Tại sao Phạm Duy “dinh tê” về Hà Nội?

Sau khi Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân bế mạc, mọi người ai nấy đã trở về những chiến khu của mình rồi thì “giây phút của sự thật” đã tới với tôi. Trong một buổi trưa có nắng vàng nhẩy múa trên lá cây, thả bước trên một con dốc nhỏ nằm trong khu rừng Yên Giã, anh Nguyễn Xuân Khoát bá vai tôi, hai người lặng lẽ đi… Một hồi lâu, anh Khoát nói, giọng nói thầm thì: 
— Đoàn thể cử tao nói cho mày biết. Là mày đã được kết nạp. Mày sẽ được cử đi Moscou. Mày sẽ được ông Cụ gắn cho một huân chương chiến sĩ. Nhưng có điều kiện. Mày phải bỏ cái tính “chơi” của mày đi. Mày phải khai tử bài hát Bên Cầu Biên Giới. Và nếu xuất ngoại thì Thái Hằng phải ở lại. Một mình mày đi thôi. Về suy nghĩ. Mấy hôm nữa, trả lời tao. 
Tôi bàng hoàng. Như bị anh bốc-xơ — cỡ võ sĩ Mỹ đen Tyson hiện nay chẳng hạn — vừa “ục” vào đầu mình một cú đấm. Anh Khoát lảo đảo đi về phía trước, lảo đảo là vì anh đi đôi giầy bốt to quá, nặng quá. Tôi cũng lảo đảo như người vừa bị “nốc ao”, quay về ngôi nhà nứa của mình, nằm chắp tay lên bụng, suy nghĩ… 
… Khi bước chân lên miền Việt Bắc này, tôi không bao giờ chờ đợi có được những thứ gọi là “đại ân huệ” như thế này cả. Nhất là những ân huệ có điều kiện. Cứ nghĩ rằng mình lên đây để làm việc như một thường dân yêu nước và được tự do sáng tác hay được tự do đi công tác, giống như khi mình còn ở Liên Khu IV. Chỉ cần mình có thêm hai, ba người bạn mới để mình yêu mến như đã yêu mến Nguyễn Sơn, Đặng Thái Mai, Nguyễn Đức Quỳnh… Chỉ cần có thế thôi. Ai ngờ bây giờ mình lại được đãi ngộ đến thế. Ai ngờ bây giờ mình lại được đẩy vào một guồng máy chặt chẽ để sống cuộc đời của một anh cán bộ chính trị gương mẫu. Trong khi bản tính mình là một con người rất phóng túng. Trong suốt đời tôi, kể từ khi còn bé cho tới nay, tôi sợ nhất là bị đẩy vào kỷ luật. Vào làm đảng viên của một cái Đảng mà kỷ luật chắc chắn phải là thứ kỷ luật sắt, cứ yên chí đi, chỉ cần sau “ba bẩy hai mươi mốt ngày” là tôi sẽ bị đá đít tống ra khỏi đảng liền. 
Hơn nữa, tôi ý thức hơn ai hết về giai cấp của mình. Nằm trong ngôi nhà nứa này, tôi tự nói thầm cho tôi nghe, bởi vì khi phải trả lời anh Khoát tôi sẽ không nói văn vẻ như thế này: 
— Anh Khoát ơi. Tôi là tiểu tư sản mà. Làm sao tôi có thể tiến thẳng “lên” giai cấp vô sản được? Dù tôi cũng xuất thân là một công nhân, đi khắp mọi nơi ở trong nước để làm các nghề lao động chân tay trước khi sống bằng nghề lao động trí óc (!). Nhưng anh ơi, đó là sau khi tôi đã bị ông anh bắt phải vào học nghề trong trường Kỹ Nghệ Thực Hành, rồi tôi bất mãn, phạm nhiều kỷ luật như đánh nhau, phá phách máy móc ở trường… cho nên tôi bị đuổi ra khỏi trường. Trong bản khai lý lịch cách đây không lâu, tôi đâu có khai tôi là công nhân? Tôi có thể là người có nhiều cảm tình với Cách Mạng nhưng không bao giờ tôi là người học thuộc lòng những bài học, những lý thuyết, những tôn chỉ của Cách mạng cả. Đã có lần tôi trả lời một thằng Cách Mạng nửa mùa, khi nó phê bình tôi là tôi là duy tâm, duy tiếc gì đó, nó nói như một con vẹt vậy. Tôi bèn chỉ tay vào mặt nó: ” Ê mày, nghe đây. Tao không phải là “duy tâm” và cũng chẳng bao giờ là “duy vật” cả. Tao là… “duy cẩn”, Phạm Duy Cẩn. Hiểu không? ” 
Tại Thanh Hoá, tôi đã có lần khó chịu vì bị phê bình là tiêu cực qua những bài mà tôi vẫn cho là theo đúng chủ trương hiện thực của chính quyền đề ra như Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây, Bà Mẹ Gio Linh. Nhưng khi tôi thấy — qua anh Khoát — Trung Ương bắt tôi phải khai tử bài Bên Cầu Biên Giới, tôi nổi giận chứ không chỉ khó chịu như trước nữa. Tôi thấy họ đặt vấn đề quá nặng. Một bài hát, theo tôi, nếu nó có may mắn được hát lên trong một thời kỳ nào đó thì đời của nó cũng chẳng khác chi một đời hoa, sớm nở tối tàn, có gì đâu mà quan trọng hoá đến độ phải treo cổ nó lên hả? Tôi thấy Cách Mạng bắt đầu lẩm cẩm khi kết án bài Vọng Cổ trong cái Đại Hội mà tôi vừa tham dự. Bây giờ lại tới chuyện lãnh đạo bắt tôi phải tự tay giết chết một bản nhạc tình tôi vẫn thường coi là tầm thường và còn vớ vẩn nữa là khác. Sự ngu đần trong việc quan trọng hoá một bản nhạc như thế này cũng vẫn còn thấy hiện ra mấy chục năm sau, khi ở Miền Nam có những người lên án bài thơ của một anh lính trong lực lượng Nhẩy Dù do tôi phổ nhạc — bài thơ nhan đề Trả Lời Một Câu Hỏi mà tôi đổi lại là Kỷ Vật Cho Em — cho rằng sự phổ biến của bài hát này đã làm cho quân nhân nản lòng, do đó miền Nam Quốc Gia thua miền Bắc Cộng Sản. Nói như vậy là chấp nhận rằng một bài hát có khả năng để đánh giặc giỏi hơn một đội quân có một triệu lính, với sự giúp đỡ của một nước Đồng Minh có bom nguyên tử à? 
Bây giờ tới việc thứ ba là bỏ Thái Hằng ở lại Việt Bắc để đi Moscou. Thái Hằng đã có mang được gần sáu tháng rồi. Đã có lần cả hai vợ chồng tôi đều bị sốt rét, cùng nằm rên khừ khừ trên cái giường nứa ở khu Yên Giã này. Nhưng cũng còn có người ốm này săn sóc cho người ốm kia. (Thái Hằng vừa nhắc lại chuyện tôi… ỉa đùn ở Yên Giã khi bệnh sốt rét đưa tới bệnh kiết lỵ). Cái bệnh sốt rét quái đản mãi hơn mười năm sau mới được đẩy lui khi một Bác Sĩ ở Saigon tìm ra cách chữa rất hiệu nghiệm là tiêm quinine vào mạch máu của chúng tôi. Ngay trước ngày Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân, khi tôi phải đi vắng hai tuần — tôi lên hát ở Đài Phát Thanh bí mật, có gặp lại Thương Huyền tại đó — Thái Hằng nằm một mình ở trong khu rừng già này, nửa đêm có cọp về, vợ tôi vốn là người bị bệnh yếu dây thần kinh từ trước, nay lại sợ cọp tới độ muốn phát điên lên, sáng hôm sau phải tới xin ở tạm nhà chị Nguyễn Xuân Khoát trong khi đợi tôi đi công tác trở về. 
Nếu tôi đi ngoại quốc mà Thái Hằng ở lại, vào ngày sinh nở, ai là người sẽ săn sóc người đẻ hộ tôi? Tôi cũng có thể tin rằng Đoàn Thể sẽ làm chuyện đó một cách rất chu đáo, nhưng tôi đã thấy trước mắt chuyện bà Đào Duy Kỳ, vợ của một đảng viên cỡ lớn, ở ngay tại khu Trung Ương này, khi sinh ra đứa con thì phải nuôi một con dê ở trong vườn để có sữa cho con bú. Hình ảnh của người mẹ nghèo thiếu ăn và của đứa con đói sữa trong bài thơ Tâm Sự Đêm Giao Thừa của Hoàng Cầm mà tôi thuộc lòng như cháo, cũng hiện ra trong đầu tôi lúc này… 
… Trong thời gian chờ đợi tới ngày tôi phải trả lời anh Khoát về một vấn đề tối ư quan trọng có khả năng quyết định cả một đời người, tôi được gọi đi gặp ông Hồ. Đi khoảng gần hai tiếng đồng hồ thì tới chỗ ông ở. Qua khỏi một con suối được đặt tên là Lê Nin thì thấy hiện ra một ngôi nhà sàn b_ăng tre rất đẹp, có ông Chủ Tịch họ Hồ đang ngồi đánh máy. Nhìn thấy U³ông, tôi vẫn thấy cảm động như lúc gặp ông lần đầu. Nhưng vì bây giờ được nhìn ông gần hơn lần trước, tôi thấy cặp mắt của ông thật là sáng, nhưng nó không toát ra một sự trìu mến. Cũng có thể một người làm chính trị suốt đời như ông thì lúc nào cũng cần phải cần phải quyết liệt, phải tàn nhẫn, cho nên ông có một cái nhìn rất dữ. 
Tới gặp ông lần này, tôi rất thông minh để thấy ngay rằng đối với ông, lúc đó, tôi chẳng là cái gì cả. Không chừng ông cũng chẳng biết tới tên tôi hay biết tới công việc của tôi là đàng khác. Trong cái bắt tay hay trong câu chuyện, tôi chỉ cảm thấy có một chút thân mật của một người muốn làm cha thiên hạ, ban xuống cho một đứa con dân. Chỉ có thế thôi. Một nhà lãnh đạo như ông Hồ, đang có muôn ngàn chuyện phải làm, đâu có thì giờ để mà đãi ngộ một văn nghệ sĩ? Chẳng qua là vì những vị phụ trách về văn nghệ nghĩ rằng gặp ông Hồ là một ân huệ lớn đối với một công dân và nghệ sĩ như tôi. Trong mọi tính toán như: cho vào Đảng, cho đi Moscou, đề nghị tặng huân chương, còn có thêm một tính toán nữa là cho tôi gặp một người mà ai cũng mong được gặp. 
Họ không biết là tôi đã từng được mời tới gặp ông Bảo Đại khi ông vua này đi săn và tới Phan Rang hồi năm 1943. Tôi đang đi hát với gánh Đức Huy ở đó, ông Tỉnh Trưởng là Nguyễn Duy Quang cho xe hơi tới đón tôi đưa vào Dinh Tỉnh Trưởng để đàn hát cho ông vua nghe. Lúc đó tôi mới 22 tuổi. Chỉ có tôi và Bảo Đại ngồi ở trong phòng khách. Ông chăm chú ngồi nghe tôi hát, hỏi thăm gia đình tôi. Gặp ông vua mà cũng chẳng thấy có gì là ghê gớm cả. Ông vua nghe mình hát thì cũng như… ông trọc phú hay ông phu xe — những quý vị khán giả bỏ tiền mua vé vào rạp — nghe mình hát mà thôi. Nhưng phải công nhận rằng ông Bảo Đại là một người rất nhã nhặn, rất thích âm nhạc. Tiếc rằng tôi không nhìn được rõ đôi mắt của ông vì ông luôn luôn đeo kính đen. 
Sau này cũng thế, vì anh tôi là Phạm Duy Khiêm đang làm Đại Sứ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, tôi cũng được mời vào Dinh Độc Lập để gập hai anh em lãnh tụ họ Ngô. Cả hai ông đều có những cái nhìn rất dữ và cao ngạo. Đối với hai ông, tôi cũng chỉ có đúng một sự lễ phép vừa phải như khi tôi gặp những lãnh tụ khác. Một thứ lễ phép theo kiểu “kính như viễn chi” vốn là một cách rất hay để thoái thác không nhận một ân huệ hay một món nợ vật chất hay tinh thần nào ở nơi những người có quyền hành này. Sự tương kính đã có giữa hai bên rồi thì không bao giờ tôi dám phê phán các nhà lãnh tụ đó cả, từ ông Bảo Đại, qua ông Hồ Chí Minh tới hai vị lãnh đạo họ Ngô. Đó là công việc của lịch sử. 
Nhưng có một điều mà bây giờ tôi mới nhìn thấy khi tôi gặp ông Hồ Chí Minh ở Việt Bắc là: dù đây là một thứ chính quyền Cách Mạng nhưng ở cái nơi chiến khu âm u bí hiểm này cũng có một thứ triều đình rồi — chẳng trách Nguyễn Tuân gọi đây là đất thánh. Triều đình nào cũng phải có kẻ nịnh. Kẻ nịnh bao giờ cũng đông hơn người trung. Lúc tôi tới nơi ông Hồ ở là lúc tôi thấy Tống Ngọc Hạp đem một bầy thiếu nhi tới và tôi chứng kiến một sự “tranh nhau đi gặp Bác Hồ”, một sự cãi nhau om xòm giữa người này người nọ trong sự chọn lựa ai được vào gặp, ai không được vào gặp. Tôi trở về Yên Giã, lòng rất thản nhiên vì bây giờ thì tôi không còn gì để thắc mắc nữa. 
Tôi tới gặp anh Khoát ngay và trả lời dứt khoát là tôi xin trở về Thanh Hoá. Và xin về ngay để cho kịp ngày vợ đẻ, sẽ có bà mẹ vợ săn sóc cho mẹ tròn con vuông. Tôi rất cám ơn mọi người, xin được không nhận bất cứ một thứ ân huệ nào cả. Nhưng khi vợ chồng tôi tới chào người lãnh đạo văn nghệ của cả nước thì Tố Hữu tặng cho vợ chồng tôi một số tiền. Tôi nhận ngay vì đó là tiền lương và vãng phí. 
Ngày mai lên đường về suôi thì tối hôm đó bỗng nhiên tôi gặp vợ chồng tướng Nguyễn Sơn ở nơi an toàn khu này. Ông mời vợ chồng tôi tới ăn cơm. Trong bữa cơm rất ngon tại một ngôi nhà sàn ở giữa vùng Việt Bắc, dưới ánh đèn dầu leo lắt, ngoài những chuyện xã giao thông thường, ông không nói gì tới chuyện ông đã bị Đảng gửi trả ông về Trung Cộng. Tôi cũng không hé miệng cho ông biết tình trạng và thái độ của tôi trước những ân huệ mà cấp trên đã dành cho tôi. Nhưng khi biết tôi sẽ trở về Khu IV vì lý do Thái Hằng đang có mang thì ông gật gù, ra chiều đồng ý. 
Khi tôi về tới Thanh Hoá, tôi mới biết rằng tướng Nguyễn Sơn đã bị thay thế bởi Hoàng Minh Thảo, có Trần Văn Quang làm ủy viên chính trị. Sau này, tôi mới biết rõ nguyên do tại sao ông Sơn lại bỏ kháng chiến để ra đi. Theo người bạn đàn anh của tôi là Hoàng Văn Chí — anh em cột chèo với Nguyễn Sơn — lúc đó đang làm việc tại Khu IV, thì tướng Nguyễn Sơn phản đối việc ông Hồ yêu cầu Trung Cộng viện trợ, cho rằng hễ nhận viện trợ của ngoại bang thì sẽ mất hết chủ quyền. Ông Sơn viện lẽ rằng trong thời kỳ chống Nhật, Mao Trạch Đông không thèm nhờ Nga Sô viện trợ, để mặc Nga Sô tiếp tế cho Tưởng Giới Thạch. Theo ông Sơn thì Việt Nam phải tự lực kháng chiến, chiếm lấy vũ khí của Pháp để mà đánh Pháp. Cuộc chiến đấu gian lao hơn nhưng nước mình sẽ không phụ thuộc ngoại bang. Cũng vẫn theo Hoàng Văn Chí, Nguyễn Sơn to tiếng với ông Hồ về việc này và bỏ ra đi ngay sau buổi thảo luận gay go đó, rất có thể ngay trong cái ngày mà tôi được ông mời tới nhà để ăn cơm. Tôi cũng không ngờ rằng đó là bữa cơm từ biệt mà tướng Nguyễn Sơn dành cho một nghệ sĩ trẻ tuổi mà ông hết lòng nâng đỡ không những chỉ trong công tác mà còn trong cả đời tư, khi ông là người se duyên và chủ hôn cho vợ chồng chúng tôi. Không còn Nguyễn Sơn ở Khu IV nữa, rồi đây tôi sẽ thấy mình bơ vơ vô kể. 
Trên đường về, vợ chồng ghé qua một địa điểm ở trong tỉnh Thái Nguyên để gặp anh tôi là Phạm Duy Nhượng hiện đang là giáo viên của trường dạy các cán bộ cao cấp về văn hoá. Việt Minh có cái hay là trong kháng chiến, những người không có trình độ văn hoá cao hoặc có khi chỉ mới có bằng Tiểu Học mà thôi, sau khi đã chiến đấu ở ngoài mặt trận trong một thời gian thì dù có là Sư Đoàn Trưởng,Trung Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng hay Đại Đội Trưởng gì đi nữa thì cũng — a lê — mời các ông quan to súng dài này buông súng ra, bỏ chức vụ đi, lục tục về một ngôi trường được dựng lên ở một nơi giống như “u tì quốc” để học lại từ đầu. Nhà giáo Phạm Duy Nhượng là thầy dạy học văn hoá cho vô số các Tướng Lãnh Cộng Sản về hưu hiện nay ở ngoài Bắc. Sống ở “ù tì quU³ốc” này vài ngày, tôi được nghe một câu chuyện có dính líu tới giới cầm bút, cầm đàn và cầm… dọc tẩu của chúng tôi: 
“… Sau khi tan Đại Hội, các văn nghệ sĩ như Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Tuân, Canh Thân, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Nguyễn Văn Hiếu về tới thị xã đổ nát là Thái Nguyên thì gập Đinh Văn Tỉnh, người có biệt danh là Tỉnh “Chố” vì anh ta có đôi mắt cá vàng, lúc nào cũng như chố mắt ra để nhìn thiên hạ. Tỉnh “Chố” mách nước cho mọi người biết: 
— Ơ± một địa điểm gọi là Lăng Tạ, chỗ giáp giới Thái Nguyên-Bắc Giang ấy, các cậu có thể tới ăn hút thả giàn được đó. Tại đây có Lê Sỹ Cửu là đệ tử ruột của Cục Trưởng Cục Quân Nhu Trần Dụ Châu. Anh ta sẽ tổ chức một đám cưới cho người em. Họ cũng đang cần “văn nghệ giúp vui”… 
Nghe thấy Tỉnh “Chố” mách nước như vậy, các văn nghệ sĩ nhà ta vội vàng kéo nhau tới Lăng Tạ. Đám cưới cực kỳ sang trọng được tổ chức tại ngôi nhà của Lê Sỹ Cửu, nằm trên một ngọn đồi. Ơ± hai bên đường, từ dưới chân đồi lên tới cổng nhà, để soi sáng cho đường đi là hàng ngàn ngọn nến bạch lạp. Cục Quân Nhu là cơ quan có nhân viên và phương tiện để ra vào Hà Nội hằng ngày, mua những đồ tiếp liệu như vải vóc thuốc men, các hàng thuộc loại “xa xỉ phẩm”… trong đó có thuốc lá thơm cho ông Hồ. Lê Sỹ Cửu luôn luôn cưA°ơi một chiếc xe đạp Sterling mà ghi đông là loại thép “dura” có pha chất “aluminium”. Xe đạp thời kháng chiến mà có được một cái đèn hiệu RADIUS để đi ban đêm là đã sang trọng lắm rồi. Xe đạp của Lê Sỹ Cửu có tới hai cái đèn, đèn nào cũng to như đèn pha xe hơi cơ. Hằng ngày Lê Sỹ Cửu là một người tiêu tiền như rác. Số tiền đổ vào đám cưới này chắc chắn là phải kinh khủng lắm. Người ta kể lại là về phần ăn thì sau khi nhà bếp làm thịt, những lông gà, lông vịt đổ xuống sông trôi lềnh bềnh đến mấy ngày mà vẫn chưa hết. Và cũng không thiếu một thứ rượu ngon nào trong bữa tiệc cưới này. Thuốc lá thơm như Philip Morris, Cotab, Camel, 3 con 5… đem ra mời khách hút, không phải từng điếu mà là từng bao. Ăn uống no say xong là có luôn dăm ba cái bàn đèn thuốc phiện để đãi khách. Lẽ tất nhiên Trần Dụ Châu là thượng khách đám cưới. 
Thực ra, cái đám cưới cực kỳ hoang phí được tổ chức trên xương máu của nhân dân này cũng chẳng có ai biết đến, ngoài những người tới dự đám cưới. Cũng chẳng có ai bận tâm đi báo cáo ai cả. Vả lại, Cục Trưởng Cục Quân Nhu đã là nhân viên cấp cao nhất ở đây rồi. Hơn nữa, Trần Dụ Châu là người rất hào hiệp đối với bạn bè và các đàn em. Có người bạn nào ở xa tới thăm anh là anh tặng luôn cho người đó một bộ đồ kaki Mỹ. Cho nên nếu anh có để cho đàn em của anh làm chuyện hoang phí như thế này thì cũng không có ai nỡ trách móc anh làm gì. Chẳng may trong đám cưới này lại có Đoàn Phú Tứ.

