Trích đoạn: “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội”

Vị lãnh đạo thiên tài nhất, người anh hùng kiệt xuất nhất của chủ nghĩa Mác Lênin chính là Mao Trạch Đông.

Vị thánh sống ấy người tỉnh Hồ Nam, mặt tròn, da vàng như nghệ, và đặc biệt cái dương vật của ngài đỏ như máu.

Theo thống kê của Tân Tử Lăng, tác giả cuốn “Mao Trạch Đông, ngàn năm công tội” xuất bản tháng 7/2007 thì họ Mao đã giết chết tổng cộng 57 triệu 550 ngàn người Trung Quốc. Tân Tử Lăng nguyên là một đại tá, cán bộ giảng dạy trường đại học Quốc phòng Trung Quốc.

Cái con số năm mươi bảy triệu năm trăm năm mươi ngàn người ấy được chia ra như sau: cuộc Cách Mạng Đại Nhảy Vọt năm 1959-1962… làm chết đói 37.550.000. Hai mươi triệu nạn nhân còn lại đã bỏ mạng trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa Vô sản.

Xin trích một đoạn trong chương 18 và 19 mang tên Địa Ngục Trần Gian trong tác phẩm MAO TRẠCH ĐÔNG NGÀN NĂM CÔNG TỘI như sau:

“Số người chết đói ở Trung Quốc trong thời gian 1959-1962 chiếm 5,11% dân số cả nước. Sáu tỉnh nặng nhất là An Huy 18,37%, Tứ Xuyên 13,07%, Quý Châu 10,23%. Hồ Nam 6,81%, Cam Túc 6,45%, Hà Nam 6,12%.

Sáu tỉnh nhẹ nhất là Hà Bắc (gồm Bắc Kinh, Thiên Tân), Giang Tây, Thiểm Tây, Cát Lâm, Chiết Giang. Sơn Tây. Sự chênh lệch này liên quan rất lớn tới tố chất của các bí thư tỉnh ủy: nơi nào bám sát đường lối cách mạng của Mao thì tỉ lệ người chết đói càng nhiều.

Nạn ăn thịt người đã diễn ra ở Tứ Xuyên và nhiều nơi khác: khi chôn người chết chỉ vùi nông, tối đến bới lên xẻo lấy thịt ăn, hoặc tang chủ đã lóc thịt thân nhân trước khi mai táng. Tàn nhẫn hơn là nạn ăn thịt trẻ con, điển hình là chuyện xảy ra ở Đội sản xuất số 1. Đại đội 5, Công xã Đông Dương huyện Sùng Khánh, Khu Ôn Giang, tỉnh Tứ Xuyên.

Theo lời Trịnh Đại Quân nguyên cán bộ Ban công tác nông thôn huyện Sùng Khánh, Đội sản xuất trên có 82 hộ, 491 nhân khẩu, chỉ trong một năm từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 11-1960 đã có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi ở nơi này.

83% số gia đình ở đội này từng ăn thịt người. Chuyện đau lòng đó diễn ra trong bối cảnh lương thực hết sạch, mọi người từ nhiều ngày đã phải ăn giun dế, côn trùng, lá cây vỏ cây, cỏ dại và cả đất thó.

Kế toán Vương Giải Phóng là người đầu tiên phát hiện vụ ăn thịt trẻ con. Hồi đó tuy nhà ăn tập thể thực tế đã ngừng hoạt động vì không còn lương thực nữa nhưng lệnh cấm các gia đình nấu nướng vẫn còn hiệu lực, bếp nhà ai nổi lửa là phạm pháp. Đêm ấy, đến lượt Vương cùng hai người khác đi tuần. Các mái nhà phủ trắng tuyết đầu mùa, sáng hẳn lên khi vầng trăng nhô ra khỏi đám mây. Nhóm tuần tra phát hiện một dải khói mỏng tỏa ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa. Họ chia nhau bao vây vu hồi, rồi đồng loạt bấm đèn pin nhảy vào nhà, nổ một phát súng cảnh báo: “Tất cả ngồi im!”

Đèn dầu được châm lên, nhà Nhị Oa có 8 nhân khẩu, đã chết đói 2 còn lại 6 người nhưng lúc này chỉ thấy có 5.

Thành viên thứ 6 là bé gái Thụ Tài 3 tuổi vừa bị giết hại, xẻ ra lấy thịt, đang luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài ăn ngấu nghiến. Khi cả năm người lớn bé bị trói thành một xâu đưa về trụ sở đại đội sản xuất thì trời đã sáng bạch. Cán bộ lãnh đạo địa phương sau khi nghiên cứu cân nhắc, đã quyết định yểm vụ này đi vì sợ kỷ luật. Sau một ngày bị giam giữ, cả nhà Mạc Nhị Oa lại được tha. Dân làng bàn tán cho rằng chính phủ ngầm cho phép ăn thịt trẻ con. Thế là nạn ăn thịt trẻ con lan tràn. Do “trọng nam khinh nữ” họ chỉ ăn bé gái, giữ lại bé trai. Không những ăn thịt mà còn nghiền vụn xương đầu, tay, chân ăn cho bằng hết. Kẻ nhẫn tâm thì làm thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì “gạt nước mắt đánh đổi với hàng xóm”, trao con mình cho người khác ăn, mang con người khác về làm thịt.

Một số xã viên “nhìn xa trông rộng” đã đi bắt cóc trẻ con vùng lân cận về ăn, hoặc gài bẫy trẻ con như bẫy thú, kể cả sử dụng một loại thuốc nổ xưa kia dùng để bẫy sói: trẻ nhỏ nhặt được chiếc “kẹo” mùi vị thơm ngon, cho vào miệng nhai liền phát nổ. Đầu, mặt tan tành, khi gia đình hay tin tìm đến thì chỉ còn lại vũng máu.” (Hết trích.)

Sau đây là trích đoạn những scènes “hot” nhất trong cuộc Đại Cách Mạng Văn hóa Vô sản năm 1966-1967 tại Trung Quốc do Mao chủ tịch cùng vợ là Giang Thanh vừa là tác giả kịch bản vừa là đạo diễn, đã giết chết 20 triệu người:

“Bí thư chi bộ bắt đầu đọc tên, lần lượt giết từng người một. Lối hành hình của chúng mang “đặc sắc bản địa”, bắt nạn nhân quỳ bên miệng hang, dùng xà beng quật vào sau não cho gục xuống rồi đạp xuống hang.

