành ông chủ nợ khổng lồ. Và đưa thằng Việt gian ấy đứng vào hàng ngũ những người giàu nhất thế giới.

*

Chúng tôi, những bloggers. Đã vượt qua bức tường lửa mà các người dựng lên. Để nói sự thật. Chúng tôi đã cháy hết tóc, nám đen da. Chúng tôi đã tả tơi quần áo.

*

Để nói sự thật. Chúng tôi đã bị hỏi cung hàng ngàn lần. Bị nhốt sau song sắt. Vậy thì sá gì những lời đãi bôi trong những thông báo ngoại giao. Sá gì những “quan ngại sâu sắc”. Những lời rỗng tuếch và nhảm nhí.

Rốt cuộc người ở tù vẫn ở tù. Người bị giết vẫn bị giết. Người bị cướp đất vẫn bị cướp đất. Và kẻ “quan ngại sâu sắc” vẫn tiếp tục “quan ngại sâu sắc”.

*

Hởi những kẻ ngoại bang kia ơi!

Các người không có trò nào hay hơn để diễn nữa sao?

LỜI BÀN CỦA KIM THÁNH THÁN:

Bài hịch văn trên đây khiến ta thảng thốt, không tìm được lời để bàn.

Đào Hiếu biến thành “bố già” dân tộc Châu Mạ

"Bốn cha con người dân tộc Châu Mạ"

“Bốn cha con người dân tộc Châu Mạ”

by Dao Hieu (Notes) on Thursday, March 28, 2013 at 1:56am

Chiều ngày 14/3/2013 vừa rồi, lão Đào Hiếu có đến nhạc viện TP HCM xem và cổ vũ tinh thần cho một nhân vật nữ của mình dự thi “TIẾNG HÁT MÃI XANH 2013” và đã “bị” mấy anh phó nháy “chộp” một phát đưa lên mạng cùng với ba thí sinh người dân tộc Châu Mạ. Mời các bạn xem câu chú thích thú vị sau đây:

“Ba anh em K’ Brèn (Sinh năm 1972 – SBD: 707C), Ka Hèng (Sinh năm 1977 – SBD 706C), Ka Hội (Sinh năm 1977 – SBD 979C) được Ba đến cổ động tinh thần. Bốn cha con đã lặn lội từ Bảo Lộc (Lâm Đồng) đến TP.HCM để dự thi.”

 

Ka Hèng tại nhạc viện TPHCM

Ka Hèng tại nhạc viện TPHCM

OK, lão ta rất hãnh diện vì có 3 người con hát rất hay của núi rừng Bảo Lộc. Hai trong ba người này đã vượt qua hơn 2.500 thí sinh để  lọt vào vòng trong. Riêng Ka Hèng đã được vào bán kết (ĐH nghĩ cũng có thể sẽ vào chung kết vì lão từng nghe Ka Hèng hát trong nhiều năm). Trong cả hai lần biểu diễn, Ka Hèng đã làm cả thính phòng im phăng phắc bởi tính chuyên nghiệp và chất giọng độc đáo của mình.

ĐH

Nức lòng với 200 triệu đô cho mạng xã hội

200 TRIEU DOLLARS

Mỗi lần hay tin chánh phủ phóng tay chi tiền, tui lại thấy sướng rậm rật cái bầu… Lần này là sướng vì 200 triệu đô cho cái mạng xã hội của đoàn thanh niên CS mang tên Bác, nơi có con trai út thủ tướng là bí thư!

 Hổng biết cái mạng xã hội mặt mũi tầm vóc nó ra răng mà thủ tướng chi cho nó dữ rứa? 200 triệu đô, tức là hơn 4 ngàn tỉ tiền Việt. Số tiền này mà đem chia cho 1 triệu hộ nghèo thì mỗi hộ được hơn 4 triệu đồng. Nếu các đồng chí đứng ra chia tiền hưởng đi một nửa thì mỗi hộ cũng còn được 2 triệu.

 Tui nghe nói ở Mỹ có cái thằng thanh niên chi đó, tên là Xấc Cơ Bơ hay là Xúc Ke Be chi đó, nó lập ra cái mạng xã hội Phết Búc, hổng biết to chừng mô mà mới có vài niên đã đem lại cho nó hàng chục tỉ đô, bằng cả nước ta làm hàng tháng! Nghe mà thấy tức. Cái thằng ranh tư bản ngu dốt mà cũng ra vẻ ta đây! Cứ đợi đấy, thủ tướng ta mà để ý đến thì…

Và đúng là thủ tướng ta đã để ý đến thiệt. Thủ tướng quyết chi 200 triệu đô! Quyết cái vèo! Đúng là thủ tướng ta! Bây giờ thì cứ ngồi đợi, khoảng 5 năm sau dân ta chắc giàu nhất nhì thế giới!