Trong bữa ăn, có lẽ đã quá say — hay giả vờ say không chừng — Đoàn Phú Tứ nhìn thẳng vào mặt Trần Dụ Châu, lên tiếng phê bình sự hoang phí này. Lê Sỹ Cửu vội vàng chạy tới, nắm cổ Đoàn Phú Tứ kéo đi. Và để lấy lòng “xếp” của mình, anh ta giơ tay tát Đoàn Phú Tứ. Thế là chuyện này bùng nổ. Đoàn Phú Tứ lập tức báo cáo lên Trung Ương, đưa ra những tội của Trần Dụ Châu như: bao che cho đàn em phung phí công quỹ, tổ chức đám cưới vô cùng phí phạm trong khi chính phủ đang bắt cả nước phải hi sinh, có thái độ hung hãn với văn nghệ sĩ khi bị phê bình thẳng thắn. Câu chuyện lan tràn đi khắp mọi nơi. Ai cũng xì xào. Nếu người tố cáo không phải là Đoàn Phú Tứ thì chuyện này cũng có thể được lấp liếm đi, nhưng lúc đó người ta rất cần tới văn nghệ sĩ để động viên quần chúng cho nên Trung Ương đã không thể làm ngơ được. Kết quả, Cục Trưởng Cục Quân Nhu Trần Dụ Châu bị đưa ra xử án trước công chúng vào ngày mùng 5 tháng 9 năm 1950, có Chu Văn Tấn ngồi ghế Chánh A³n và có Trần Tử Bình đại diện của Chủ Tịch họ Hồ tới dự để cho phiên toà thêm phần long trọng. Trần Dụ Châu bị kết án tử hình và bị đem ra xử bắn tại sân vận động Thái Nguyên…” 

Tôi biết sơ sơ là cô bạn ca sĩ Thương Huyền dễ thương và hát hay của tôi trong những ngày xa xưa, khi ra với kháng chiến thì cô trở thành người bạn tình hay người vợ chưa cưới của Cục Trưởng Cục Quân Nhu Trần Dụ Châu. Tôi cũng vừa mới gặp nàng ở Đài Phát Thanh bí mật một tháng trước đây. Lúc đó nàng đang ngồi trong phòng vi âm, tay cầm cái quạt nan để đuổi một lũ ruồi đang bu vào một vài nốt ghẻ ở nơi đôi chân thon đẹp của nàng, những nốt ghẻ mà ai đã đi kháng chiến thì cũng đều được thiên nhiên ô nhiễm âu yếm tặng cho. Rất niềm nở, Thương Huyền hỏi thăm tôi về Thái Hằng. Còn về phần tôi, vì mắc bệnh “tế nhị” cho nên tôi không dám thăm hỏi gì về đời tư của nàng cả. Nay biết chuyện Cục Trưởng Trần Dụ Châu gặp nạn, tôi nghĩ tới Thương Huyền rất nhiều. Từ giã trường dạy văn hoá và anh Nhượng, chúng tôi ra đi. Trong hành trình trở về Khu IV, trên một quãng đường nào đó, tôi chúc thầm cho người bạn cũ có một nụ cười rất phúc hậu qua khỏi được tất cả những khó khăn của cuộc đời. Rồi từ đó, tôi quên Thương Huyền.