Người thứ ba là Tưởng Hán Chính, anh sợ hãi không lê nổi đôi chân, bị dân quân lôi đến cửa hang. Mấy đứa trẻ sợ quá, vừa khóc vừa la hét. Người thứ tư là thầy thuốc đông y Tưởng Văn Phàm, ông ung dung xin ngụm nước để đi vào cõi chết. Dân quân quát: “Làm gì có nước cho mày uống!”. Ông nói: “Trước khi chết tôi xin ngụm nước có gì quá đáng đâu, ngày xưa khi chặt đầu còn cho 3 chiếc bánh bao nóng!” Vừa nói xong đã bị đạp xuống hang sâu.

Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng nghe tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đống xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình.

Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới, nơi có những ngóc ngách. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết. Một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm lạnh lẽo.

Anh Tưởng đã hoảng loạn, sợi dây thép trói chặt quá không làm sao cởi ra nổi, anh đi đi lại lại trên đống xác người, miệng lảm nhảm như mê sảng.

Chẳng biết mấy ngày đêm qua đi, cả ba đứa trẻ lịm dần rồi tắt thở. Anh Tưởng khát, chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống, song anh không uống nổi, gục đầu xuống, lìa đời!

Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết. Và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần.”

*

Với kỷ lục giết 57.550.000 người, Mao Trạch Đông qua mặt Stalin và Hitler đoạt huy chương vàng Olympic Bắc Kinh năm 1960 môn “giết người hàng loạt”

Khi tư tưởng Stalin và Mao Trạch Đông vào đến Kampuchia thì số người bị thảm sát có giảm xuống do Kampuchia dân số ít ỏi nhưng mức độ tàn khốc trong nhà tù Toul Sleng của Khmer Đỏ cũng không hề giảm sút. Tên trùm Pol Pot của Khmer Đỏ bắt chước nhóm Hồng vệ binh của Mao Trạch Đông dùng cuốc đập vào gáy dân Kampuchia rồi đạp xuống hố. Rõ ràng là cái đám đệ tử chỉ học mót chủ nghĩa Mao được vài chục trang mà đã biến thành ma quỷ, thử hỏi những kẻ học thuộc lòng thứ tư tưởng điên dại ấy thì chúng sẽ biến thành gì?

*

Ngày nay, chủ nghĩa ấy không còn trực tiếp giết người hàng loạt như xưa nữa nhưng nó lại phát triển thành một chủ nghĩa nô lệ hiện đại, tạo ra một thảm họa thâm căn cố đế nhất, dai dẳng nhất, toàn diện nhất, bao trùm lên nhiều thế hệ của bốn dân tộc bất hạnh là Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam: đó là sự sợ hãi, sự hèn mạt trước quyền lực và sự vô cảm trước áp bức bất công và khổ đau của đồng loại.

HÀ MINH

Nhạc sĩ Tô Hải kể về buổi biểu diễn đầu tiên bản hợp xướng của ông.

Và ngày ra mắt “nội bộ” tại Thư Viện Trung Ương để xét duyệt đã đến. Kết quả thật bất ngờ! Mặc cho những ý kiến không có thiện chí, Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy được nhiệt liệt hoan nghênh! Có lẽ đây là lần đầu được “xem” một dàn hợp xướng với dàn nhạc lớn và đông người như vậy chăng? Tôi ngồi ở cuối phòng để nghe hiệu quả của hòa thanh 4, 6 bè hát, nghe hiệu quả cụ thể của sự phối hợp đồng, gỗ, dây, gõ… do chính tôi lần đầu tiên viết ra mà rưng rưng nước mắt.

Không phải tôi cảm động vì đã làm được một việc tưởng như không bao giờ có thể làm được. Tôi khóc vì tủi thân, vì nỗi uất ức và cả sự căm thù cái hệ tư tưởng bẩn thỉu của một số kẻ muốn giết tác phẩm ngay trong trứng nước, họ đang ngồi kia, trên hàng ghế đầu để “duyệt” những cái mà họ… chẳng hiểu mô tê gì cả.

Tôi căm thù cái bọn cũng mang danh nghệ sĩ nhưng … sợ kẻ khác giỏi hơn mình, có tác phẩm được hoan nghênh hơn mình. Tôi cũng nghĩ tới những tháng không một xu dính túi, cơm tập thể, áo quần hai bộ, nhịn đói, nhịn khát, thức suốt đêm để chấm cho được một trang tổng phổ, dạ dày đau quằn quại… Còn ở Khu IV xa xôi, vợ tôi lại cho ra đời thêm đứa con thứ ba cũng không một xu dính túi, không một chính sách nào cho diễn viên cả!

Quả là tôi đã làm một việc tự đánh giá mình bằng cái giá cực đắt, cái giá phải trả mãi nhiều năm sau…“Tác phẩm đầu tay” của tôi vậy là đã được hoan nghênh, hoan nghênh trước hết bởi người “xét duyệt” mà quan trọng nhất trong đêm đó có hai nhân vật Hoàng Văn Hoan ([19]) và Nguyễn Chí Thanh. Cả hai ông đều mê văn nghệ…mỗi người một kiểu! Nói cách khác là mỗi ông một “gu” chẳng giống nhau mà cũng…chẳng giống ai.

….. (xin phép cắt một đoạn)

Và, chính tôi đang hồi hộp chờ đợi sự phán xét tác phẩm âm nhạc đầu tay của mình bởi những người chẳng có tư cách gì, chẳng hiểu biết tối thiểu để cho phép nó được ra đời hay đem… chôn sống nó! Một tuần chờ đợi lo âu vì các dư luận không thiện chí làm tôi phát điên. Nào là “Hát gì mà chẳng nghe thấy lời! Chỉ được cái to và dài, còn nội dung nửa cách mạng, nửa tiểu tư sản”… Tệ hơn có ý kiến nội bộ cho đây là “tư tưởng thành tích” của mấy chuyên gia “có vấn đề”.