Căn cứ vào mô mà tui nói rứa? Này nhớ: cái thằng thanh niên Mẽo đó, lúc nó khởi sự mần cái mạng xã hội của nó, nó có mấy đồng? May lắm là xin cha mẹ được vài ngàn đô, lấy chó đâu mà làm cái mạng lớn? Rứa mà trong có mấy năm, tài sản của nó đã như rứa, tăng gấp hàng chục, hàng trăm ngàn lần! Tui cứ cho là sau một kế hoạch 5 năm, với tài lãnh đạo của các anh bí thư trung ương đoàn, mà hạt nhân là anh Triết con trai thủ tướng, với sự chỉ đạo từ xa của chính thủ tướng nữa, doanh số do cái mạng xã hội của đoàn thanh niên ta tăng lên 10 ngàn lần thôi, thì dân VN ta cũng đã có (từ riêng cái mạng đó thôi đấy nhớ!) 200 triệu đô nhân 10 ngàn lần bằng 2 ngàn tỉ đô! Bằng tổng thu nhập mười mấy năm của cả nước hiện nay! Đem chia ra cho 80 triệu người (trừ 7 triệu thằng là tay sai các thế lực thù địch), mỗi người được 25 ngàn đô, tức là hơn nửa tỉ đồng tiền Việt! Như nhà tui 6 người thì được đến 3 tỉ. Nhưng đó mới là riêng cái thu nhập từ trò chơi mạng xã hội thôi nhớ!

 Nghĩ đến đây tui thấy sướng run hết cả người… Rứa mà cái bọn xấu cứ lấy mấy cái Vi Na Xịn, Vi Na Lai ra để bảo thủ tướng ta phá nát nền kinh tế. Tui bảo đảm trên hành tinh này không có anh nguyên thủ quốc gia nào dám chi đến 1 phần 10 số tiền đó để làm một mạng xã hội. Thậm chí không có anh nào dám nghĩ đến chi tiền nhà nước vô những việc như rứa. (Toàn bọn ngu mà!)

 Hay rứa mà ta không mần từ trước. Nhưng thôi, chừ mần cũng được.

 Viva thủ tướng! Thủ tướng oan xuẩy, oan xuẩy, oan oan xuẩy!

 MICHAEL LANG 

Đoàn Văn Vươn: Từ công lý đến bạo lực

nhà báo Hồng Ngọc

nhà báo Hồng Ngọc

Ở nơi mà công lý không được thiết lập thì bạo lực tất yếu nảy sinh, như là bản năng sinh tồn của con người được kéo dài từ thời động vật hoang dã.

Thế giới hoang dã được thiết lập trật tự dựa trên sức mạnh của bạo lực, một phần của cuộc cạnh tranh sinh tồn.

Trong cùng một loài, do đặc điểm tương tự nhau về nhu cầu thức ăn, nơi cư trú, và bạn tình khiến chúng phải cạnh tranh nhau, vì nguồn lực là hữu hạn.

Không có trọng tài phân xử, không có nguyên tắc cho cuộc chơi, chúng chỉ có thể tự phân xử bằng trận chiến, mà kẻ chiến thắng sẽ có được điều mình muốn, và kẻ thất bại chấp nhận những quyền lợi thấp hơn. Nhưng không có sự tiêu diệt giữa đồng loại.

Loài người tiến hóa hơn tất cả các sinh vật khác trên trái đất về nhu cầu và trí tuệ. Trận chiến giữa con người với nhau có thêm vũ khí, có tính tổ chức, thậm chí cả danh nghĩa cho cuộc chiến. Vì thế nó tàn khốc hơn tất cả mọi cuộc chiến của các sinh vật khác.

Nhu cầu của các sinh vật khác là hữu hạn. Nó chỉ cần ăn no đủ, có một chỗ trú thích hợp, và có đủ bạn tình để đáp ứng nhu cầu giao phối – truyền giống hữu hạn.

Nhu cầu của con người thì vô hạn, không chỉ ăn no mà còn muốn ăn của ngon vật lạ. Không chỉ có chỗ ở, mà còn muốn biệt thự, lâu đài ở khắp nơi. Không chỉ đủ bạn tình để giao phối mà còn để chiếm hữu, thậm chí là hàng ngàn cung tần mỹ nữ!