(Trích HỐI KÝ PHẠM DUY  chương 33)

TẠI SAO KHÔNG NÊN KỲ VỌNG VÀO NGUYỄN BÁ THANH?

nguyen-tan-dung-nguyen-ba-thanh

Có vẻ như có nhiều người đang rất hy vọng rằng ông Nguyễn Bá Thanh sẽ làm cho cả đất nước này trở thành một Đại Đà Nẵng. Tôi thì tôi chẳng thấy cơ sở nào để hy vọng như vậy cả. Thậm chí, toàn thấy những cơ sở để đừng hy vọng.

Hãy cứ cho rằng ông Bá Thanh có đủ mọi phẩm chất tốt của một lãnh tụ anh minh. Giả sử ông thực sự muốn làm trong sạch đất nước, muốn quét sạch bọn tham nhũng, bọn tàn phá giang sơn. Giả sử ông có gan để đối đầu với những thế lực tàn bạo đầy quyền lực, dám chấp nhận hy sinh cả hạnh phúc cá nhân và gia đình vì nghĩa lớn. Để cho cụ thể, giả sử vào cuối năm 2013, quân quyền của ông Bá Thanh đã cung cấp cho ông bằng chứng về việc vi phạm pháp luật của một đồng chí Y nào đó (hổng dám nói đồng chí Ếch vì sợ phạm húy!) đủ để kỷ luật đảng và truy tố đồng chí đó. Nhưng rồi sau đó sẽ thế nào?

Nếu đồng chí Y này không phải là ủy viên trung ương thì, vâng, có thể ông Thanh sẽ “sờ gáy” được đồng chí đó. Có thể cơ quan pháp luật vì nể ông sẽ phải xử lý đồng chí này. Nhưng nếu đồng chí đó nằm trong trung ương thì việc xử lý sẽ phụ thuộc rất ít vào ông Thanh. Vấn đề sẽ phải đưa ra bộ chính trị. Mà lúc đó, nếu đồng chí tổng bí thơ lại bảo “Kỷ luật sinh thù oán” thì ông Thanh làm được quái gì? Chưa nói nhỡ ra có đồng chí còn mạnh hơn cả đồng chí tổng bí thơ nữa mà cũng bênh đồng chí Y thì sao?

Và nếu đồng chí Y này lại nằm trong bộ chính trị thì ông Thanh lại càng không thể sờ được lông chân của đồng chí ấy. Ông Thanh không nằm trong bộ chính trị, làm được gì? Chẳng lẽ cấp dưới có thể trị được cấp trên? Thậm chí, cho rằng ông Thanh sẽ nhanh chóng được bổ sung vào bộ chính trị, thì ông ta cũng làm sao mạnh hơn đồng chí Y được, nếu Y lại là Ếch?!

Trưởng ban nội chính trung ương đúng là một nhân vật có sức mạnh. Ông ta sẽ có đủ “quân” để thực hiện công tác điều tra ngay cả ở những nơi “thâm cung bí sử”. Nhưng quyền lực của ông ta chỉ dừng lại ở đó! Ông trưởng ban này không thể ra lệnh bắt người hay xét xử, không thể ấn định mức án khi xử. Xin quý vị hãy hình dung ra tình huống sau đây: ông Thanh gọi điện cho cơ quan pháp luật, yêu cầu bắt đồng chí bị cáo Y; bên đó vì rất nể ông Thanh nên trả lời “Vâng”, nhưng nói thêm: “Đợi có lệnh.” Khi đó ông Thanh sẽ làm gì? Ra phát luật, trưởng ban nội chính làm gì có quyền trực tiếp “xuất bản” lệnh bắt? (Vẫn biết rằng pháp luật chỉ được dùng “ang áng mây trời” thôi, nhưng khi nó được dùng để “bảo vệ chính trị” thì lại không thể đùa với nó được.) Chưa nói, nếu lực lượng công an lại là thuộc hạ của đồng chí Y, được đồng chí nuôi ăn, thì ông Thanh làm được gì?

Còn nữa. Cho rằng ông Thanh có thể luận tội được đồng chí Y, nhưng nếu bộ chính trị mà đồng ý xử lý theo ý ông Thanh thì chẳng hóa ra các đồng chí tổng bí thư, chủ tịch nước từ trước đến giờ làm không bằng ông Thanh sao? Đúng hay sai chẳng biết, nhưng theo ông Thanh nghĩa là thừa nhận các đồng chí kia không bằng ông. Liệu với truyền thống của Đảng ta, việc thừa nhận như vậy có được phép xảy ra không?

Ở Đà Nẵng, ông Thanh thành công đương nhiên vì ông dám nghĩ, dám làm. Ông không thuộc loại cán bộ ăn hại. Nhưng còn có nguyên nhân khác nữa là ở đó ông không có một đối thủ nào ngang cơ. Và chắc chắn, bằng cách nào đó, ông cũng tìm được sự ủng hộ từ bộ chính trị. Còn ra “Ba Đình” thì ông ở dưới rất nhiều nhân vật, có thể kém tài rất nhiều so với ông, nhưng ở thế thượng phong, lại nằm trong mạng lưới quyền lực nhằng nhịt mà ông không thể phá vỡ. Muốn làm được như khi ông ở Đà Nẵng thì vị trí của ông cũng phải như ở Đà Nẵng: đứng đầu thực sự, nghĩa là mọi người còn lại ở “Ba Đình” đều tuân lệnh ông. Mà điều này thì xin những người kỳ vọng vào ông Thanh và chính ông đừng có mơ!

Những quyết sách về kinh tế – xã hội của “Ba Đình” thì lại càng không phụ thuộc vào ông Thanh, như của Đà Nẵng những năm qua.

Bây giờ giả sử tiếp (một điều siêu tưởng!) là ông Thanh loại bỏ được toàn bộ bộ máy tham nhũng hiện tại. Nhưng rồi sau đó sẽ ra sao? Đất nước ta sẽ vĩnh viễn sạch bóng tham nhũng chăng? Hãy hình dung Nguyễn Bá Thanh trở thành một lãnh tụ già nua, bên dưới toàn là những thuộc hạ của ông cai quản xã hội. Chắc quý vị cho rằng đó sẽ là một tương lai tốt đẹp? Chắc 99% là sẽ không như vậy.

Nhưng đó đã là cái giả thiết quá xa vời. Còn trở lại thực tế thì vài ngày gần đây thủ tướng đã cho thông báo kết quả thanh tra của ban thanh tra chính phủ đối với Đà Nẵng: trừ chính ông Thanh, hầu hết quan chức ở đó đều bị nêu tên làm sai luật nhà nước. Chắc là rung chuông cảnh tỉnh ông Bá đó thôi!

Vậy, xin đừng kỳ vọng!

Một lý do nữa để không nên kỳ vọng vào một nhân vật cụ thể nào trong hệ thống quyền lực hiện tại là vì cái sự kỳ vọng đó nó mang theo một khía cạnh hơi nhục!

Nếu có một ông Nguyễn Bá Thánh, thì có lẽ nên kỳ vọng chăng?

NGUYỄN TRẦN SÂM

Bất cứ ai cũng cần có cơ hội sửa mình, dù đã làm sai nhiều đến đâu

MIEN DIENNhững nhân vật từng bảo trợ chính quyền quân sự Miến Điện nay lại trở thành nhà tài trợ cho đảng của lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi.

Những người ủng hộ người phụ nữ được giải Nobel Hòa bình nói việc nhận tiền vừa cần thiết cho tài chính vừa khôn ngoan về chính tri.

Đảng đối lập, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), đã nhận 211.5 triệu kyat (250.000 đôla) tại buổi hòa nhạc gây quỹ từ công ty của các doanh nhân vẫn bị phương Tây cấm cửa.

Những người này đã trở nên giàu có dưới chế độ quân sự cai trị Miến Điện gần nửa thế kỷ.

Theo hãng tin Reuters, vụ quyên tiền không gây ồn ào ở Miến Điện, một dấu hiệu cho thấy uy tín cá nhân của bà Suu Khi. Nó cũng chứng tỏ những người từng hưởng bổng lộc của quân đội đã “tự diễn biến” như thế nào từ ngày có chính quyền cải cách ở nước này đầu năm 2011.

Hòa giải?

Một số người cũng xem đây là dấu hiệu hòa giải sau hàng chục năm kìm kẹp của chính quyền quân đội.

Ngân hàng AGB, của tỉ phú Tay Za, người từng bị chính phủ Mỹ mô tả là “tay sai chính quyền và kẻ buôn vũ khí khét tiếng”, đã tặng 40 triệu kyat (47.000 đôla) cho đảng của bà Suu Kyi trong buổi hòa nhạc tháng 12.

Vợ của Kyaw Win, một doanh nhân sở hữu đài truyền hình SkyNet, tặng 41.5 triệu kyat (50.000 đôla), trong khi đài SkyNet cũng tặng 130 triệu kyat (151.430 đôla).

Đại diện cho đảng NLD nói: “Số tiền quyên được là cho mục đích giáo dục, chứ không làm gì cho đảng.”

Tỉ phú Tay Za và nhiều doanh nhân khác vẫn nằm trong danh sách đen của các nước phương Tây, mặc dù đa số lệnh trừng phạt với chính phủ Miến Điện đã được tạm gỡ bỏ.

Tuần rồi, bà Suu Kyi, người đã có 17 năm bị quản thúc cho đến khi được tự do năm 2010, bảo vệ hành động của mình.

“Bất cứ ai cũng cần có cơ hội sửa mình, dù đã làm sai nhiều đến đâu,” bà nói.

Một số người ủng hộ bà trên Facebook đã gọi bà Suu Kyi là “Robin Suu”, nhắc đến nhân vật truyền thuyết của Anh cướp của người giàu chia cho người nghèo.

Đảng NLD có hơn một triệu thành viên nhưng đa số là người nghèo.

“Trong chính trị, ngân quỹ cần thiết để tồn tại,” Derek Tonkin, cựu đại sứ Anh ở Miến Điện nói.

Một cựu đại sứ khác của Úc, Trevor Wilson, nói những người từng cung phụng chính quyền cũ đóng vai trò quan trọng cho phục hồi kinh tế.

“Rất cần phải đặt họ dưới pháp quyền,” ông nhận xét.

Bà Suu Kyi và những nhà tài trợ đang chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử năm 2015, khi NLD sẽ đối đầu với đảng cầm quyền có nhiều tiền, được thành lập từ thời quân phiệt cũ.

Cập nhật: 10:46 GMT – thứ năm, 17 tháng 1, 2013

nguồn: BBC

Tại sao kỳ vọng vào Nguyễn Bá Thanh?

NGUYEN BA THANH

Dư luận gần đây nói nhiều về “hiện tượng Nguyễn Bá Thanh”, nhất là sau khi ông Thanh được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng Ban Nội chính Trung ương Đảng.

BBC nói chuyện với nhà báo, blogger Trương Duy Nhất, người nhiều năm công tác ở Miền Trung và tự cho là ‘biết rõ ông Nguyễn Bá Thanh’.

Nhà báo Trương Duy Nhất: Trong con mắt của tôi, thì ông Nguyễn Bá Thanh là một nhân vật cần có trong lúc này, kể cả về tính cách, lẫn tài năng và tư duy. Không chỉ riêng tôi, mà nhiều người tỏ ra rất hồ hởi trước ‘hiện tượng Nguyễn Bá Thanh’.

Người dân đang khát khao một sự thay đổi, đúng sai gì không biết, nhưng tình hình đã quá u ám, trì trệ kéo dài. Phải thay đổi, phải khác những gì đang có.

Tôi cho rằng ông Nguyễn Bá Thanh là người làm được việc, nếu giao việc cho ông Thanh thì ông sẽ là nhân vật ít nhiều mang lại sự đổi thay chứ không u ám như bây giờ.

BBC: Trên blog của mình, ông đã dành nhiều từ ngữ ưu ái cho ông Nguyễn Bá Thanh, gọi ông ấy là “nhân vật hiếm hoi nói được làm được”. Ông đã tiếp xúc nhiều lần với ông Thanh chưa ạ?

Nhà báo Trương Duy Nhất: Khá nhiều, vì tôi có 26 năm làm báo, phụ trách khu vực miền Trung. Không chỉ ông Nguyễn Bá Thanh mà các quan chức chủ chốt trong khu vực thì tôi phải biết rõ, và họ cũng biết rõ tôi.

BBC: Vậy trong các lần tiếp xúc với ông Thanh, điều gì làm ông ấn tượng nhất?

Nhà báo Trương Duy Nhất: Ấn tượng nhất là ông Thanh luôn luôn thích đối thoại. Tính khí của ông Nguyễn Bá Thanh mang chất Quảng rất rõ – con người lúc nào cũng hừng hực, luôn luôn muốn làm việc, luôn luôn muốn đổi thay. Tôi thích tính cách đó.