Cuối cùng, chương trình đêm kỷ niệm 15 năm thành lập Quân Đội 22/12/1959 được quyết định! Cả Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy lẫn Qua Sông Lại Nhớ Con Đò của Tô Hải đều được duyệt! Tiết mục “đinh” sẽ là Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy! Mãi sau này nó vẫn là “đinh” của đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị, vẫn là “tiết mục yêu cầu” của các buổi phát thanh. Tôi nhận được nhiều lời khen của đồng nghiệp, nhất là của các chiến sĩ ở biên giới, hải đảo. Có đơn vị còn đề nghị tặng huân chương ngay cho tác giả vì đã “nói đúng nỗi lòng và niềm tự hào của họ”. Nhưng đặc biệt là nhiều kẻ “không có gì để vượt lên”([21]) đã ra tay tìm cách hạn chế bớt sự ồn ào của việc xuất hiện một tác phẩm “đề cao uy tín” cho một thằng “đầy tư tưởng cá nhân, tự kiêu, tự đại, coi thường mọi người”… là tôi! Và, việc “triệt” tôi bắt đầu ngay đêm ra mắt tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Đêm đó là đêm diễn long trọng nhất, có nhiều cấp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước dự, huy động nhiều đoàn nghệ thuật quân đội và nhân dân tham gia nhất, nhưng không một tác giả nào được mời (thời đó chưa có “lệ” bán vé).

Trước sự coi thường chất xám đến vô văn hóa như thế, một loạt tác giả đã phản ứng và cuối cùng được phát cho một vé… không số (nghĩa là đến “chuồng gà” cũng không). Nhiều anh em chấp nhận nhưng tôi kiên quyết ở nhà! Chuyện sẽ chẳng có gì xảy ra nếu đêm đó tôi cứ nằm mà nghĩ tới thân phận của một “người lính viết thuê”, nghĩ tới số phận của Moussorgsky ([22]) không có được bộ đồ để vào nhà hát dự buổi ra mắt tác phẩm Boris Godunov của mình mà… giận hờn đến ứa máu mắt! Chẳng ai thèm để ý đến tác giả của đêm biểu diễn từ lâu đã thành chuyện “chẳng có gì mà ầm ỹ”.

Nhưng, chuyện động trời đã xảy ra: khoảng 7 giờ tối, có tiếng ô tô phanh kít ở ngoài cổng 13 Lý Nam Đế.

Chuyên gia Mao Vĩnh Nhất hộc tốc chạy lên gác cùng phiên dịch Hà Huy Hiền. Ông như nổi điên khi biết “học trò cưng” của ông không được phép đến dự buổi ra mắt chính thức tác phẩm đầu tay của mình và là “đinh” của đêm biểu diễn. Vì thế, ông bỏ ra về giữa lúc các quan chức đang chúc mừng hai ông thầy có “công lớn” trong đêm biểu diễn qui mô và đồ sộ nhất từ trước đến nay. Một việc làm mà sau này chính ông phải trả giá khi về nước: Ông bị thanh trừng cùng hàng loạt văn nghệ sĩ có tư tưởng tư sản, chống đối lãnh đạo, kể cả chống đối lãnh đạo Việt Nam. Việc này mãi ba năm sau, khi vợ ông, một diễn viên đơn ca, sang biểu diễn tại Việt Nam, tôi đến thăm để gửi cho ông một số xuất bản phẩm có bàn tay ông giúp sức, tôi mới biết. Cơn giận dữ, nhất là những câu chửi bới của ông, mà người phiên dịch chỉ dám tóm tắt lại cho tôi, đã làm tôi dịu hẳn nỗi hờn giận và cảm thấy trách nhiệm của mình trước sự vắng mặt của hai người đã góp sức cho toàn bộ chương trình ca nhạc của đêm biểu diễn long trọng này. Thế là tôi nài nỉ thầy về lại nhà hát vì vắng thầy hôm nay rất không có lợi…cho đứa học trò, nhất là họ biết thầy bỏ nhà hát chỉ vì học trò của thầy không có vé mời, sau đó lại rủ trò đi ăn phở Tạ Hiền nữa thì…nguy to! Trước mắt là nguy to cho tôi! Họ sẽ không bỏ lỡ cơ hội ghép cho tôi cái tội lôi kéo ông thầy “thiếu lập trường” này phản ứng với tổ chức thì… khốn!

Cuối cùng, chính anh phiên dịch Hà Huy Hiền (sau này cũng trở thành nhạc sĩ hội viên Hội Âm Nhạc Việt Nam do nắm rất vững các thứ lý thuyết về âm nhạc qua lớp phiên dịch) đã đề nghị một biện pháp giải quyết là anh nhường vé có số bên cạnh thầy cho tôi, còn anh vào nhà hát bằng vé không số! Có điều là thầy sẽ chỉ còn cách… “im lặng” khi giao tiếp vì đã mất người phiên dịch. Tôi tự ái, không chịu nhận đi bằng chiếc vé không phải của mình, còn thầy cũng “hạ hỏa” sau khi nghe tôi phân tích sự bất lợi nếu hôm nay có đủ các cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng và Quân Đội mà thầy lại bỏ ra về. Không thể gọi là gì khác một thái độ “phản ứng trong quan hệ quốc tế!”

Kết cục, thầy kéo tay tôi thẳng ra xe, chấp nhận giải pháp của Hà Huy Hiền. Tuy nhiên thầy vẫn lầu bầu “Tôi sẽ nói thẳng với ông Võ Nguyên Giáp về cái chuyện coi thường văn nghệ sĩ cực kỳ vô lý này!” Trong xe, tôi cùng Hiền cố nói để thầy rõ ở cái xứ này, chuyện đó là chuyện thường. Quyền lợi và địa vị của một tác giả chẳng là gì. Thầy nói ra chỉ khổ cho tôi sau khi thầy về nước. Họ sẽ “trần” tôi ra trò, cho là do tôi kêu ca phàn nàn với chuyên gia để ông phản ứng…Thầy Mao đành đồng ý.

Tôi tới nhà hát đúng lúc mở màn, đèn dưới khán giả đã tắt, thầy và tôi đi thẳng lên hàng ghế A, hai chỗ dành riêng cho chuyên gia và phiên dịch còn đó. Chúng tôi ngồi xuống giữa lúc chỉ huy Triệu Đại Nguyên bước ra sân khấu sau lời giới thiệu của Hồng Ngọc về cantate Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy của tôi. Thú thật, tôi hoàn toàn phân tán tư tưởng, chẳng hiểu nổi những gì diễn ra trên sân khấu. Đầu óc tôi chỉ nghĩ về hậu quả của việc xảy ra sau khi họ phát hiện vì sao tôi lại có giấy mời để được ngồi ở hàng ghế đầu, dành cho toàn các ông kễnh và chuyên gia, đại sứ các nước bạn? Nói dại nếu có một vụ nổ lựu đạn, có lẽ thủ phạm không ai khác là kẻ đã lén lút chui vào được cái nhà hát không dành cho những kẻ như tôi.