Nhu cầu vô hạn thì bạo lực cũng vô hạn. Không chỉ dừng lại ở phân xử thắng thua để giải quyết nhu cầu trước mắt, cuộc chiến bạo lực của con người bị đẩy đến mức tiêu diệt lẫn nhau.

Đoàn Văn Vươn

Đoàn Văn Vươn

‘Hậu quả thiếu công lý’

“Dù ai cũng biết gia đình ông Vươn phạm pháp trong cuộc đáp trả ấy, thì phản kháng tuyệt vọng ấy cần phải được nhìn nhận theo hướng gia đình ông Vươn là nạn nhân, trước khi bị nhìn nhận như thủ phạm”

Mới đây thôi, thế kỷ 20 đã chứng kiến vô vàn cuộc chiến tranh. Chỉ hai cuộc Thế chiến, và hai cuộc “cách mạng” của hai nước lớn mà bản chất là thanh trừng kiểu tiêu diệt nhau đã khiến hàng trăm triệu người chết.

Thế chiến I là nguyên nhân của Thế chiến II chỉ sau hai thập kỷ, bởi đòi hỏi bồi thường chiến tranh của bên thắng cuộc đã làm kiệt quệ bên thua cuộc, khơi dậy chủ nghĩa sô vanh và khát vọng trả thù của bên thua cuộc.

Kết thúc Thế chiến II, nước Mỹ – buộc phải tham chiến vì bị tấn công – là một đại biểu của bên chiến thắng đã không đòi bồi thường chiến tranh từ những kẻ thất bại, thậm chí còn rót tiền vào công cuộc Tái thiết châu Âu và Nhật Bản. Hận thù giữa họ chấm dứt, và hòa bình giữa họ sau gần 7 thập kỷ vẫn được duy trì một cách chắc chắn.

Sự khác biệt về hậu quả giữa hai cuộc Thế chiến cho thấy rằng, sử dụng bạo lực để chà đạp và cưỡng đoạt thì sẽ bị đáp trả bởi bạo lực, và vòng xoáy ấy không bao giờ chấm dứt. Nhưng sử dụng bạo lực để vãn hồi trật tự, vì tự do, hòa bình và thịnh vượng chung thì bạo lực thậm chí được ca ngợi, vì đó chính là bảo vệ công lý.

Công lý chính là thứ khiến con người vượt lên trên động vật, nó giúp con người giải quyết tranh chấp mà không cần dùng đến bạo lực như động vật.

Công lý là giá trị chung cho hòa bình và thịnh vượng trong lòng các dân tộc văn minh. Và nó đang trên đường trở thành giá trị chung giữa các dân tộc, để con người thoát khỏi việc tự hủy diệt mang tính loài.

Thiếu công lý thì hòa bình chỉ là tạm thời, và thịnh vượng chung chỉ là giấc mơ.

Mọi nhà nước thế tục đều tuyên bố rằng mình nắm quyền là vì công lý, vì lợi ích của nhân dân. Nhưng thực tế không đơn giản như thế.

Nhà nước trong hình thức tổ chức của nó là hệ thống các thể chế: quốc hội xây dựng luật và duyệt định hướng chính sách; chính quyền là cơ quan công quyền thực thi chính sách; tòa án được ủy quyền để bảo vệ luật pháp và công lý. Mối quan hệ giữa chúng với nhau được định hình trong hiến pháp.

Nhưng trong trong tính hiện thực của nó, nhà nước nằm trong tay các cá nhân đang nắm quyền: tổng thống Mỹ lúc này là Obama, vị Chánh án Tòa án tối cao Mỹ đương nhiệm là John Roberts…

Khi các thể chế đủ mạnh và đối trọng, kiểm soát lẫn nhau, vai trò của cá nhân là thứ yếu, và nhà nước cai trị bằng luật pháp. Luật pháp chính là hiện thân của công lý ở thời điểm đó. Nếu có điều nào đó bị coi là bất công, sẽ có quy trình cho việc sửa chữa để luật pháp đến gần hơn với công lý.

Khi các thể chế yếu hoặc được đặt sai lệch, như cơ quan công lý đặt dưới cơ quan công quyền, và cơ quan công quyền lại bị dẫn dắt bởi cá nhân lãnh đạo, đó là lúc luật pháp chỉ để trang trí. Vì cơ quan công lý không còn bảo vệ công lý nữa, mà phải bảo vệ cơ quan công quyền, và cơ quan công quyền thì phải bảo vệ cá nhân nắm quyền. Công lý bị đánh mất, còn cá nhân lãnh đạo thì tha hồ trục lợi.