Một người dân nào ở nước ngoài gọi điện về, dễ có ông lãnh đạo nào cầm máy lên nghe?

Vừa rồi [trên mạng] có một cuộc đối thoại rất dài của ông với một người. Nhiều người chê ông Nguyễn Bá Thanh vì cuộc đối thoại này, nhưng tôi thì lại khen vì nó chứng tỏ ông là một lãnh đạo dám nghe, dám nói thẳng, dám đối chọi dù biết người đó thế này thế nọ, chứ không né tránh.

BBC: Có ý kiến cho rằng ông Nguyễn Bá Thanh “độc tài” trong cả tư duy lẫn hành động. Ông nghĩ sao về nhận xét này?

Nhà báo Trương Duy Nhất:Trên blog của tôi, tôi có mượn ý của ông Phạm Ngọc Cương, một trí thức Việt kiều, nói rằng quyền lực chỉ thông suốt trong hai trường hợp, là độc tài bao trùm hoặc dân chủ bài bản.

Ở Việt Nam một khi không, hoặc chưa, có được dân chủ bài bản thì độc tài lại là điều kiện cần.

Chứ còn kêu gọi dân chủ nửa mùa trong trường hợp này thì tôi cho là chỉ kìm hãm phát triển. Ở lịch sử Việt Nam, lâu nay thiếu một người lãnh đạo có tài, có uy lực để khuynh loát đám đông, ngoại trừ hai trường hợp Hồ Chí Minh và Lê Duẩn.

Bây giờ mấy thế hệ cứ nhàng nhàng một lứa, quyết cái gì cũng không ai dám quyết, không ai dám đứng lên. Cái gì cũng phải đem ra hội nghị, đem ra ban thường vụ, đem ra đám đông để biểu quyết số đông, mà có phải lúc nào số đông cũng đúng đâu.

Nói về tài quyết đoán, khuynh loát trong tình hình như bây giờ, thì tôi cho Nguyễn Bá Thanh là nhân vật đủ tài khuynh loát.

BBC: Xin tò mò hỏi ông một chuyện được nhắc tới trên blog của một nhà báo. Người này nói rằng, có lần một đoàn đầu tư tới Đà Nẵng tìm gặp ông Thanh để làm dự án. Đáng tiếc trong trận giao hữu tennis, họ nhất quyết không để ông Nguyễn Bá Thanh thắng cuộc nên cuối cùng không có bữa tối với ông và dự án cũng không khai mở được lần đó. Ông có nghe chuyện này không ạ?

Nhà báo Trương Duy Nhất: Tôi không rõ về trường hợp này, nhưng nếu có thật, thì đây đúng là tính khí của Nguyễn Bá Thanh! Đây cũng là tính cách của người Quảng.

Thí dụ nếu so với người Huế, mà tôi học ở Huế nhiều năm tôi biết, thì người Huế lúc nào cũng êm êm vậy đó. Còn người Quảng thì lúc nào cũng thôi thúc: “Hắn đến chỗ mô rồi? Hắn ra răng rồi?..”, trước mỗi sự việc luôn luôn máu thắng.

Không háo thắng, lúc nào cũng an phận, thì không phải tính cách nên có của một người đứng đầu, nhất là trong tình thế của nước mình, nó cứ thế này, thế này hoài.

BBC: Nay ông Nguyễn Bá Thanh đang phải đảm nhiệm vị trí Trưởng Ban Nội chính, tham gia chống tham nhũng. Ông ấy sẽ làm công việc này như thế nào ạ?

Nhà báo Trương Duy Nhất: Nếu hy vọng vào ông Nguyễn Bá Thanh như một nhân vật Bao Công thì là sai lầm lớn. Làm chuyện nội chính không phải “gu” của ông ấy.

Vả lại, trong thể chế này, Ban Nội chính Trung ương cũng chỉ có nhiệm vụ tham mưu về chủ trương mà thôi. Muốn khởi tố ai bên quân đội công an mà mức thiếu tướng trở lên, hay bên hành chính cỡ phó chủ tịch tỉnh trở lên, là đã phải xin ý kiến Ban Bí thư rồi. Đó là nguyên tắc.

Vậy cho nên không nên trông đợi vào ông Thanh trong vai trò ở Ban Nội chính. Tuy nhiên khi ông vào chức đó rồi, theo nguyên tắc, sau một thời gian ông sẽ được bổ sung vào Bộ Chính trị. Khi đó ông sẽ có vai trò hơn.

Chứ còn nếu cứ ngồi ở vị trí trưởng ban Nội chính Trung ương thì tôi cho rằng sẽ chẳng có xoay chuyển gì. Ngồi đó vài năm rồi về hưu thì cũng thế thôi, không còn cái tên Nguyễn Bá Thanh nữa.

BBC: Báo chí Việt Nam cũng từng khen ngợi một số nhân vật lãnh đạo, nhưng rồi chưa thấy các vị đó làm được điều gì chứng thực cho kỳ vọng đặt vào họ. Ông Nguyễn Bá Thanh liệu có khác hay không ạ?

Nhà báo Trương Duy Nhất:Trước hết cần phải nói rằng trong tình hình hiện nay có nhân vật nào đáng để khen đâu. Dân người ta toàn chê, thậm chí còn chửi, suốt ngày suốt đêm.

Tình hình kinh tế bây giờ thì xuống dốc, tụt phanh như thế, quá u ám, quá kìm hãm, khiến người ta khát khao một sự xoay chuyển. Kỳ vọng Nguyễn Bá Thanh là điều dễ hiểu thôi.

Nếu như người ta dám tin, dám giao việc cho ông Thanh, thì tôi cho là với tài năng và khí chất của ông, ông Nguyễn Bá Thanh có thể xoay chuyển được gì đó. Thì hy vọng thế, chứ biết làm sao bây giờ?

BBC

MILANO – SÀI GÒN: ĐANG VỀ HAY SANG?

Như Đồng, Đào Hiếu, Elena, Trương Văn Dân, Nguyễn Hòa

Như Đồng, Đào Hiếu, Elena, Trương Văn Dân, Nguyễn Hòa

Trương Văn Dân

Mới chỉ 6 giờ mà may bay đã hạ cánh! Theo hành trình, tôi sẽ đến phi trường Malpensa vào lúc 6h35 sáng. Qatar là một hãng máy bay mà từ nhiều năm nay lúc nào cũng đến sớm hơn giờ ấn định. Elena đã có mặt. Nàng đã về Ý truớc tôi hai tuần, để có thể có thời gian quây quần với người thân lâu hơn; sáng đó nàng đã thức từ 4h để chuẩn bị đón tôi từ VN sang.

Tối hôm trước tôi đã nói với các cháu ra tiễn ở sân bay Tân sơn Nhất: Chú (cậu) là người đàn ông may mắn, đi người đưa, đến người đón. Người khổ nhất là Elena, lúc nào cũng cô độc, thui thủi, việc gì cũng phải tự lo, thế mà luôn ân cần và vui vẻ, lúc nào cũng muốn mọi người xung quanh được chăm sóc một cách chu đáo.

Niềm vui của Elena là cho đi chứ không phải nhận lại.

Nhiều lúc tôi nghĩ là cô ta còn “nợ” tôi từ tiền kiếp. Và kiếp này “phải” trả.

Và cô ta đang sẵn lòng “trả nợ”.

Tự chấp nhận và biến mình thành “con nợ truyền kiếp”. Với niềm vui.

2-

Trên con đường từ sân bay về thành phố Milano, những hàng cây bên đường lá xanh mơn mởn: Elena cho biết là mấy ngày trước có vài cơn mưa, rửa sạch bụi. Nhờ thế nên màu xanh của lá còn xanh hơn, thật khác với những tán lá vàng nâu của thành phố Sài Gòn, lúc nào cũng đầy khói, bụi vì xây dựng và đào bới.

Có lẽ nhờ cơn mưa bất chợt mấy ngày trước đó nên cuối tháng 5 mà trời vẫn còn mát mẻ như mùa Xuân.

Con đường 3 làn rộng rãi, quang đãng, xe chạy bon bon hoàn toàn khác với cảnh hỗn loạn, chen lấn từng thước đất, tranh nhau nửa vành bánh xe ở nơi tôi vừa bỏ lại.

3-

Con đường thẳng tắp. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã rời xa lộ. Xe rẽ vào đường làng. Thành phố chưa thức giấc nên có ít người qua lại. Sự xô bồ của đời sống Tây phương vẫn còn đang ngái ngủ, làm tôi cảm thấy như mình đang hòa vào một dòng sống khác.

Chỉ ít phút nữa là tôi sẽ về đến nhà. Nhà. Nhưng đây là đâu? Là Milano, nơi tôi đã từng sống 40 năm, sao mà xa lạ, chỉ sau một năm xa cách. Liệu đây có phải là lần cuối cùng tôi quay lại thành phố này, trước quyết định sẽ không, hay còn rất ít lần quay lại?

4-

Lúc Elena đậu xe, tôi nhìn thấy những chú sóc nhanh lẹ nhảy nhót trên thảm cỏ trong vườn. Chợt nhớ những buổi sáng mùa Xuân ngồi uống cà phê ở ban công trên tầng 3, tầng cao nhất ở căn nhà Cassina de Pecchi này. Bầu trời rộng mở. Không có những cao ốc che mất tầm nhìn. Những hàng cây xanh lá mướt. Chim chóc bay lượn, ca hát líu lo. Tôi thường nhìn những cụm mây trắng trên nền trời xanh. Thỉnh thoảng có vài cánh chim lao vút ra vườn. Và tiếng quạ kêu quang quác trong không gian yên tĩnh. Các chú quạ hay làm tổ trên cây thông thật cao gần đó nên nhiều khi đáp xuống trục antene trên nóc nhà đối diện làm chúng rung rinh.

Cây betulla (bouleau) trước nhà lúc này cành lá rất xanh. Đỉnh của nó chỉ cao hơn sàn nhà tôi chừng hơn 1 mét, cành xa bờ chưa đầy 2 mét, nên những buổi sáng mùa đông, cầm tách cà phê nóng trên tay, tôi thường đứng  trên ban công nhìn tuyết đang tan hay những bụi sương theo cành trụi lá chạy xuống, nhưng đến cuối ngọn thì dừng lại, đọng thành giọt mà chưa đủ sức nặng để rơi; đong đưa treo mình như hạt ngọc. Nó kiên nhẫn chờ đợi, lung linh phản chiếu tia nắng như một lăng kính, mãi đến khi những bụi nước li ti khác hoà nhập, hạt nặng hơn, lúc đó mới gieo mình rơi xuống, hòa với lớp tuyết đang tan nằm dưới gốc cây.

Bước vào nhà, Elena thao thao nói chuyện mà tôi chỉ nghe tiếng được tiếng không. Đầu óc tôi đang “tơ tưởng” về mấy quyển sách đang nằm trong túi xách. Đó là 3 quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, bản thảo vi tính mà anh Nguyên Minh đã in ở VN để tôi đem  qua đây tặng bạn. Sách in thử mà rất đẹp. Tôi sẽ dành riêng cho: Thiện (Paris), Vũ (Milano) và chị Huỳnh Ngọc Nga (Torino), chị bạn văn duy nhất của tôi ở Ý…

Đầu óc tôi còn đang mơ mơ màng màng về hành trình văn học của mình, về “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, tiểu thuyết đầu tay mà đã được công ty văn hoá Phương Nam ký hợp đồng để mua tác quyền 5 năm và sẽ in trong năm nay (nxb Hội nhà văn-2011).

Khi còn ở Ý và viết “Hành trang ngày trở lại” ( nxb trẻ, 2007)  tôi đã xem Việt nam là nơi trú ẩn an toàn sau những bon chen của xã hội Tây Phương.

Còn khi đi về để viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa”… thì xã hội Việt Nam đã như xã hội Tây Phương. Đã và đang bị Tây Phương hoá.

Thời gian chẳng bao lâu mà thay đổi quá nhiều.

Tôi đã mệt mỏi với những xô bồ. Cần sống chậm lại. Đó có thể là cách kìm hãm sự thao túng của kỹ thuật lên văn hoá, văn minh và thiên nhiên. Những chiêm nghiệm và bức xúc đó, phần nào đã tuôn trào, rơi trên mặt giấy và biến thành những con chữ.

“Bàn tay nhỏ dưới mưa” vì thế đã được lồng trong bối cảnh xã hội mà tôi chứng kiến và đối chiếu, từ bên này hay bên kia trong các chuyến đi về. Thế nhưng câu chuyện của người đàn bà tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình có điểm xuất phát từ đâu? Vì sao chỉ sau 3 năm hạnh phúc nàng đã phải đối diện với căn bệnh nan y và nhìn lại toàn bộ đời mình, rồi cuối cùng tự hỏi, ta là ai?