Giờ giải lao, các chuyên gia được mời lên phòng gương nghỉ ngơi xơi nước thì tôi lang thang ngoài hành lang gặp gỡ diễn viên, bè bạn, đồng nghiệp. Tất cả đều chúc mừng sự thành công của cantate bằng lời lẽ nhiệt tình đôi khi… hơi quá đáng! Sự thật một phần do anh em yêu mến tôi, một phần vì chưa bao giờ được nghe một tác phẩm của “ta” tương đối có qui mô, huy động đông đảo diễn viên đến thế. Chính những lời khen “bốc” quá này, cùng hàng loạt thư và đề nghị sau này của chuyên gia, của nhạc sĩ, nhất là của các đơn vị biên phòng với Cục Tuyên Huấn nên tặng huân chương hạng này, hạng kia cho tác giả…đã báo hiệu một tương lai khốn nạn đang chờ tôi!

TÔ HẢI

(trích “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” chương “Những năm tháng không hòa bình”

 

 

 

TỘI “LỢI DỤNG” LÀ TỘI GÌ?

Nếu trong tập thể những người làm luật có vài chục phần trăm là những người có tư duy hợp lý thì có lẽ sẽ không có những tội danh gọi là “lợi dụng”: lợi dụng quyền hạn, lợi dụng chức vụ, lợi dụng tự do ngôn luận,…

Một luật quy định một quyền nào đó cho một lớp người trong xã hội là để lớp người đó sử dụng quyền đó. Luật văn minh sẽ chỉ quy định những quyền hợp lý, và những quyền hợp lý đó càng được thực thi triệt để thì càng có lợi cho đời sống cộng đồng, cho sự tiến bộ của xã hội.

Vậy tại sao người ta lại sợ việc “lợi dụng quyền hạn”? Vì sao Bộ Luật Hình Sự của nhà nước này lại phải dùng đến các tội danh “lợi dụng” để hạn chế bớt việc sử dụng các quyền hợp hiến?

Phải chăng vì việc “lợi dụng” một quyền có nội dung khác với việc thực thi quyền đó? Nếu như vậy thì trong bộ luật phải định nghĩa rõ thế nào là “lợi dụng”. Không có một định nghĩa như vậy, việc khép tội “lợi dụng” hoàn toàn mang tính chủ quan. Những người xét xử khi đó sẽ hành động theo kiểu cậy thế, cậy quyền: vì họ ở trong cùng một hệ thống quyền lực với tập đoàn cầm quyền nắm cảnh sát và quân đội trong tay, họ sẽ truy tố, xét xử và tuyên án theo ý họ. Họ có thể bỏ tù hoặc xử tử bất kỳ ai họ muốn. Cứ khép tội “lợi dụng quyền hạn” là có thể tống giam, khó mà cãi được với họ.

Ta hãy cố hiểu xem khi người ta nói ai đó “lợi dụng” một quyền nào đó thì người nói muốn ám chỉ loại hành vi nào, và gọi hành vi đó là “lợi dụng quyền hạn” có hợp lý hay không. Ta hãy xét ba cấp độ của việc được gọi là “lợi dụng quyền hạn này”.

Cấp độ cao nhất là: (một quan chức hay công chức) làm một việc không có trong quy định về quyền hạn (của người đó).

Hãy xét một ví dụ. Một ông chủ tịch huyện ra lệnh cho công an huyện bắt giam và tra tấn một người bị nghi là phạm pháp. Liệu có nên gọi việc ông ra lệnh là sự “lợi dụng quyền hạn” hay “lợi dụng chức vụ”? Gọi là “lợi dụng quyền hạn” là không đúng, vì ông làm gì có cái quyền hạn đó đâu mà bảo “lợi dụng quyền hạn”? Có chăng là ông đã lừa cấp dưới rằng ông có cái quyền đó. Nhưng cái chính ở đây là ông NGU! Ông chưa hề có ý thức về việc đọc các văn bản pháp quy xem mình được phép ra những lệnh gì. (Mà nói cho đúng thì một quan chức chính quyền cũng không nên “ra lệnh” theo kiểu nhà binh, mà phải điều hành công việc dựa vào luật. Đó mới đúng là quản lý nhà nước theo lối văn minh.) Vì ông quá ngu nên đáng lý ra ông phải bị bãi chức ngay, không cần luận tội theo kiểu ông có “lợi dụng quyền hạn” hay không.

Ở đây ít nhiều có yếu tố của “lợi dụng chức vụ”. Ông đã cậy thế, bắt cấp dưới thực hiện một lệnh trái luật. Tuy nhiên, “lợi dụng chức vụ” hay “cậy thế” là những khái niệm dân dã, không nên dùng để gọi tên các tội hình sự! (Và trong “vụ” này, cần phải xử lý cả những kẻ trực tiếp thi hành lệnh của ông chủ tịch, thậm chí có thể phải xử lý nặng hơn, vì ông chủ tịch chắc chỉ nói mồm, còn trực tiếp có hành động phạm pháp là mấy vị thuộc ngành công an.)

Như vậy, trong ví dụ trên, và nói chung là trong việc một quan chức làm một việc không hề thuộc quyền hạn của mình, hành vi của quan chức đó không nên gọi là “lợi dụng quyền hạn”.

Cấp độ thứ hai là: làm một việc vượt quá quyền hạn.

Một ví dụ: Theo luật định, phóng viên điều tra hình sự chỉ được phép đến những cơ sở dân sự để điều tra những vụ án hình sự; tuy nhiên, một phóng viên thuộc loại đó đã cố tình đột nhập một mục tiêu quân sự thuộc hàng bí mật quốc gia để lấy tin. Trong trường hợp này, anh ta phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng không phải với tội danh “lợi dụng chức vụ”, mà là với tội danh “xâm phạm mục tiêu thuộc hàng bí mật quốc gia”.

Và cấp độ thứ ba là trường hợp thực ra không phạm luật, nhưng than ôi, trong xã hội ta vẫn nghiễm nhiên bị coi là phạm pháp, với tội danh “lợi dụng quyền”. Đó là những thứ gọi là “lợi dụng quyền tự do dân chủ”, “lợi dụng quyền tự do ngôn luận”, v.v.