Vì nhu cầu của con người là vô hạn, nên sự trục lợi cũng vô hạn. Mà đã vượt qua giới hạn thông thường thì không tránh khỏi việc sử dụng bạo lực, nhân danh quyền lực nhà nước. Và hệ quả là sự phản kháng bằng bạo lực cũng khó tránh khỏi của kẻ bị tước đoạt một cách bất công.

‘Nạn nhân hay tội phạm?’

“Nếu phiên tòa xử gia đình ông Vươn tới đây được sử dụng như là cách thức để chính quyền trả thù những kẻ phản kháng, niềm tin ít ỏi còn lại vào công lý ở VN sẽ bị chà đạp, và bạo lực ở nơi này hay nơi khác sẽ lại tiếp diễn, nghiêm trọng hơn”

Vụ Tiên Lãng là một ví dụ, khi chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã không hành xử vì công lý trong vụ cưỡng chế đất với gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Gác lại việc chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam đã gần với công lý hay chưa, thì việc thu hồi đất đã là trái với công lý.

Nó không chỉ trái với luật pháp hiện hành – như kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – mà còn tước đoạt niềm tin của dân chúng với nhà nước khi chính quyền Tiên Lãng lật lọng với lời hứa – đã được ghi vào biên bản hòa giải của Tòa án nhân dân Hải Phòng – về việc cho gia đình ông Vươn tiếp tục thuê đất nếu rút đơn, để rồi tổ chức cưỡng chế đất, thậm chí phá hoại tài sản công dân bằng bạo lực sau khi ông Vươn rút đơn.

Khi tổ chức đại diện cho công lý chà đạp lên công lý là lúc con người ta quay về với ứng xử bản năng của loài vật: dùng bạo lực đáp trả bạo lực. Dù ai cũng biết gia đình ông Vươn phạm pháp trong cuộc đáp trả ấy, thì phản kháng tuyệt vọng ấy cần phải được nhìn nhận theo hướng gia đình ông Vươn là nạn nhân, trước khi bị nhìn nhận như thủ phạm. Trong ngôn ngữ pháp lý, tình huống của gia đình ông Vươn được gọi là “phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, khi bị đối xử một cách bất công có hệ thống và không lối thoát.

Tìm cách sửa chữa những bất công, với việc xét xử gia đình ông Vươn một cách công bằng, và sửa chữa những khiếm khuyết về thể chế đã dẫn đường cho sai phạm của chính quyền huyện Tiên Lãng là cách để nhà nước giành lại niềm tin từ dân chúng rằng mình bảo vệ công lý và sẽ theo đuổi công lý. Vì chỉ có công lý mới chấm dứt được vòng xoáy của bạo lực.

Trái lại, nếu phiên tòa xử gia đình ông Vươn tới đây được sử dụng như là cách thức để chính quyền trả thù những kẻ phản kháng, niềm tin ít ỏi còn lại vào công lý ở Việt Nam sẽ bị chà đạp, và bạo lực ở nơi này hay nơi khác sẽ lại tiếp diễn, nghiêm trọng hơn.

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, hiện là nhà báo tự do, sinh sống ở Sài Gòn, từng làm việc tại báo Thể thao & Văn hóa và Báo điện tử Vietnamnet.

HỒNG NGỌC

Gửi cho BBC Việt ngữ từ Sài Gòn. Cập nhật: 12:21 GMT – thứ bảy, 23 tháng 3, 2013

Nhật Ký Dân Đen 02

KHONG CAN VA CHI CAN”Không cần” và “Chỉ cần”