Vậy Gấm là ai?

Hai năm trước, khi đọc bản thảo đầu tiên trong lần họp mặt ở Thân Trọng điền trang – (Đà Lạt), nhà văn Lữ Kiều (bác sĩ Thân Trọng Minh) và nhà văn Khuất Đẩu, cũng đều hỏi tôi câu hỏi đó.

Nhưng tôi im lặng. Không hiểu vì sao mình lại “thai nghén” nó !

5-

Nghỉ một hôm vì chênh lệch giờ giấc, sáng hôm sau chúng tôi đi thăm ba của Elena bị bệnh. Sau trận tai biến, gần một năm ông phải ngồi xe lăn và nói chuyện rất khó khăn. Elena rất buồn vì có lúc phải áp sát tai mà vẫn rất khó hiểu những lời phì phào của ông. May có bà dì  Fiore chăm sóc và một nữ  y tá đến theo dõi tình hình và chích thuốc vào mỗi sáng.

Buổi chiều, khi chúng tôi đang trên đường về nhà thì Giuseppe gọi điện mời đến nhà. Tôi hẹn bạn sáng hôm sau.

Chúng tôi ngồi với nhau dưới mái hiên nhà bạn. Cũng hơn năm rồi rồi tôi và Giuseppe mới gặp lại nhau, kẻ thì bận áo cơm, người ngược xuôi lăn lộn. Chuyện cũ, chuyện mới cứ tự nhiên ộc ra như suối. Giuseppe từng là một kẻ rất… rất giang hồ. Nhưng ở anh, có tấm lòng với anh em huynh đệ thật chí nghĩa chí tình.Từng hoạt động trong phong trào thiên tả, rồi về sau hụt hẫng. Quen nhau từ khi tôi mới qua Ý và học cùng phân khoa Hoá và Công Nghệ Dược. Lúc đó anh hoạt động trong phong trào sinh viên.Tôi còn nhớ  có lần đi biểu tình chống Mỹ can thiệp ở Việt nam, khi về ngang qua khu San Babila, tay anh cầm cờ mặt trận nên bị bọn phát xít nơi đây vây đánh đến chảy máu mũi rồi bỏ chạy trước khi cảnh sát ập đến.

Năm tháng đi qua, lý tưởng ngày xưa chỉ còn là kỷ niệm. Sau bao chìm nổi, giờ anh là một quan chức cấp cao của tập đoàn dược phẩm Bayer (Đức). Lên cao, lại chán trò đấu đá tranh giành quyền lợi trong công ty, anh thu mình, tìm lối thoát và trở thành chủ tịch một câu lạc bộ đọc sách. Biết tôi viết và dịch, anh ân cần mời tôi một tối đến tham dự một buổi họp mặt của các thành viên trong nhóm.Tôi và Elena vui vẻ nhận lời.

6-

Buổi sáng, trời mát mẻ. Tôi và Elena đến nghĩa trang thăm mộ mẹ nàng. Gọi là “mộ” nhưng thực ra đây là một hộc nhỏ trên tường, trong đó lưu giữ tro than của bà. Cuộc đời thật lạ. Chúng tôi sống với nhau những ngày đáng nhớ và từ “lúc ấy” không còn gặp nhau lần nữa. Sống chết là quy luật nhưng đây đó vẫn còn có bao người đang sống như mình sẽ không bao giờ chết.

Elena cẩn thận lau bụi trước khung ảnh của bà rồi thắp một nén nhang. Chấp tay đứng gần bên, tôi nhìn vợ mình đã bị “Việt hoá” như thế nào. Tàn nhang, chúng tôi dạo bước ra về.

Nghĩa trang vắng vẻ.

Vài chiếc lá rơi, lìa cành nhánh khẳng khiu, buồn đến  ngậm ngùi…

Khi bước vào xe, đột ngột Elena bảo : Mình về và bắt đầu dọn nhà là vừa. Phải chuẩn bị nhà trống để cho thuê và có thể lần tới quay về Ý mình không còn được ở căn nhà này nữa.

Tôi bàng hoàng. Dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước khi về lại Ý trong chuyến đi này… nhưng tôi vẫn không tránh khỏi bất ngờ.

Thế là bắt đầu một cuộc ném đồ đạc. Băng cassette. Video phim ảnh. Báo chí.Tài liệu. Các vật dụng… mỗi lần vứt bỏ là một nhát dao cắt vào da thịt.

Bốn mươi năm tôi đã sống ở đây, đã thay đổi chỗ ở nhiều lần và những vật dụng thân thiết ấy đã theo tôi. Giờ thì phải đành bỏ lại… vì không thể nào mang theo được. Sách vở là điều làm tôi khó nghĩ. Bỏ đi, tiếc. Đành phải chia bớt môt ít cho bạn bè, hy vọng họ có thời gian để đọc, còn những sách “quí”, phải gói ghém cẩn thận để đem về VN trong những chuyến đi về.

Bốn mươi năm. Tôi đã gắn bó với đất nước này thật mật thiết, bạn bè Ý rất đông, lấy vợ người Ý, học, làm việc, kinh nghiệm tích lũy nhờ học hỏi với các nhà khoa học rất giỏi và khiêm tốn.

Tôi chợt nghĩ đến nhưng người tôi đã mang ơn. Nhiều lắm. Những bạn sinh viên Franco, Guido, Giuseppe… lúc nào cũng sẵn lòng chia sẻ cùng những lời khích lệ lúc ngã lòng. Những đồng nghiệp chí tình Umberto, Loris, Marco, Enrica, Anna, Sandra… những vị thầy đáng kính và tận tâm Berti, Villa, Trabucchi.

Sống đời sống ở phương Tây mọi việc đều rõ ràng, sòng phẳng, thế nhưng lòng tôi luôn luôn canh cánh một món nợ. Nợ nước Ý. Nợ tình yêu của Elena, người con gái bốn mươi năm trước đã quen và yêu tôi hơn mọi thứ quý giá nhất trên đời. Một tình yêu hoàn toàn trong sáng, vô vụ lợi, không toan tính nhỏ nhen. Nàng chấp nhận đến với tôi từ khi còn là một “công tử”  ngu ngơ du học, đến những năm tháng khó khăn, sau 75, ở căn nhà không lò sưởi, mùa đông bên trong nhà còn lạnh hơn bên ngoài; Nàng chẳng rời tôi thời không tiền ăn sáng… nhịn đói ôm sách ra thư viện để được ấm thân, vừa học vừa mong đến giờ ăn ở quán cơm sinh viên (mensa). Nàng động viên, khuyến khích và cho tôi sức mạnh để vượt qua bao nỗi khó khăn, từ khi tốt nghiệp, việc làm tạm bợ bị bóc lột đến xương tuỷ vì không có quốc tịch, lương ba cọc ba đồng, cho đến lúc vươn lên, trở thành giám đốc kỷ thuật và trưởng phòng nghiên cứu phát triển dược thú y cho một công ty thuộc tập đoàn lớn nhất nước Ý (Ferruzzi group).

Bốn mươi năm, tôi đã đi theo sự chọn lựa mà nhiều khi cũng không có quyền chọn lựa. Nhiều lúc tôi đã phải cắn răng chịu đựng nhưng có lúc cũng mỉm cười, nhìn chướng ngại như môt cuộc thử sức rồi ngẩng đầu để đi lên. Rất nhiều năm, thân mình chưa lo nổi còn tự gánh lấy trọng trách cưu mang cả gia đình. Mười ba năm quen nhau mà chưa dám làm đám cưới… thế mà Elena vẫn chờ cho đến lúc gánh nặng trên vai tôi nhẹ bớt. Giờ thì tôi hiểu ra, khó khăn còn là một thứ xúc tác để những bông hoa trong khu vườn tình người nở rộ. Thăng trầm, vinh nhục… tất cả đều đã trải, đều đã vô thường, thay đổi, và chỉ có hằng số Elena là còn ở lại. Nàng luôn ở bên tôi. Lúc nào cũng ở bên tôi. Dù có khi chúng tôi cách xa nhau hơn 10.000 km.

Là người luôn chấp nhận hy sinh, Elena yêu tôi bằng một tình yêu mãnh liệt. Tình yêu ấy như hai trái tim nằm giữa lằn ranh, vừa Hoà vừa Nhập, thách thức mọi khác biệt của hai nền văn hoá. Mới đây nàng còn từ bỏ tất cả những gì thân thương để tiếp tục theo tôi trong một hành trình mới, về sống ở Việt nam, một đất nước còn bao khó khăn và ngổn ngang những vấn đề.

Tất cả những hồi tưởng này, lướt qua đầu tôi như một cơn gió nhẹ nhưng mơ hồ làm bật ra một vài ý tưởng. Lời giải đáp cho những câu hỏi còn loé sáng hơn khi tôi có cơ hội trình bày tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” trong buổi họp mặt tại câu lạc bộ người yêu sách.

7-

Ở thư viện Albairate, sau khi chào hỏi Giuseppe đặt lên bàn 3 quyển bản thảo vi tính BTNDM rồi yêu cầu tôi tóm tắt câu chuyện cho các bạn. Qua vài lời giới thiệu ngắn ngủi tôi kể chuyện về người đàn bà bất hạnh, tuổi bốn mươi mới gặp được “một nửa” của mình, là tri âm thể xác và tri kỉ tâm hồn. Đến lúc ấy Gấm mới nhận biết được tình yêu, say đắm “như yêu lần đầu” và hiểu ra là “hạnh phúc thật ra ở ngay trong những điều nhỏ nhặt”. Gặp “Anh”, kiến thức Gấm được mở mang và học được nhiều điều quan trọng. Nhưng số phận éo le, đúng khi tưởng nắm giữ được hạnh phúc với người đàn ông của đời mình thì Gấm lại bị ung thư.

Từ căn bệnh thời đại này tôi đã lồng câu chuyện tình yêu vào một bối cảnh xã hội rộng lớn, trong đó lòng tham của con người đang làm trái đất cạn kiệt, xã hội rối loạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm… và con người càng ngày càng sống phản lại tự nhiên.

Còn Gấm, đứng trước cái chết  được báo trước, nàng trăn trở, hoảng loạn, suy tư, ý thức “lẽ sống còn quan trọng hơn sự sống”… và cuối cùng tự hỏi “Ta là ai”.

Tôi bất ngờ và thú vị vì thấy có nhiều người đồng tình. Một cuộc thảo luận về nhịp sống hối hả làm thời gian bị đo lường, chắt bóp. Có người nói hiện nay tuy phương tiện giải trí có nhiều mà niềm vui dường như rất hiếm.Tâm trí của mọi người đều bị động. Có người nhắc đến các công nhân lắp ráp làm việc theo nhịp máy trong dây chuyền sản xuất, các động tác phải tuân theo các công đoạn trong một thời lượng quy định.  Xong việc, về nhà, vội vàng, căng thẳng vì đường phố đông đúc. Cái gì cũng “express”, cũng “fast”… từ ăn uống đến mua sắm.

Giuseppe nói “Thế giới thay đổi quá nhanh trong những năm gần đây làm con người không kịp thích nghi và do đó đánh mất thăng bằng tâm lý. Có các phương tiện để liên lạc mà trong xã hội chẳng ai biết nhau. Sự gia tăng các phương tiện truyền thông hình như tỉ lệ nghịch với sự giao tiếp giữa các cá nhân, con người sống Bên nhau nhưng không sống Với nhau. Tiếp xúc qua không gian ảo, nhìn nhau qua màn hình.”

Tôi dịch một vài trích đoạn cho các bạn, từ tình yêu ngút ngàn của Gấm dành cho “anh” đến nỗi hốt hoảng của Gấm khi biết mình sắp chết, đoạn phân tích tâm lý lúc nàng chạy về phía Bình Quới nhìn mây trắng hợp tan rồi nghĩ về lẽ tử sinh làm mọi người rất thích.