Điều 4 Hiến Pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: “”Đảng Cộng Sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Điều này trên thực tế cho đến nay vẫn đang có hiệu lực. Tuy nhiên, trong toàn bộ bản Hiến Pháp cũng như trong mọi bộ luật của nhà nước CHXHCN Việt Nam không hề có điều luật nào cấm lập đảng, lập hội. Một điều luật như thế cũng sẽ không bao giờ được công bố, cho dù nhà cầm quyền có muốn đến đâu, bởi vì họ vẫn phải giữ thể diện với thế giới. Việc công bố một điều luật như vậy cho bàn dân thiên hạ thấy rõ một nhà nước mọi rợ, và điều này gây bất lợi cho chính phủ trong những cuộc đàm phán quốc tế.

Ở Việt Nam hiện nay, tất cả các hội đoàn đều do Đảng Cộng Sản lập ra, và khi đã lập rồi thì gần như mọi đối tượng tương ứng đều phải tham gia. Hội Phụ Nữ Việt Nam phải là hội của mọi người thuộc giới nữ. Mỗi người ở tuổi thanh niên đều nghiễm nhiên là hội viên Hội Liên Hiệp Thanh Niên. Không được phép ở ngoài hội, và không được phép thành lập hội khác. Lập đảng khác càng chết.

Ai đó thành lập một hội, sẽ bị khép tội “lợi dụng tự do dân chủ”, và rất dễ phải “bóc lịch” trong tù.

Hiến Pháp 1992 khẳng định quyền tự do ngôn luận của người dân. Tuy nhiên, nhà cầm quyền lại tuyên bố không úp mở về việc không cho phép có báo chí tư nhân. Nhà nước cũng luôn nói rằng người dân có quyền nói lên quan điểm riêng của mình về mọi vấn đề, nhưng nếu ai đó phê phán lãnh đạo Đảng thì người đó liền bị khép tội. Lại vẫn cái tội gọi là “lợi dụng”: “lợi dụng tự do dân chủ”, “lợi dụng tự do ngôn luận”,…

Ở đây, rõ ràng người dân phải hiểu ngầm rằng nhà cầm quyền muốn nói với họ rằng: “Các người được tự do làm mọi việc mà chúng tôi cho phép.” Các quyền gọi là “hiến định” đơn giản được đưa vào để làm vũ khí ngoại giao, còn trong cuộc sống hàng ngày, muốn làm gì đều phải xem cấp trên có ưng hay không. Làm trái ý cấp trên, đặc biệt là cấp trên cùng, đồng nghĩa với phản quốc. “Tự do báo chí” chẳng hạn, chỉ là tự do trong khuôn phép, theo sự chỉ đạo của tuyên huấn. Tự ý nêu quan điểm riêng hoặc đưa tin không theo chỉ đạo là “lợi dụng tự do báo chí”, và đó được xem là tội hình sự!

Như vậy, ở cấp độ thấp nhất, thực chất là cấp độ 0, “lợi dụng” là đồng nghĩa với “sử dụng”. Sử dụng một quyền hiến định theo đúng nghĩa đen sẽ bị quy tội, với tội danh “lợi dụng quyền… ”. Đây là một sự phi lý đến tận cùng, không thể có trong một xã hội văn minh. Và cố nhiên, trong trong trường hợp này thì khái niệm về sự “lợi dụng quyền” theo cách hiểu của nhà cầm quyền càng cần phải bị vứt bỏ.

Tóm lại, hoặc phải định nghĩa rõ ràng thế nào là “lợi dụng quyền”, và chỉ được coi “lợi dụng quyền” là tội, khi định nghĩa cho thấy “lợi dụng quyền” khác hẳn với việc “thực thi quyền hạn”, hoặc bỏ các tội danh “lợi dụng”.

Mà tốt nhất là bỏ hẳn khái niệm về các tội “lợi dụng” trong mọi bộ luật, nếu muốn có sự trong sáng, đàng hoàng và đúng luật trong việc truy tố và xét xử.

Than ôi, đến bao giờ thì nước ta mới có một đội ngũ làm luật tư duy theo cách đó?   

NGUYỄN TRẦN SÂM

Những con chuột cống trong đống rác

Những kẻ chuyên bênh vực cho chế độ thối nát vẫn biết rằng chế độ là thối nát, nhưng họ vẫn ra sức bênh vực cho chế độ thối nát, vì họ nhờ sự thối nát ấy để kiếm lợi cho bản thân. Họ giống như những con chuột cống chuyên sống trong đống rác, nên họ sợ nếu không còn đống rác nữa, thì không thể kiếm ăn. Nếu có ai chê trách: “Đống rác này thối quá! Nên dọn cho sạch đi”, thì họ cãi lại rằng: “Ở đâu cũng có rác! Hãy đi chỗ khác mà dọn!”

NGUYỄN TÔN HIỆT nguốn Tiền Vệ)

Ảnh hưởng của TQ với đoàn kết Asean

Cập nhật: 15:14 GMT – thứ ba, 14 tháng 8, 2012

Các sinh viên lứa tuổi đôi mươi, ngồi sau dãy bàn gỗ cũ kỹ ở thủ đô Phnom Penh của Campuchia, đang cặm cụi ghi bài trong khi giáo viên cao giọng đọc các mẫu câu bằng tiếng ngoại quốc nhằm át tiếng xe cộ bên ngoài.

Không giống như thường thấy tại các nước láng giềng, lớp sinh viên này và nhiều lớp khác cạnh đó không học tiếng Anh mà chọn học tiếng Trung Quốc. Trên các phố, biển hiệu in chữ tiế̃ng Hoa mời chào các khóa học tiếng Quan Thoại cấp tốc giá rẻ. Gua Fa, giáo viên đồng thời là người quản lý trường ngoại ngữ tiếng Trung Ming Fa, nói: “Hồi trước, người ta tới khu này để học Anh văn, nhưng nay thì họ chuyển sang Trung văn”.

“Các sinh viên đều muốn trở thành hướng dẫn viên du lịch, hay phiên dịch tiếng Trung, hoặc nhân viên ngân hàng và nhà hàng.”

Đây là một trong những biểu hiện mới nhất cho ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Campuchia, điều mà một số người cho là đe dọa cho khối đoàn kết của 10 quốc gia Asean. Trung Quốc cũng có vị thễ vững chắc tại các nước nghèo như Lào và Miến Điện, gây quan ngại cho các nước khác trong khối như Việt Nam hay Philippines, vốn đang đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông.