Không cần bản hiến pháp
Để trích dẫn về nhân quyền
Tôi, người dân đen
Cũng có thể nói về nạn cướp đất, cướp rừng, cướp biển.
Không cần nhà báo Hoàng Khương
Chỉ cần một người chạy xe ôm
Cũng có thể kể về mãi lộ
Không cần nhà văn chuyên nghiệp
Để dạy người khác phải viết lách theo kiểu “hàn lâm”
Để chê người kia viết sai chính tả
Chỉ cần biết đọc biết viết
Thậm chí chỉ cần biết một chữ i chữ tờ
Thậm chí dốt đặc cán mai một chữ bẻ đôi cũng không biết
Miễn là biết liêm sỉ
Miễn là biết xót cho đồng bào mình bị đánh chết
Miễn là biết xót đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân
Bị đem ra xài phí vô độ
Bị đem ra chia chác hàng ngày
*
Có dốt đặc cán mai cũng không sao
Miễn còn được cái miệng để hô to:
Đả đảo tham nhũng!
Đả đảo Trung Quốc xâm lược!
*
Không cần ly cà phê “cứt chồn”
Không cần ngồi ở HighLand hay Terrace
Để xem biểu tình
Và chê họ làm chuyện ruồi bu, vô bổ
Chỉ cần ly cà phê bắp rang và cơm cháy
Chỉ cần ngồi vỉa hè
Để đứng dậy khi cần nhập cuộc
Dù kẻ ác có súng và rất hung bạo
Dù kẻ ác có thể đá văng ly cà phê
Dù kẻ ác có thể vật ta xuống
Dù kẻ ác có thể đạp vào mặt ta
Ta vẫn là người Việt Nam
Không bao giờ là chó săn
Dẫu ta chỉ đủ tiền uống một ly cà phê cơm cháy.

LỜI BÀN CỦA KIM THÁNH THÁN:
Từ xa xưa, tâm lý quần chúng Việt Nam thường trông chờ vào kẻ sĩ để gánh vác chuyện xã hội, chuyện “quốc gia đại sự”. Ngày nay “sĩ khí rụt rè gà phải cáo” nếu như Dân Đen có trông chờ vào trí thức thì anh ta cũng chỉ “ngậm miệng ăn tiền”. Có người còn làm ra vẻ khệnh khạng nói năng cao ngạo, viết lách “sang trọng” dân đen đọc không hiểu.
Bù lại, vì cái ác lộng hành quá, tràn lan khắp nơi nên ngay cả anh nông dân, chị bán hàng rong, bác phu xích lô đạp cũng đều thấy rõ tim đen của cái xã hội này. Trước đây người ta “làm cách mạng” bằng máu của dân đen. Vậy mà khi “thắng cuộc” rồi, họ lại cũng dùng chính máu ấy để làm giàu.
Trí thức dấn thân là lực lượng đáng quý. Nhưng Dân Đen là thành phần nòng cốt, không thể xem thường.

ĐÀO HIẾU

Nhật Ký Dân Đen 01

VOLTAIRE FBVoltaire đòi chết

Nhiều người rất thích thú với câu nói nổi tiếng của Voltaire: “Tôi có thể không đồng ý những điều anh nói nhưng tôi sẵn sàng chết để bảo vệ quyền anh được nói những điều đó” (Je désapprouve ce que vous dites, mais je me battrai jusqu’à la mort pour que vous ayez le droit de le dire).

Dân Đen có lẽ là người thích thú nhất. Hắn bèn dẫn một con sói đến trước mặt Voltaire và nói: “Thưa ông đây là một con cừu.” Voltaire lắc đầu nói: “Đó không phài là con cừu. Đó là con sói. Nhưng tôi sẽ chết để bảo vệ quyền anh được nói rằng đó là một con cừu”.

Nghe vậy Dân Đen liền dắt chiếc xích lô đạp đến mời bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lên xe, đạp thẳng tới chỗ Voltaire.

Bà Doan nói: “Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”  

Voltaire lại lắc đầu và nói: ”Tôi không đồng ý, nhưng tôi sẽ chết để bảo vệ quyền bà chị được nói rằng nền dân chủ ở Việt Nam cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”.

Lần này Dân Đen vừa bỏ đi vừa càm ràm: ”Còn tôi, tôi không việc gì phải chết vì những lời nói ấy. Tôi sẽ cho mấy cây chổi chà!”

LỜI BÀN CỦA KIM THÁNH THÁN

Tất nhiên Voltaire không đến nỗi ngu mà chết một cách lãng nhách như vậy đâu. Ông chỉ muốn nhấn mạnh rằng: vai trò tự do ngôn luận của quần chúng quan trọng đến nỗi nếu cần chúng ta phải đổ máu để giành lấy. Nhưng câu nói của ông sẽ khiến nhiều người suy diễn sai lạc rằng ai muốn nói kiểu gì thì nói, chúng ta đều phải tôn trọng tuốt luốt hết (kể cả những lời xằng bậy, ác độc nhất). Câu nói của Voltaire còn tạo ra một căn bệnh tâm lý rất tai hại, đó là: tỏ ra mình là người có văn hóa, người biết tôn trọng kẻ khác, người cao thượng.