Một thành viên câu lạc bộ hỏi tôi, viết xúc động vậy sao không dịch ra tiếng Ý? Trước đó  tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc này. Nhưng tại sao không? Có thể lược bỏ bớt những phần không thiết yếu…

Mọi người xôn xao bàn tán nhưng lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ đến quyển tiểu thuyết đang chờ in ở Việt nam. Giuseppe nói: “Mới đây mà đã bốn mươi năm!” Bốn mươi năm! Bốn mươi năm! Tôi giật mình. Chợt tỉnh. Bốn mươi năm chẳng phải là số tuổi của Gấm đó sao? Cớ  sao số tuổi của Gấm trùng với 40 năm tôi từng sống ở đây? Vì sao nàng chỉ hưởng hạnh phút có 3 năm rồi bị ung thư? Những trùng hợp này chỉ là ngẫu nhiên hay là tiếng gọi của tiềm thức, về một tình yêu cuồn cuộn của một thời tuổi trẻ, si mê, đầy nhiệt huyết và mộng mơ ở trời Âu và giờ đây như những đám mây bay qua bầu trời và sắp biến mất? Những thăng trầm, khổ đau, hạnh phúc của Gấm có khác gì đời sống của tôi mấy mươi năm qua? Thương yêu hờn giận, gắn bó đến thế, làm sao lòng không vương vấn, không đau như cắt ruột khi phải chia xa, dù được quay về nơi mình cất tiếng chào đời? Thế thì 40 năm sống ở trời Âu có khác gì 40 năm cuộc đời của Gấm? Rồi ba năm hạnh phúc, cũng chính là 3 năm mà tôi đã trở về quê hương. Tôi đã bình an biết bao. Nhưng khi ánh hào quang của cuộc trùng phùng chấm dứt, những biến đổi xã hội Á đông đang thay da đổi thịt, hoà theo nhịp sống cuồng loạn của toàn cầu hoá… đã xoá mất nếp bình thản cũ xưa, xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong thời hội nhập. Những bất an thực phẩm, ô nhiễm môi trường, trái đất cạn kiệt… tạo ra bao căn bệnh ung thư.

Gấm chết. Như chết một ước mơ, chết một đời sống bình yên.

Ba năm, thời gian đủ để tôi nhận ra là đời sống như tôi nghĩ đã không còn. Con người, gia đình con cái ít quây quần bên nhau. Người già cô đơn. Các căn bệnh thời đại xuất hiện: lo âu, buồn rầu vô cớ rồi sinh ra trầm cảm. Rồi tự sát. Sức khoẻ cơ thể có thể tốt nhờ tiến bộ y học mà sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ xã hội ngày càng kém sút. Chúng ta sống thọ hơn mà cuộc sống lại ít ý nghĩa hơn. Có khác gì những điều đang xảy ra ở trời Tây?

Ba năm, ngồi cà phê quán cóc ở vệ đường, tôi cũng nhìn thấy nhiều người lái xe bằng một tay, tay kia bấm phiếm nhắn tin, nghe điện thoại. Những bà mẹ chở con đi học thêm, đứa bé ngồi phía sau tranh thủ ăn, tranh thủ uống. Những người khác luồn lách, chạy xe với tốc độ kinh khiếp như đi vào chỗ không người. Có lần, trên chuyến xe đò về miền Trung ăn Tết, tôi kinh hồn thấy tài xế vừa chạy xe vừa dụi mắt chống cơn buồn ngủ. Chiếc xe chao đảo, suýt lao đầu xuống vực…

Nhịp sống đã thay đổi từng ngày, nếp sống văn hoá quay cuồng theo.Tình người đảo lộn. Ngay trong gia đình, cũng chẳng thiếu cảnh anh em vác dao chém nhau, chuyện con chửi mẹ, đánh cha, thậm chí giết cha mẹ cũng chỉ vì cơn sốt đất. Người người đang sôi lên vì kiếm tiền, kiếm việc làm thêm và mua sắm tất bật.

Những trăn trở ấy, không biết tự lúc nào đã đưa đẩy những ngón tay lên bàn phím, và từ tiềm thức, “Bàn tay nhỏ ” đã biến thành những con chữ.

Cầm trên tay, thấy sách được chia thành từng nhiều đoạn nhỏ, Giuseppe tò mò hỏi tôi đã lấy nguyên mẫu và cảm hứng từ đâu?

“Nguyên mẫu lấy từ nhiều nhân vật. Tôi đem gộp lại chuyện đời, hạnh phúc và khổ đau của nhiều người và viết thêm nỗi băn khoăn và tâm sự riêng của chính mình. Theo đó, tôi đã viết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” như nhiều mảnh gương, mỗi mảnh phản chiếu theo một góc. Có mảnh quay vào trong, soi nội tâm nhân vật, có mảnh hướng ra ngoài để nhìn ra thế giới. Qua các trang viết đều có phản chiếu một chút người, một chút ta, một chút bạn bè và những cảm nhận về những vấn đề mang tính bản thể: sự sống và cái chết, nhân phẩm và sự sa ngã, khát vọng vô cùng của con người và những hữu hạn của tồn tại…”

Giuseppe vỗ vỗ lên vai tôi: “Tác phẩm này giống như cuộc hành trình của con người đi tìm tình yêu, hạnh phúc và sự bình an trong một thế giới hỗn độn và điên loạn. Hãy cố dành thời gian để dịch ra tiếng Ý!”

Tôi gật đầu. Còn một điều nữa cũng vừa lóe lên trong trí nhưng tôi không nói với bạn. Đó là về cái chết của Gấm? Tại sao nàng đi trước mà không phải là anh? Bởi đó là nỗi khắc khoải, nỗi lo sợ, ước muốn và cũng là trách nhiệm của người chồng… Anh không thể “đi” trước, bỏ lại vợ mình trong một đất nước xa lạ… Uớc muốn này mới đầu tôi tưởng chỉ của riêng tôi, nhưng thời gian sau, khi Elena viết truyện ngắn đầu tay “Bàn tay trong một bàn tay”[1] thì tôi chợt hiểu đó cũng chính là những ám ảnh và ước muốn thầm kín của nàng.

8-

“Nền kinh tế hiện nay giống như một chiếc xe đạp. Nó buộc chúng ta phải làm việc và đạp liên tục thì mới chạy được, dừng lại là té ngã”. Anh bạn Franco đã từng nói với tôi như thế. Và hôm nay hình như mọi người đang kiệt sức, không đạp nổi. Nền kinh tế rất mạnh của Ý và Âu châu đã suy thoái từ  vài năm qua. Nhiều hãng xưởng đóng cửa hay làm việc cầm chừng. Bạn bè nhiều người lo lắng.

Buổi sáng, Elena cầm tờ báo và gọi tôi đến xem. Một cửa tiệm nợ lương 5 tháng không trả. Một thanh niên Phi Châu đến hối thúc lương tháng. Chủ và thợ sinh ra cãi vả. Ông chủ vào nhà lấy tiền và ném vào mặt người làm công. Lúc anh ta cúi nhặt, ông rút súng bắn mấy phát vào lưng. Một phát trúng gần tim và anh ta chết trên đường cấp cứu. Cô gái Ý đi cùng anh ta cũng bị thương. Cô là nhân viên tư vấn của một tổ chức thiện nguyện. Cô đến giúp vì anh bạn ngoại quốc không nói rành tiếng Ý.

“Ở mọi nơi trên thế giới, sự tàn ác đều như nhau. Lòng tốt có giới hạn. Mà cái ác thì không cùng.” Tôi đắng họng. Không biết bình phẩm ra sao. Mãi sau Elena mới nói: “Cuộc đời này là gì? Chẳng qua chỉ là một hơi thở! Tại sao chúng ta không sống cho cái Tâm mình đẹp? Chỉ vì Tham mà người ta ganh ghét và chém giết nhau. Thế mới biết Phật giáo thật thâm diệu:  Ai biết xem thường danh lợi thì đời sẽ bình an và lúc nào cũng cũng có thể mở lòng chào đón mọi người, với tình thân ái.”

Tôi nhìn vợ mình. Một tình yêu vô bờ bến đang dâng trào. Và bỗng dưng tôi nhớ là khi viết về cái chết của Gấm, chẳng có trang nào mang theo niềm tuyệt vọng. Sức sống của tình yêu luôn có phong cách khác thường, dù biết sắp đi đến đoạn cuối cuộc đời nhưng đôi mắt tình yêu vẫn nhìn đời sống ngời ngời khát vọng, bao dung.

9-

Mới đến Milano “hôm qua” thế mà nay đã sắp về lại Việt nam rồi. Một tháng trôi qua trong nháy mắt. Tôi xuống phố Cassina dé Pecchi để mua sắm vài món đồ. Đang bước, tôi bỗng nghĩ là mấy mươi năm trước những con đường này hoàn toàn xa lạ với tôi, thế rồi trở nên quen, đã đi qua đi lại bao nhiêu lần và bây giờ lại sắp hóa ra xa lạ.

Sự vật biến đổi. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tàn.

Milano-Sài Gòn.

Sài Gòn-Milano.

Hai ngày nữa là có chuyến bay rồi!

Nhắc nhở đó làm loé lên trong trí tôi mấy câu thơ của người bạn vong niên ở Hà Nội mà tôi rất quý:

Cùng chung một chuyến đò ngang

Kẻ thì sang bến người đang trở về

Lái đò lái mãi thành mê

Sang về chẳng biết mình về hay sang.[2]

Trương Văn Dân

Milano-tháng 6 2011

Nguồn : chuyên mục Sống và Viết, tập san Quán Văn 007 tháng 8-2012

Phản đối bỏ điều 4 hiến pháp

DIEU 4 HIEN PHAPGần đây càng ngày càng có nhiều kẻ nhân danh giới trí thức lớn tiếng đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tức là đòi bỏ sự độc quyền lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội. Với tư cách một trí thức của Đảng, tôi kịch liệt phản đối yêu cầu vô lý đó.

Để khỏi nêu những lý luận dài dòng, tôi sẽ kể ra những sự kiện chính trong đời tôi, qua đó quý vị sẽ thấy ngay việc tôi phản đối bỏ điều 4 Hiến pháp là hoàn toàn hợp lý.

Tôi sinh năm 1944 tại một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong một gia đình mà cả tông ti họ hàng chưa từng có ai biết một chữ bẻ đôi. 8 năm sống dưới thời Pháp thuộc, tôi không biết đi học là gì. Hơn 4 năm sau chiến thắng Điện Biên, ở vùng quê tôi cũng chưa có trường lớp gì sất. Mãi đến năm 1956, tôi mới được dự lớp học “i-tờ”, lớp học đầu tiên ở xã tôi, có khoảng 50 học trò, từ đứa mới biết mặc quần đến những anh chị lớn hơn tôi mấy tuổi. Vốn nhanh thuộc bài, tôi lọt vào nhóm gọi theo kiểu Tây bây giờ là “top ten” của lớp, rồi cứ thế học lên đều đều. Đến cấp hai và cấp ba thì tôi không còn thuộc “top ten” nữa, vì hầu như không nhá nổi những thứ như Hình Học, Đại Số hay Vật Lý, Hóa Học, cũng không thích thú gì với ba thứ văn chương lăng nhăng.

Năm 1967, tôi vào đại học. Đại học lúc bấy giờ không phải thi, ai tốt nghiệp phổ thông đều được vào cả. Ngành tôi học là khoa học Mác – Lê-nin, khoa học của mọi khoa học. Đến khi đó, tôi mới phát hiện ra rằng mình thuộc loại nhân tài của đất nước, rằng những thứ Toán Lý Hóa chẳng là gì so với khoa học Mác – Lê-nin. Tôi thật sự tự hào về nghề nghiệp của mình. Ngoài việc học và thi, tôi cũng luôn tỏ ra yêu Đảng, yêu chế độ, luôn kính trọng cấp trên. Giữa khóa học đại học, tôi đã được kết nạp vào Đảng, và đến khi ra trường thì được phân công về dạy “khoa học của mọi khoa học” tại một trường đại học. (Xin nói thêm, vì tôi có hai anh trai đã đi bộ đội nên được ưu tiên ở lại công tác ở hậu phương.)

Do học khoa học Mác – Lê-nin, tôi mới hiểu được rằng trí thức là tầng lớp chỉ gây rắc rối (thậm chí Mao Chủ Xị còn dạy rằng “Trí thức không bằng cục phân”) nên cố gắng không tỏ ra mình là trí thức. Tôi cũng thường xuyên tìm cách gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo chưa qua trường lớp để học hỏi, nhằm củng cố lập trường của giai cấp vô sản trong bản thân. Trong các cuộc họp chi bộ, tôi thường xuyên phát biểu nêu rõ lập trường cách mạng, thường xuyên tự kiểm điểm bản thân một cách nghiêm khắc, mỗi khi có biểu hiện của “bệnh trí thức”. Sau 5 năm công tác, tôi đã vinh dự được bầu (hay đúng hơn là được các anh cấp trên chỉ định) vào cấp ủy của khoa.

Đến cuối những năm 1980, Đảng bắt đầu tỏ ra trọng bằng cấp. Những tấm bằng thạc sĩ, rồi cả tiến sĩ, bắt đầu được coi như một tiêu chuẩn khá quan trọng để “cơ cấu” hay “quy hoạch”. (Những đồng chí quan trọng nhất, vốn nằm rừng từ khi còn trẻ, do không muốn mang tiếng vô học, cũng vội vã trang bị cho mình những tấm bằng tại chức.) Vốn nhanh nhạy, tôi chớp thời cơ xin đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô. Ba năm sau, tôi về nước với một tấm bằng phó tiến sĩ chuyên ngành phát triển đảng. Nửa năm sau, tôi được cử làm phó khoa.