Khi đất nước Campuchia kém phát triển xích lại gần với Bắc Kinh, Asean dường như lo lắng đang trở thành con tin cho ảnh hưởng từ quyền lực kinh tế của Trung Quốc tới các nước nghèo trong khối.

Gua Fa, giáo viên Trung văn tại Phnom Penh

Bà Bonnie Glaser, chuyên gia từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Các vấn đề quốc tế (CSIS) tại Washington DC, nói: “Tuy các dự án hỗ trợ tài chính và phát triển hạ tầng của Trung Quốc có lợi cho cả khu vực, nhưng sự nghi kỵ vẫn cứ tăng lên”.

Bà nhận định: “Hiện cũng có các quan ngại về sự phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc, cũng như lo sợ rằng áp lực về kinh tế sẽ gây đổ vỡ”.

Bị Bắc Kinh chi phối

Trong số ba nước nghèo nhất Asean, Campuchia xem ra là quốc gia nằm dưới tầm ảnh hưởng của Trung Quốc nhiều nhất. Khoảng 40.000 người Campuchia hiện đang học tiếng Trung, theo thống kê của Hội người Khmer gốc Hoa ở nước này. Đây là động thái đón đầu kế hoạch khai trương Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC) vào năm 2015, với mục tiêu thu hút đầu tư vào thị trường ước tính 2 nghìn tỷ đôla với 10 quốc gia và 600 triệu dân.

Heng Guechly, sinh viên một trường tư, nhận xét: “Tiếng Trung có ích hơn là tiếng Anh”. “Hiện nhu cầu rất lớn và Trung Quốc có quan hệ rất tốt với Campuchia, nên ngày càng nhiều người Trung Quốc tới đây làm ăn.”

Thống kê chính thức cho thấy đầu tư từ Trung Quốc vào Campuchia là 1,9 tỷ đôla vào năm ngoái, gấp đôi từ các nước Asean khác, và gấp 10 lần lượng đầu tư từ Hoa Kỳ. Riêng trong nửa đầu năm nay 151.887 khách du lịch Trung Quốc đã tới thăm Campuchia, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái và ngành du lịch của Campuchia hy vọng thu hút một triệu người/năm vào năm 2020.

Nhiều công ty Trung Quốc đã mở nhà máy ở Campuchia, và 70% trong số 330 nhà máy gia công hàng hóa, nguồn thu lớn nhất của Campuchia, là do người Trung Quốc làm chủ. Quan hệ thân cận của Trung Quốc với Campuchia, sau đó với Lào và Miến Điện, đã cho Bắc Kinh một lá phiếu phủ quyết từ bên ngoài đối với các quyết định của khối Asean, nhất là khi khối này luôn chủ trương đồng thuận giữa các thành viên.

Điều này được minh chứng rõ rệt hồi tháng trước khi hội nghị ngoại trưởng Asean tại Phnom Penh đã không ra được thông cáo chung lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của khối. Philippines lên tiếng chỉ trích Trung Quốc là gây áp lực đối với Campuchia nhằm loại hết các câu chữ liên quan tranh chấp Biển Đông khỏi văn bản.

Theo các quan chức ngoại giao có mặt tại hội nghị, Lào và Miến Điện cũng ủng hộ lập trường của Campuchia.

 Chiến lược

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã xích lại gần với Lào, giúp xây đường xá, cầu cống và sân vận động, cũng như cấp học bổng cho hàng trăm sinh viên sang Trung Quốc học đại học.

Cộng đồng người Hoa mở rộng nhanh chóng và ít nhất hai khu vực cờ bạc nhộn nhịp của người Hoa được thiết lập bên trong nước Lào, có cả cảnh sát Trung Quốc đến canh gác.

Tháng trước, thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và Lào tăng tới 40% và các ngân hàng Trung Quốc cho Lào vay 3 tỷ đôla, cộng với kế hoạch xây hệ thống tàu cao tốc trị giá 7 tỷ đôla khác. Chiến lược mà Trung Quốc sử dụng ở Miến Điện cũng tương tự, và vì cấm vận của phương Tây mà quốc gia Đông Nam Á này lại càng xích lại gần Trung Quốc.

Tuy nhiên, nếu phương Tây nới lỏng cấm vận thì sự phụ thuộc miễn cưỡng của Miến Điện vào Trung Quốc có thể sẽ giảm bớt. Đối với Bắc Kinh, giữ Asean chia rẽ là có lợi cho chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông, nơi mà Trung Quốc muốn thương lượng trực tiếp và tay đôi với các nước liên quan.

Asean không đoàn kết cũng giúp ghìm chân Mỹ.

Hoa Kỳ đang chuyển hướng chiến lược về Á châu, một phần vì tiềm năng tăng trưởng của Asean, phần vì e ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc. Tháng trước Mỹ hứa cập hàng triệu đôla cho công cuộc phát triển ở Đông Dương và gửi đoàn đại biểu thương mại lớn nhất từ trước tới nay đến Miến Điện và Việt Nam. Sự thay đổi chiến lược của Mỹ mang lại cơ hội mới cho Campuchia, Miến Điện và Lào, nhưng giới chuyên gia cho rằng không dễ gì mà Trung Quốc chịu nhìn ảnh hưởng của mình tại Asean bị thu hẹp.

Bà Bonnie Glaser từ CSIS nói: “Trung Quốc đã có khởi đầu mạnh mẽ và tham gia nhiều trong các nền kinh tế Asean, nên chuyển dịch sẽ không phải là điều dễ dàng”. “Thêm nữa, khi các quốc gia khác tiến vào thì Bắc Kinh sẽ tìm cách tăng cường ảnh hưởng để giữ vị thế và bảo đảm cân bằng.”

Cuộc ganh đua giữa hai cường quốc sẽ tăng áp lực lên khối Asean trong thời điểm gay cấn nhất của lịch sử.