Cái thứ tâm lý ấy sẽ dung dưỡng cho kẻ ác khuynh đảo dư luận, lừa bịp quần chúng và làm cho những người thiếu khả năng suy luận dễ bị rối mù, không thể phân biệt phải trái, dẫn tới thái độ dửng dưng, đứng ngoài cuộc.

(còn tiếp)

ĐÀO HIẾU

Bài phát biểu của Netizen Huỳnh Ngọc Chênh trong buổi trao giải Công Dân Mạng 2013 tại Paris

Netizen Huỳnh Ngọc Chênh trong buổi trao giải của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) kết hợp với Google. Ảnh: Seven Lives

Thưa toàn thể quý vị.

Tôi thật sự bất ngờ khi có mặt tại buổi lễ hết sức trân trọng nầy. Vì ở đất nước tôi nhiều quyền tự do được Hiến Pháp công nhận nhưng vẫn bị nhà cầm quyền tìm cách nầy cách khác hạn chế. Trong vòng 2 năm trở lại đây có khá nhiều blogger không được phép đi ra nước ngoài để du lịch, để chữa bệnh, để dự hội thảo, hoặc để nhận các giải thưởng quốc tế như tôi mà không có lý do. Đó là các blogger Đào Hiếu, Người Buôn Gió, Nguyễn Hoàng Vi, J.B Nguyễn Hữu Vinh, Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu, Uyên Vũ, Lê Quốc Quân…

Do vậy sự có mặt của tôi ở đây là một bất ngờ. Có thể là do uy tín của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới RSF cũng như của tập đoàn Google, là hai tổ chức đã sáng lập và bảo trợ cho giải thưởng cao quý nầy. Và cũng có thể là do những cuộc vận động đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ ở nước tôi đang diễn ra khá sôi động thông qua việc góp ý sửa đổi Hiến Pháp đã có những tác dụng nhất định lên giới cầm quyền.

Xin nói thêm về cuộc vận động đấu tranh cho Nhân Quyền và Dân Chủ đang diễn ra khá mạnh mẽ ở đất nước tôi. Cách đây ba năm, khi blogger, luật sư Cù Huy Hà Vũ qua các bài viết đề nghị đa đảng để dân chủ hóa liền bị kết án trên 10 năm tù, thì nay, khi tôi có mặt ở đây, bên nước tôi đã có nhiều tổ chức với tổng số gần 20 ngàn người ký tên vào các bản kiến nghị yêu cầu xóa bỏ điều bốn trong Hiến Pháp và yêu cầu đa đảng mà không phải e dè sợ hãi.

Điều gì đã làm nên sự kỳ diệu nầy. Ấy là mạng internet. Mạng internet đã giúp người dân chúng tôi nói lên tiếng nói và nguyện vọng đích thực của họ trong hoàn cảnh tự do ngôn luận bị bóp nghẹt.

Như quý vị đã biết ở đất nước tôi không hề có báo tư nhân, chỉ có cơ quan của nhà nước hoặc của đảng cầm quyền mới được ra báo và lập đài phát thanh – truyền hình. Do vậy 700 cơ quan báo đài đều nằm dưới quyền kiểm soát của những đảng viên CS tin cậy. Thông tin đăng tải trên các cơ quan báo đài ấy đi theo định hướng của đảng cầm quyền. Tiếng nói và nguyện vọng của nhiều người dân vì thế mà không có nơi để xuất hiện.

May thay mạng internet xuất hiện và các blogger ra đời. Ban đầu các blogger tiên phong tuy còn rất ít ỏi nhưng họ là những mũi kim nhọn đâm những lỗ thủng đầu tiên vào bức màng bưng bít thông tin ở đất nước tôi. Và nhiều người trong số họ phải trả giá cho sự dũng cảm ấy, họ đã và đang bị ngồi trong nhà tù, trong trại cải tạo, bị quản thúc và thậm chí bị cưỡng bức vào nhà thương điên nữa. Đó là các blogger và các nhà đấu tranh dân chủ ôn hòa: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Đan Quế, Phạm Bá Hải, Nguyễn Văn Đài, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Cù Huy Hà Vũ, Đỗ Thị Minh Hạnh, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải, Phạm Minh Hoàng, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, Nhạc sỹ Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Lê Anh Hùng,… Và lớp trẻ sau nầy như Nguyễn Phương Uyên, Paul Lê Sơn và nhóm thanh niên công giáo ở Vinh….