Đến nay, tôi đã được phong phó giáo sư, là trưởng khoa lý luận chính trị ở trường đại học, đồng thời là ủy viên hội đồng lý luận của tỉnh nhà. Lương của tôi vào loại cao nhất nhì trong tỉnh, mỗi tháng mười mấy triệu, lại còn tiền thỉnh giảng ở các nơi, tiền làm đề tài khoa học cấp tỉnh, cấp bộ, tiền phúc lợi. Xin nói nhỏ, đôi khi còn có cả tiền “chống trượt” trong các đợt thi học phần và đặc biệt là tuyển sinh. Bình quân mỗi tháng thu nhập của tôi vào cỡ “dăm chục”, tức là bằng thu nhập của gia đình nông dân trong gần chục niên (hơn vài thằng bạn cũ nay đang làm việc ở Tây Âu).

Tôi được như vậy là nhờ có Đảng. Thử hỏi, nếu Đảng ta không độc quyền thống trị, tức là đa đảng, thì với cái vốn tri thức thuần chính trị như tôi, ai sẽ cấp lương cho tôi? Ai sẽ thay Đảng ta nuôi tôi đàng hoàng sung sướng như vậy? Cho nên, tôi kiên quyết phản đối bỏ điều 4. Tôi hoàn toàn đồng ý với phát biểu của một đồng chí lãnh đạo: “Bỏ điều 4 là tự sát”.

Tuy vậy, tôi cũng có cái khó của tôi. Đó là cô vợ tôi. Ả làm nghề kinh doanh tự do. Trước đây, thu nhập của tôi thấp hơn nên ả thường chê cái nghề của tôi. Bây giờ đến thời buổi kinh doanh tự do khó khăn, thu nhập của ả chỉ còn bằng một phần của tôi, nên ả không còn chê tôi về mặt đó được nữa. Tuy vậy, tôi rất buồn vì ả chưa bao giờ phục cái nghề lý luận chính trị của tôi. Ả bảo lý luận hay lý loạn, hay lú lẫn, bây giờ là thế kỷ thứ bao nhiêu rồi mà lúc nào cũng cứ nhai đi nhai lại mấy cái câu giáo điều từ đầu thế kỷ mười chín (có lúc tức lên, ả còn bảo “nhai như chó nhai giẻ rách”).

“Chính quyền của dân, do dân, vì dân a? Mấy năm trước thì “xây dựng xã hội công bằng dân chủ văn minh”, bây giờ lại đảo thành “xây dựng xã hội dân chủ công bằng văn minh”, rồi cho là phát minh nhớn. Trò hề!” – ả đua cái mồm ra, giả giọng lãnh đạo nói.

Tôi bảo:

“Cô thì hiểu chó gì. Làm sao cô hiểu được cái sâu sắc trong việc đảo chữ ấy. Cả một sự thay đổi chiến lược chứ không à. Người ngu thì làm sao thấy hiểu được cái sâu sắc. Mà cô, bộ cô định diễn biến hòa bình hả?”

“Có ông ngu thì có. Diễn biến hòa bình không thích, lại thích diễn biến chiến tranh à?”

Có lần, cãi nhau chán, ả ta lại giễu cợt cái bằng phó tiến sĩ chính trị của tôi:

“Người ta bảo con bò đi Tây cũng thành phó tiến sĩ. Phó tiến sĩ toán lý còn vậy, huống hồ cái phó tiến nói leo, nhai lại của ông.”

Vừa cú, vừa bí, tôi bảo:

“Con bò đi Tây cũng thành phó tiến sĩ còn hơn con bò không đi Tây cũng thành tiến sĩ nhé…”

Thật bất ngờ, ả ta không những không tức mà còn lăn ra cười:

“Thì cũng cái giống bò với nhau…”

Đấy, vợ tôi là thế đấy. Chồng thì một lòng một dạ theo Đảng, vợ thì cứ muốn theo phản động. Có lúc tôi thực sự hoang mang, không biết nên thế nào: không bỏ ả ta thì không trung thành với Đảng, mà bỏ thì ở với ai bây giờ? Có đêm, tôi mơ tôi bắn chết ả, tỉnh dậy toát hết mồ hôi. Đêm khác thì lại mơ ả bắn tôi, tôi choàng dậy thét lên, ả hỏi chuyện gì, tôi không dám nói.

Vì ả, đã có mấy lần tôi bị chi bộ phê bình không biết giáo dục vợ.

Gần đây, ả còn học theo cái lối của bọn trí thức phản động, nói phải bỏ điều 4. Tôi căm lắm, nhưng không nói gì, vì không muốn nghe ả giễu cợt nữa. Nhưng tôi thầm nghĩ: nếu xảy ra cuộc chiến sống mái giữa phe ủng hộ và phe phản đối điều 4, có lẽ tôi phải giết ả thật. Thà mất vợ chứ kiên quyết không để điều 4 bị loại bỏ.

NGÔ TIẾN SĨ

Cựu hoàng Bảo Đại và người vợ cuối cùng

Cựu hoàng Bảo Đại và bà Monique Baudot

Cựu hoàng Bảo Đại và bà Monique Baudot

Sau ngày 23-10-1955, thông tin kết quả cuộc “trưng cầu dân ý” truất phế Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm lên làm quốc trưởng đến tai cựu hoàng đang ở tại nhà riêng trên đường Maurice Barrès (Neuilly, Paris).

Bảo Đại bàng hoàng. Ông vẫn còn nhớ như in, chỉ cách đó không đầy một năm, trong lá thư đề ngày 10-11-1954, Ngô Đình Diệm đã hứa sau khi được giao quyền nếu “Ngô Đình Diệm có làm điều gì trái ý, quốc trưởng có thể cách chức ngay”. Không ngờ… Bên cạnh kết quả trưng cầu dân ý với 5.721.735 phiếu truất phế Bảo Đại và 63.017 phiếu không chịu truất phế, báo chí lại còn đăng tấm ảnh chân dung “Quốc trưởng Bảo Đại” đã bị người của Diệm chà đạp lăng nhục trên đường phố Sài Gòn. Kể từ ngày đó cựu hoàng rơi vào tình trạng mất ngủ triền miên và bắt đầu sống trong nỗi trầm uất.

Cựu hoàng được chữa trị đủ loại thuốc mà vẫn không ngủ được. Cuối cùng người ta đưa cựu hoàng sang Thụy Sĩ chạy điện và uống một loại thuốc đặc biệt. Trước khi chữa trị cho cựu hoàng, người ta bảo: “Chạy điện và uống thuốc của Thụy Sĩ, chữa bệnh mất ngủ xong, tính tình của cựu hoàng sẽ thay đổi”. Gia đình cựu hoàng hết sức lo lắng nhưng không thể làm gì khác hơn.

Sau thời gian chữa bệnh, cựu hoàng sống với gia đình như một người khách không mời. Vợ con đều muốn xa lánh ông. Cuối cùng để cho ông được “tự do” – một đồ đệ của cựu hoàng từ thời lưu lạc bên Hồng Kông (1947-1948) là Bùi Tường Minh đi thuê cho ông một căn hộ trong cao ốc 29 Fresnel, quận 16 – Paris. Căn hộ chỉ có một phòng ngủ, một phòng khách nhỏ, một bếp và một phòng tắm chật hẹp. Cũng may, tuy nhỏ nhưng căn hộ ở trên một đường phố yên tĩnh, sang trọng, ngay sau lưng Tòa đại sứ Iran rất thuận tiện. Cựu hoàng “ra ở riêng”, lúc đầu còn tiền bạc nên kẻ lui người tới thăm viếng, sau hết tiền, bệnh nằm một mình không một người mua giúp bánh mì ăn sáng.

Mối tình Bảo Đại – Monique

Giữa lúc khó khăn ấy, cô Monique Baudot (sinh năm 1946) xuất hiện. Về tiểu sử của Monique có nhiều nguồn. Báo chí Pháp viết cô từng làm tuỳ viên báo chí trong một tòa đại sứ. Các chính khách từng làm việc với cựu hoàng và sau năm 1975 có nhiều dịp gặp ông (như tướng Sài Gòn Trần Văn Đôn) thì bảo Monique chỉ là một cô bồi phòng. Chính nhờ làm bồi phòng ở cao ốc 29 Fresnel nên cô mới biết được có một ”ông vua lưu vong” bệnh hoạn không người chăm sóc, cô đến giúp đỡ và trở thành người thân cận nhất của cựu hoàng suốt mấy thập niên cuối đời.

Từ khi hai người ăn ở với nhau (bắt đầu từ những năm 1970) cuộc sống vật chất của cựu hoàng và Monique rất khó khăn. Monique chạy xin cho cựu hoàng được một trợ cấp cho người già, mỗi tháng lãnh khoảng trên dưới 7.000 frs. Sau này ông J. Chirac lên làm thị trưởng Paris, tăng phụ cấp cho cựu hoàng lên 12.000frs nhưng vẫn không giải quyết hết khó khăn. Sống trong hoàn cảnh vật chất thiếu thốn cựu hoàng không hề than vãn. Hằng ngày bà Monique ôm quần áo bẩn đi giặt ở các máy giặt công cộng. Buổi sáng cựu hoàng ăn pain sec (bánh mì không) đích thân hỏi cựu hoàng có cảm tưởng như thế nào về cuộc sống khó khăn của mình, ông bảo: “Tôi đã thoái vị từ lâu, về làm dân Việt Nam. Trong khi đa số dân Việt Nam còn thiếu thốn, thì công dân Vĩnh Thụy làm sao có cuộc sống khá hơn!”.

Cựu hoàng không quan tâm đến đời sống kinh tế nhưng bà Monique Baudot thì nghĩ khác. Bà tìm mọi cách để có thu nhập thêm. Bà đòi tiền những người muốn đến gặp và Phỏng vấn cựu hoàng. Bà mời tướng Fond viết giúp hồi ký Con rồng An Nam cho cựu hoàng và bán cho Nhà xuất bản Plon. Để có đủ tư cách pháp lý “chiếm độc quyền” Bảo Đại, nhiều lần Monique yêu cầu cựu hoàng làm giấy kết hôn với bà. Nhưng chuyện ấy không thực hiện được ngay vì bà Từ Cung – thân mẫu của Bảo Đại -đang còn sống ở Huế không đồng ý.

Từ sau ngày thống nhất đất nước (1975), người Việt Nam sống lưu vong ở Âu Mỹ khá đông. Người ta đã nghĩ đến chuyện mời cựu hoàng Bảo Đại làm lãnh tụ của họ, nhưng ông từ chối mọi hoạt động chính trị, muốn sống yên thân cho đến khi nhắm mắt. Tuy vậy, những người này vẫn không bỏ cuộc. Đầu năm 1982, người ta bày ra chuyện mừng sinh nhật cựu hoàng bằng cách mời ông sang thăm nước Mỹ. Mục đích của chuyến đi được nêu lên rõ ràng: “1. Để cho người Việt Nam ở Mỹ biết Việt Nam còn có một vị cựu hoàng khỏe mạnh; 2. Nhân dịp sang Mỹ, với tư cách ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, cựu hoàng cảm ơn chính quyền và nhân dân Mỹ đã giúp đỡ đồng bào Việt Nam trong việc định cư”. Thấy hai mục đích ấy không liên quan gì đến chính trị, cựu hoàng đồng ý. Bà Monique nghe vậy liền bắt chẹt: Nếu Bảo Đại không làm giấy kết hôn với bà và không cho bà đi Mỹ thì bà sẽ không cho Bảo Đại ra khỏi nhà. Lúc này bà Từ Cung đã qua đời, không còn trở ngại nào nữa, Bảo Đại đem Monique Baudot ra Tòa Đốc lý quận 16, Paris đăng ký kết hôn. Hai ông bà được cấp giấy kết hôn với nội dung: “Hôm nay là ngày 19-1-1982 đã diễn ra việc thành hôn của hoàng thân Vĩnh Thụy cũng gọi là Hoàng thân Bảo Đại, sinh ở Huế (Việt Nam) vào ngày 23-10-1913, con trai của Khải Định và Từ Cung (đều đã mất) và cô Monique Marie Eugène Baudot, sinh tại Saint Amand Montrond vào ngày 30-4-1946, con gái của ông Lucien Henri Baudot và Hélène Marie Madeleine Legeai. Giấy đăng ký kết hôn gởi từ ngày 14-1-1982”.