BBC

Tuyên Ngôn Của Một Người Làm Thơ Cựu Chiến Binh

Quý vị muốn làm gì thì làm

Muốn mị dân muốn yêu nước muốn bán nước bằng mồm thây kệ
Tôi không thù người Tàu cũng chẳng ghét xứ Trung Hoa

Nhưng đứa nào xâm lược nước tôi là chết ngay tại chỗ

Quý vị cứ việc đi đêm cứ việc sửa lại bản đồ lịch sử
Cứ việc quên bẵng ải Nam Quan cho Nguyễn Trãi đội mồ
Nhưng đứa nào bứt của thân nhân tôi sợi tóc
Là tôi đập nát đầu chứ không đập bằng thơ

Quý vị cứ việc chơi gôn cứ việc sắm sửa phi cơ
Cứ đầu cơ địa ốc cứ kiếm tiền vi vút
Nhưng đứa nào bắt dân ngu cu đen thay quý vị ở tù
Là tôi đào mã ba đời quý vị lên trét cứt

Quý vị cứ chà đạp lên quyền làm người xuất sắc
Cứ hung hăng như Gaddafi trước khi rúc vô ống cống đê hèn
Quý vị cứ việc xem dân nghèo như rơm như rác
Nhưng lúc đường cùng đừng năn nỉ tôi nghen !

Quý vị cứ việc rửa tiền qua ngân hàng Thụy Sĩ cực êm
Cứ tậu nhà dưỡng lão ở Bắc Kinh, sắm điền trang ở Mỹ
Quý vị cứ thăng thiên cùng giá điện giá xăng
Bất chấp thôn nữ thiếu ăn phải bán thân làm đĩ

Quý vị phải như vậy mới là quý vị
Vô cảm vô lương vô đạo đức vô thần
Tôi rách rưới như một thằng thi sĩ
Nhưng hiểu thế nào là sức mạnh nhân dân !

Tháng 8-2012

Bùi Chí Vinh

Bài thơ này được đăng trên facebook.

Được đăng bởi Phương Bích vào lúc Thứ bảy, tháng tám 04, 2012

“ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM được quyền im lặng”?

Phương Bích

Ngay từ hôm các anh chị phường quận đến nhà mình từ chủ nhật tuần trước, một mực mong mình thông cảm, đừng đi ra khỏi nhà, để cho các anh các chị ấy còn hoàn thành nhiệm vụ với cấp trên, mình đã định là sau đó thể nào cũng phải viết một cái thư phản đối hành vi vi phạm pháp luật của chính quyền, khi ngăn cản cuộc sống bình thường của người dân như thế này.

Nói thực là lúc ấy mình chả thông cảm cũng chả được. Các anh các chị ấy đông như thế, gấp mấy chục lần mình, lại còn lớp trong lớp ngoài, mà mình thì không thích trong thời bình lại diễn ra cảnh đấu vật không cân xứng thế này. Dù gì thì các anh các chị ấy chỉ biết mỗi cái việc là bằng giá nào cũng không để mình ra khỏi nhà. Thế nên mình chấp nhận quay vào nhà, lo xong bữa trưa đã rồi mới vào máy tính, kể lể, mách bạn đọc. Sau đó thư thả đọc tin tức xem có ai được các ban ngành đoàn thể ở địa phương, gặp gỡ đề nghị thông cảm như mình không.

Xem ra chả có cái nguyên tắc nào nên mỗi nơi áp dụng một kiểu, tùy theo nhận thức và mức độ tận tuy của người thi hành nhiệm vụ. Phần lớn chỉ vào thuyết phục tại gia, không được thì về. Có người từ chối thẳng thừng, không cho đoàn thể vào nhà như bác Ngô Đức Thọ. Bác Quang A còn được ra khỏi nhà một đoạn, chứ chả ai bị chặn ngay tại cửa một cách thô thiển như trường hợp của mình. Mẹ mình kể ngoài số người trên hành lang nhà mình khoảng 2 chục vị, thì ở các quán nước dưới nhà cũng có trên chục vị là ít. Bà còn bảo trông họ bặm trợn lắm, chả ai có dáng vẻ trí thức cả. Mình đoán đấy là an ninh!!!

Mình nghĩ mãi là tại sao có mỗi một mình mình mà phải huy động đông người thế? Hàng xóm chắc hãi lắm, tưởng mình hẳn phải là phản động nằm vùng cỡ bự. Hẳn họ rất thắc mắc là sao chưa thấy trình diễn màn còng số tám ???

Mình đoán chẳng qua do các đoàn thể ở đây họ nhận thức vấn đề bị phóng đại lên quá, nên mới làm hoành tráng thế, chứ ở đâu cũng như thế này thì có mà loạn.

Ừ! Hà Nội không vội được đâu, nói với họ bằng miệng là không ăn thua. Nói với bố, con đang ngâm cứu viết cái thư phản đối mà chưa biết gửi đi đâu. Nhưng kiểu gì cũng phải viết. Bố thấy vô lý không, đời thuở nhà ai lại ngăn sông cấm chợ quái đản đến mức thế bao giờ? Chính quyền mà không hành xử theo luật, lại dùng biện pháp “lấy thịt đè người” thế này à? Mình im thì hóa ra mình chấp nhận thành thông lệ, là họ thích ngăn mình lúc nào là họ ngăn, mình sẽ trở thành tù nhân kiểu mới à? Thế thì không ổn. Tuyệt đối là không ổn. Đương nhiên là bố đồng ý vì bố cũng rất bực mình.

Đang còn tham khảo trên mạng, chưa kịp viết thì tin tức dồn dập. Nào là lúc đầu thì có tin 9.000 tàu cá Trung Quốc sẽ tràn ra biển Đông, sau thì lại là 23.000 tàu chứ không phải là 9.000. Họ gọi biển Đông là ngư trường của Tam Sa. Tàu đông như kiến thế này thì còn gì cá mà đánh, là họ phô trương để dọa nạt là chính chứ đánh bắt cái gì?

Hôm kia nghe mấy bác trí thức trong Sài Gòn viết thư cho thành ủy, đề nghị chính quyền đứng ra tổ chức cho các đoàn thể và quần chúng biểu tình, phản đối hành động bành trướng của Trung Quốc tại biển Đông. Nếu vì một lý do nào đó mà chính quyền không tổ chức được thì các bác ấy sẽ tự tổ chức lấy.

Uh! Phải thế chứ. Hoan hô các bác!

Thương Sài Gòn lắm. Thời còn chiến tranh, ở Sài Gòn biểu tình chống chính quyền Mỹ Thiệu còn bị đàn áp bằng vòi rồng và lựu đạn cay mà vẫn nổ ra thường xuyên. Đằng này biểu tình phản đối Trung Quốc mà lại không được ư?