Những hy sinh ấy đã không uổng công. Ngày nay những blogger và những người đấu tranh cho dân chủ đã phát triển lên thành một lực lượng lớn mạnh và rộng khắp mà nhà cầm quyền không thể nào ngăn cản nổi. 2 vạn chữ ký và sẽ còn nhiều hơn nữa đòi xóa bỏ điều bốn đã nói lên điều đó. Hàng trăm trang blog cổ xúy cho đổi mới, cổ súy tự do ngôn luận, cổ súy dân chủ thu hút lượng người đọc khổng lồ và kết nối với nhau thành một hệ thống báo chí mà chúng tôi gọi là báo lề dân, tồn tại lớn mạnh song song bên cạnh hệ thống báo chí do nhà nước kiểm soát được gọi là báo lề đảng.

Trong cái nền vững vàng ấy tôi được phát triển lên. Những lá phiếu từ khắp nơi trên thế giới bầu cho tôi để tôi trở thành công dân mạng chính là những lá phiếu dành cho phong trào đấu tranh cho quyền công dân trong đó có quyền tự do ngôn luận đang lớn mạnh lên hàng ngày trên đất nước chúng tôi.

Xin dành vinh quang nầy cho những người đi tiên phong đã và đang bị trả giá trong nhà tù và cho tất cả những người bạn đồng hành của tôi đã giúp đỡ và tạo đà cho tôi.

– Để nhận được giải thưởng cao quý nầy, tôi đã nhận được sự ủng hộ của các blogger, các bạn trẻ yêu nước tại Việt Nam cũng như các bạn khác tại hải ngoại. Những lá phiếu các bạn dành cho tôi chính là những lá phiếu góp phần động viên một phong trào đang vươn lên lớn mạnh ở Việt Nam, phong trào của những người viết báo tự do, những người sẵn sàng đối đầu với những khó khăn để đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận chính đáng. Cám ơn các cơ quan truyền thông như VOA, BBC, RFI, RFA, SBTN… đã tích cực đưa tin và viết bài về tôi cũng như về sự kiện bầu chọn công dân mạng, nhờ vậy mà giải thưởng lần nầy đã gây ra tiếng vang rộng lớn tạo ra nguồn động viên to lớn cho phong trào đấu tranh cho sự tiến bộ ở trong nước tôi.

– Riêng với cá nhân tôi, từ khi nhận được giải thưởng cao quý nầy tôi đã cảm nhận được sự tin yêu của bạn đọc khắp nơi dành cho blog Huỳnh Ngọc Chênh của tôi. Sau khi được tin tôi trúng giải thưởng Netizen, số lượt người vào đọc hàng ngày tăng từ 15 ngàn lên 20, có khi 25 ngàn lượt.

– Cám ơn tập đoàn Google, tập đoàn về mạng to lớn, phủ khắp toan cầu, là kho tri thức khổng lồ mà những người viết báo chúng tôi luôn cần đến. Thật xứng đáng khi Google đã kết hợp với RSF tổ chức ra giải thưởng cao quý nầy để hàng năm trao cho những người hoạt động vì sự tự do báo chí trên toàn cầu thông qua hệ thống mạng internet.

– Xin chân thành cám ơn tổ chức RSF, đã có mạng lưới rộng lớn trên toàn thế giới, là chỗ dựa quan trọng cho những người cầm bút tự do, nhất là những nhà báo trong những đất nước bị bóp nghẹt tự do ngôn luận. Giải RSF là nguồn động viên to lớn cho những blogger ấy.

– Cám ơn bà bộ trưởng truyền thông Pháp Fleur Pellerin người đại diện cho chính quyền Pháp có mặt tại buổi lễ nầy. Sự có mặt của bà là một vinh dự rất lớn cho buổi lễ. Chúc bà sức khỏe. Chúc nước Pháp mãi mãi là ngọn cờ đi đầu trong việc đấu tranh cho quyền của con người.

Paris, 12/3/2013

Huỳnh Ngọc Chênh (Defend the Defenders)

Tưởng nhớ Trần Phong Giao

TRAN PHONG GIAOCận ngày giỗ Trần Phong Giao, xin ghi đôi dòng tưởng niện người làm báo văn học giỏi nhất, có công thầm lặng quảng bá văn học miền Nam qua tạp chí VĂN nổi tiếng một thời.