Monique đã trở thành vợ chính thức của cựu hoàng Bảo Đại. Hoàng hậu Nam Phương được triều đình nhà Nguyễn đứng ra cưới cho Bảo Đại (1934) nhưng không làm giấy kết hôn. Các bà “thứ phi” có con với cựu hoàng nhưng không ai có giấy kết hôn cả. Theo luật pháp nước Pháp, chỉ những người có giấy kết hôn mới được công nhận là vợ chính thức. Do đó, người Pháp chỉ công nhận Monique Baudot là vợ của Hoàng thân Vĩnh Thụy mà thôi.

Những chuyện nhập nhằng trong chuyến đi Mỹ

Vừa nhận được giấy kết hôn, hai ông bà Bảo Đại – Monique Baudot đáp tàu bay qua Los Angeles (Mỹ) ngay, được vài trăm bà con Nguyễn Phước tộc và đồng bào Việt Nam tại Mỹ đón tiếp thân mật. Sáng hôm sau, có người gợi ý Bảo Đại lên tiếng ủng hộ lực lượng chống chính quyền Việt Nam ở quốc nội, Bảo Đại từ chối và nhắc lại rằng:

– Tôi qua Mỹ thăm đồng bào, thăm nước Mỹ, chỉ có vậy!

Hôm sau, trong một cuộc tiếp tân, bà thị trưởng thành phố Westminster trao tặng chiếc chìa khóa của thành phố cho Bảo Đại. Ông cảm ơn bằng tiếng Việt: “Đây là lần thăm viếng nước Mỹ đầu tiên của tôi. Tôi qua thăm đồng bào tôi. Tôi thay mặt người Việt Nam cám ơn chính quyền và dân chúng Mỹ đã dành cho dân Việt Nam lưu vong sự giúp đỡ nồng hậu để họ tạo lại đời sống mới tại nước này”.

Từ lâu người ta nói “Bảo Đại đã quên hết tiếng Việt, ông chỉ biết ăn chơi”. Không ngờ hôm ấy người ta nghe ông nói tiếng Việt bằng giọng Huế rất rành rẽ, tình cảm. Những lời ông nói ngắn gọn, có tính cách ngoại giao nhưng đầy đủ ý nghĩa, làm cho những người Mỹ có mặt trong buổi tiếp tân hài lòng.

Sáng hôm 23-1-1982, cựu hoàng Bảo Đại được mời đến dự lễ khai mạc hội chợ tại Westminster, được bà thị trưởng mặc áo dài Việt Nam đón tiếp hết sức thân mật. Đến lúc đó Monique Baudot cho Bảo Đại biết bà đã gặp một cựu nhân viên OSS (tiền thân của CIA) về hưu tại Minaco. Ông này tiết lộ có một số dân biểu Mỹ ủng hộ Bảo Đại, nhân dịp qua Mỹ, Bảo Đại nên đến Hạ viện Mỹ điều trần đòi Chính phủ Mỹ bồi thường 5 triệu Mỹ kim tài sản của Bảo Đại bị mất, vì Mỹ ủng hộ Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại hồi năm 1955. Người bày cho Monique là ông Hilaire du Berrier. Vốn bản tính nhu nhược, cho nên khi nghe bà Monique nói vậy Bảo Đại cũng hứa sẽ làm. Nhưng không ngờ… có một vài chuyện trục trặc diễn ra.

Một hôm, cựu hoàng vào thăm cửa hàng Thanh Lan của người Việt Nam. Vợ chồng chủ cửa hàng xuất thân trong một gia đình lớn ở Huế có cảm tình với cựu hoàng, rất hân hạnh được đón cựu hoàng đến thăm. Cửa hàng tặng cho cựu hoàng một món quà sáng giá và không để ý gì đến Monique Baudot theo sau Bảo Đại. Vừa ra khỏi cửa hàng, người ta nghe Monique Baudot nói với Bảo Đại: “Dân Việt của ông không ra gì”. Những người trong ban tổ chức đón tiếp cựu hoàng nghe thế không ai hiểu vì sao lại có sự thể như thế. Tiếp đến cựu hoàng dự một buổi tiệc do ông bà Robert Kane khoản đãi tại nhà riêng Tiburon vùng San Francisco. Trong số thực khách có cả ông bà Brochand, Tổng Lãnh sự Pháp, và một số người Mỹ biết nói tiếng Pháp. Bà Kane chủ tọa một bàn tiếp Bảo Đại và một số thực khách, bàn thứ hai do ông Kane chủ tọa tiếp Monique và một số thực khách khác. Không ngờ, khi mới ngồi vào bàn Monique tỏ ra bực bội, vặn vẹo hỏi mọi người tại sao không sắp xếp cho bà ngồi gần Bảo Đại. ”Dù sao tôi cũng là vợ của ông Bảo Đại kia mà!”. Một người có trách nhiệm đưa cựu hoàng đi thăm viếng các nơi trả lời: ”Đây là cái phòng tiệc chứ không phải phòng ngủ. Chủ nhà người ta sắp xếp như vậy là phải”.

Monique tức giận, bất ngờ nắm cái chéo khăn trải bàn ăn kéo một cái xoạt, thức ăn dọn trên bàn ngả nghiêng, đổ tung tóe ra bàn. Cả phòng tiệc vô cùng ngạc nhiên. Riêng cựu hoàng thì ngồi thản nhiên xem như không có chuyện gì xảy ra. May mắn ông Kane kịp thời hiểu được vấn đề. Ông xin lỗi mọi người và nhận lỗi vô ý đã trải cái khăn bàn không đúng cách nên mới có chuyện không hay này. Buổi tiệc mất vui nhưng cuối cùng cũng diễn ra đúng bài bản cho đến lúc kết thúc.

Hôm sau, ban tổ chức đón tiếp chất vấn Bảo Đại:

– Hôm qua bà Monique nói bà ấy là vợ của Ngài. Vậy có đúng không?

Cựu hoàng thản nhiên đáp:

– Đúng. Trước khi qua Mỹ một ngày, bà ấy và tôi đã có giấy kết hôn!

– Vậy, tại sao Ngài không nói cho chúng tôi biết trước để chúng tôi sắp đặt nghi lễ, nếu bà ấy là vợ Ngài thì chúng tôi đã sắp đặt đúng phép sẽ không xảy ra những chuyện vừa qua.

Cựu hoàng Bảo Đại trả lời tỉnh bơ:

– Phần nghi lễ, tùy theo trường hợp, lúc là thơ ký, lúc là vợ.

Đến lúc đó người ta mới hiểu đối với cựu hoàng Bảo Đại, lúc ở nhà Monique Baudot là vợ, khi đi ra ngoài, trong các cuộc tiếp tân, bà ấy chỉ là một cô thư ký. Đó là cách đối xử tồn tại hàng chục năm qua của Bảo Đại dành cho Monique Baudot. Nhưng từ sau khi bà ấy nắm được cái giấy kết hôn trong tay rồi thì bà không cho phép Bảo Đại đối xử với bà như thế nữa. Chính vì thái độ ỡm ờ, không dứt khoát của Bảo Đại về chuyện bà vợ mà chuyến sang Mỹ của Bảo Đại đã phải chấm dứt sớm. Chương trình đi Florida và Washington D.C. bị hủy bỏ. Do đó, chuyện Bảo Đại đến Hạ viện Hoa Kỳ xin bồi thường 5 triệu Mỹ kim cũng không diễn ra.

Nguồn: Internet

Năm 2013 hứa hẹn tiếp tục là một năm khó khăn về kinh tế tại nhiều khu vực trên thế giới.

QUAN NOI DAY SYRIA

QUAN NOI DAY SYRIA

Lyse Doucet, phóng viên quốc tế

Quý vị còn nhớ cụm từ “trục ma quỷ” không? Năm nay sẽ có các quyết định khó khăn về Syria, Iran và Bắc Triều Tiên.

Năm 2012 kết thúc với những tuyên bố mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo phương Tây rằng họ sẽ tăng cường ủng hộ quân nổi dậy Syria.

Năm nay sẽ là năm hậu-Assad nhưng sự “chuyển đổi” sẽ kéo theo nhiều đổ máu.

Và liệu điều gì sẽ xảy ra nếu đàm phán về chương trình hạt nhân của Iran không thành công vào mùa Xuân?

Thủ tướng Benjamin Netanyahu đang trên đà chiến thắng trong bầu cử vào tháng Giêng và sẽ thúc giục thế giới ra tay với Iran.

Các cuộc nổi dậy trong thế giới Arab sẽ vẫn là chủ đề tin tức chính nhưng tôi quan tâm nhiều hơn tới chuyện Hoa Kỳ và Trung Quốc hợp tác hay đối đầu ở Thái Bình Dương.

Mark Mardell, Biên tập viên Bắc Mỹ

Kinh tế Hoa Kỳ sẽ phục hồi đáng kể và điều đáng ngạc nhiên là sản xuất sẽ đóng vai trò quan trọng.

Điều này chủ yếu nhờ vào sự độc lập về năng lượng của Hoa Kỳ.

Châu Âu sẽ tiếp tục đi giật lùi.

Liệu Tổng thống Barack Obama có mạnh bạo và quyết tâm thực hiện các mục tiêu nhằm để lại di sản đáng kể không? Tôi nghĩ là có.

Khi John Kerry trở thành Bộ trưởng Ngoại giao, ông sẽ muốn để lại dấu ấn và nếu cựu Thượng nghị sỹ Đảng Cộng hòa Chuck Hagel trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, nó sẽ thu hút sự quan tâm của cánh hữu, vốn coi ông Hagel là kẻ chống lại Israel.

Tôi nghĩ tân lãnh đạo Tập Cận Bình ở Trung Quốc là luồng gió mới về kiểu cách chứ không mới thực chất.

Stephanie Flanders, biên tập viên kinh tế

Khu vực đồng euro sẽ khá lên nhưng châu Âu vẫn là câu chuyện lớn do những lo ngại về Tây Ban Nha và Ý cũng như sự vật lộn giữa Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức về chiến lược kinh tế.

Tân lãnh đạo Trung Quốc chỉ là ‘luồng gió mới’ về hình thức

Các thị trường ở Châu Âu có nhiều khả năng hồi phục và người ta sẽ đặt câu hỏi tại sao niềm tin chưa trở lại với Anh, nơi ngày càng có nhiều ý kiến ủng hộ Anh rời bỏ Liên hiệp Châu Âu.

Tại Châu Á, nếu ông Kazumasa Iwata trở thành thống đốc của Ngân hàng Nhật Bản, ông có thể mang lại một kỷ nguyên mới của ngân hàng trung ương trong đó tăng trưởng sẽ được ưu tiên ngay cả khi có nguy cơ lạm phát. Nhưng khả năng tăng trưởng ở Nhật Bản là không nhiều.

James Robbins, phóng viên ngoại giao

Cuộc nội chiến ở Syria sẽ tồi tệ hơn và kéo theo bạo lực sắc tộc và tôn giáo.

Chính thể Assad sẽ sụp đổ.

Iran tiến gần hơn tới khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân. Bên ngoài sẽ không can thiệp vào Iran trong năm 2013 nhưng gần tới mức như vậy.

Triển vọng có được thỏa thuận giữa Israel và Palestine tiếp tục giảm đi.

Ở Châu Âu, Thủ tướng Đức Angela Merkel sẽ tái đắc cử.

Còn ở Ý, Pier Luigi Bersani có thể trở thành thủ tướng và cùng với ông Mario Monti lập ra chính phủ mới.

Tân chính phủ cần cải tổ nước Ý vì đây là nước quá lớn để không cứu nhưng cũng quá lớn để cứu được.

Rory Cellan-Jones, phóng viên công nghệ

Tổng giám đốc Marissa Mayer đang vực dậy Yahoo

Mạng internet sẽ thực sự di động khi số người vào mạng bằng thiết bị di động nhiều hơn bằng máy tính và cuộc chiến giành quyền kiểm soát internet sẽ càng khốc liệt.

Hệ điều hành Android của Google và iPhones cũng như iPads của Apple sẽ thống lĩnh thị trường.

MARISSA MAYER

MARISSA MAYER

Điện thoại Windows 8 và Blackberry 10 của RIM, sẽ ra mắt vào tháng 1, sẽ tranh giành vị trí thứ ba cho dù cả hai loại này sẽ không tạo ảnh hưởng lớn tới hai hệ điều hành đầu bảng.

Nữ Tổng giám đốc 37 tuổi của Yahoo, Marrissa Mayer đang bắt đầu để Yahoo hoạt động tốt hơn.

Tại HP, Tổng giám đốc Meg Whitman có thử thách còn lớn hơn – đó là vực dậy công ty đã đánh mất vị trí nhà sản xuất máy tính lớn nhất thế giới.

BBC