“…Trên đường đến trường thời gian 77,78… mỗi sáng xuống dốc cầu Kiệu tôi đều thấy anh Trần Phong Giao lom khom bưng hủ tiếu cho khách, bà vợ tần tảo của anh kê mấy cái bàn nhựa trên vỉa hè bán quà sáng, anh thì lầm lỳ tự nhiên bưng tô rửa bát, có vẻ chu toàn bổn phận như lúc còn làm thư ký toà soạn báo Văn. Buổi chiều tôi ghé chơi thì thấy anh chăm chút ngồi lựa hột cỏ và cát sạn trong gạo, tập trung cao độ, kỹ càng như lúc chọn…thơ cho báo Văn. Có khi đó là trò giải trí thảm hại giết thì giờ cho một quãng đời thừa trống trải. Nhớ lại, một bữa anh chạy xe đạp vào xóm Cô Giang kiếm tôi, cho tôi xem qua cuốn thơ mỏng của Cao Tần in bên Mỹ. Anh bảo:
– Cậu đọc qua, thử đoán Cao Tần là ai.
Tôi đọc vài ba bài đầu, nói với anh:
– Lê Tất Điều phải không anh?
Anh nói trống không:
– Đoán khá lắm.
Tôi nói với anh kiểu hài hước làm người ta cười mà rưng rưng cảm động chẳng ai qua nổi Lê Tất Điều. Tôi kể với anh tôi đã khóc khi đọc chuyện ngắn “Anh Em” của Lê Tất Điều. Mai kia phải đem vào sách giáo khoa làm điển hình cho nghệ thuật tả tình huynh đệ cao đẹp lay động lòng người. Trần Phong Giao nhắc tới Đặng Tiến với lòng ưu ái, anh bảo Đặng Tiến phê bình thơ miền Bắc rằng mấy chục năm sa mạc thơ nên bị đám văn nghệ ngoài đó ghét dữ. Nếu anh còn sống đến nay thì biết Đặng Tiến dường như không quan niệm như vậy nữa. Anh nghĩ trúng ý tôi là văn xuôi Thanh Tâm Tuyền hay hơn thơ của ổng nhưng bảo “nó” làm biếng viết ghê lắm, thúc hối mãi mới có bài.
Một bữa tôi ghé anh chơi gặp nhà văn Võ Hồng vừa ở Nha Trang vào. Anh đọc cho chúng tôi nghe bài thơ ngạo đời rất thú vị của cụ Toan Ánh:
                                                    Trường Chay
                                           Ớt chẳng, gừng không, vị vẫn cay,
                                           Nhờ ơn trời đất được trường chay.
                                           Rau đay, rau muống quên thời thế,
                                           Khoai ngứa, khoai lang lấp tháng ngày.
                                           Quen thói dạ dày chê cá thịt,
                                           Đói lòng thân xác sợ mưa mây.
                                          Tòa sen đức Phật cười khen giỏi,
                                           Ngày trước tao tu cũng giống mày.
TAP CHI VANTrần Phong Giao lâm bệnh, mổ ở bệnh viện 115, tôi vào thăm anh, thấy anh gầy gò nằm thiêm thiếp trên nệm trắng, cô Phong Lan, con gái cưng của ông bà đang chăm sóc, nhìn tôi rưng rưng. Lúc anh về nhà, tôi ghé thăm, mang theo tờ tạp chí hải ngoại có bài ông Trần Thiện Đạo viết khen ngợi công lao anh, anh đọc hững hờ vẻ như không thiết gì chuyện đời nữa khiến tôi nhớ tới nhân vật ông bác của Võ Phiến trong một truyện ngắn, đọc rồi không quên. Tôi nói ông Thanh Tâm Tuyền gửi lời thăm anh trong thư vừa viết cho tôi, anh nói thế à lạnh nhạt. Chị Phong Giao nói:
– Chú Khiêm có công mang tới, ông đọc qua loa vậy? Anh chỉ cười cười không nói gì.
Ông bà dọn về quận 6 ở với cô Phong Lan, xa quá nên tôi ít ghé thăm. Chẳng mấy lâu sau, con trai anh, Phong Nhã, gọi phone báo tin anh mất. Tôi không ngạc nhiên vì biết bệnh anh nan y nhưng vẫn bất ngờ vì thấy anh có vẻ ổn nên tin ít ra cũng được vài năm. Tôi chạy qua quận 6 lúc chưa tẩm liệm, tôi xót lòng không cầm được nước mắt thấy một gương mặt đàn ông tóp teo lạ hoắt cùng một thân thể khô quắt cứng đơ, hoàn toàn không dấu tích gì của Trần Phong Giao ngày trước. Đời người đoạn kết ai cũng thảm thiết vậy sao?

NGUYỄN KHIÊM