Còn chuyện thành ủy hay chính quyền có trả lời thư của các bác ấy không thì có vẻ ai cũng biết. Bác Lê Hiếu Đằng đã chả nhận định rằng “… tôi nghĩ có khả năng là không sẽ trả lời. Bởi vì tôi nghĩ như thế này, đối với một vị công thần, một vị đại tướng lẫy lừng như Võ Nguyên Giáp mà trong nhiều văn bản đại tướng từng gởi cho nhà nước và cũng không được trả lời. Bản thân chúng tôi khi gởi chúng tôi cũng nghĩ rằng nhà nước có thể không trả lời. Mà nếu không trả lời thì chúng tôi được toàn quyền thực hiện quyền biểu tình của mình theo luật pháp và theo hiến pháp đã qui định. Chúng tôi sẽ tự đứng ra tổ chức và như trong văn bản chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng phải giữ trật tự an ninh để chúng tôi thực hiện cuộc biểu tình đó.”

Đấy, thư của ông Võ Nguyên Giáp họ không trả lời. Thư của các bác ấy chắc gì họ đã trả lời. Thư phản đối của mình họ lại càng không trả lời.

Nếu nói đúng nguyên tắc thì chả phải bàn làm gì. Nhưng bao nhiêu năm nay, mình ngộ thấy nó đã trở thành một thứ văn hóa, chứ không còn là nguyên tắc nữa. Có biết bao nhiêu dạng đơn thư đã được gửi đi trong nhiều năm qua, và bao nhiêu trong số đó được hồi âm? Không có một cơ quan tổ chức nào đứng ra thống kê con số này, nhưng mình chắc chắn nó rất khủng khiếp. Nó không chỉ làm lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức mà còn lãng phí cả niềm tin của người dân vào công lý nữa.

Không trả lời đơn thư của người dân giờ đây đã trở thành một thứ văn hóa của chính quyền. Ngay cả trước những sự kiện chấn động dư luận trong và ngoài nước về vụ tự thiêu mới đây của bà Đặng Thị Kim Liêng ở Bạc Liêu, hay việc tàu cá Trung Quốc tràn ngập biển Đông thì chính quyền vẫn hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Một sự im lặng không thể giải thích nổi.

Trước đây văn học Nga có một cuốn truyện phản gián khá nổi tiếng có tựa đề” “TASS được quyền tuyên bố”. Bỗng mình nghĩ, giá mình mà có tài viết văn, mình sẽ viết một cuốn có tựa đề ngược lại: “ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM được quyền im lặng”.

P. B.

Nguồn: http://chimkiwi.blogspot.com/2012/08/ang-va-nha-nuoc-viet-nam-uoc-quyen-im.html#more

Curiosity đáp an toàn xuống Hỏa Tinh

Chiếc xe Curiosity 2,500 triệu đô la lao xuống Hỏa Tinh ngày 5 tháng Tám 2012 với tốc độ 13,000 dặm một giờ nhưng đã đáp xuống an toàn với những kỹ thuật tân kỳ mô tả tại video >> Landing

Nếu cần tìm một hành tinh có tồn tại sự sống hay xa hơn, có đủ điều kiện cho con người sinh sống sau này, “người láng giềng” Sao Hỏa luôn là một cái tên được nhắc đến rất nhiều. Có những điều kiện tự nhiên gần gũi với Trái đất, sao hỏa đôi khi được cho có hoặc chí ít là đã từng tồn tại sự sống. Một điểm quan trọng hơn, Sao Hỏa là một hành tinh rất gần Trái đất, gần đủ để chúng ta có thể tiến hành các cuộc thăm dò trực tiếp trên bề mặt hành tinh này.

Tổng quát

Về căn bản không khác nhiều một xe tải 6 bánh loại nhỏ. Tuy nhiên, chiếc xe tải này lại chạy bằng năng lượng hạt nhân, dò đường bằng tia laser, 6 bánh xe có khả năng thay đổi độ cao để di chuyển trên những địa hình phức tạp một cách linh hoạt, được “tặng kèm” một tên lửa và có giá khoảng 2,5 tỷ đô.

Mẫu xe này dài gấp đôi (khoảng 3 mét) và nặng gấp 5 lần (khoảng 900 kg) so với kỷ lục trước đây của chính Nasa, chiếc Spirit and Opportunity (2003). 6 bánh xe, mỗi bánh bằng thép có đường kính 20″ (51 cm) có khả năng vượt qua những chướng ngại vật cao 30″ (khoảng 75 cm), có khả năng di chuyển khoảng 200 mét mỗi ngày trên Sao Hỏa.

 Chiếc xe có đủ trang thiết bị để đào, phá đá đất đá, thu thập mẫu vật, sắp xếp vào phân tích chúng. Hệ thống laser có khả năng tự động chỉnh hướng của Curiosity được thiết kế để tìm ra sự tồn tại của các hợp chất hữu cơ (có chứa carbon), xác định tỷ lệ của các đồng vị và phân loại chúng. Và nổi bật hơn cả, là hệ thống động cơ hạt nhân, được trang bị nhằm đảm bảo hoạt động của chiếc xe trong thời gian dài.

Theo Rob Manning, kỹ sư trưởng bộ phận thiết kế thiết bị bay tại Jet Propulsion Laboratory gọi đây là thứ “phức tạp, tinh tế nhất chúng tôi đã từng làm ra”.

Ngoài những khó khăn về mặt kỹ thuật trong việc sản xuất và thiết kế, Nasa còn gặp không ít khó khăn trong việc đưa chiếc máy này lên Sao Hỏa bởi độ chính xác và những khó khăn trong việc hạ cánh một thiết bị phức tạp, nặng gần 1 tấn là không nhỏ.

Một cỗ máy hoàn hảo

Sẽ thực hiện một nhiệm vụ kéo dài khoảng hai năm (hoặc nhiều hơn) trên sao hỏa nhưng Curiosity gặp những vấn đề không khác gì chúng ta gặp trong một chuyến đi du lịch 2 tuần nhưng khó khăn hơn nhiều. Nếu như một chiếc xe chẳng may cần bổ sung gì đó, chúng ta chỉ đơn giản là mua linh kiện, lắp cho nó. Nếu xe hỏng, một cú điện thoại bạn sẽ có ngay người sửa xe. Nếu ta chẳng may quên kem đánh răng, ta có thể và bất cứ một tiệm tạp hóa nào, mua một tuýt.

Nhưng Curiosity thì không như vậy, khi bạn thực hiện một nhiệm vụ cách đất mẹ cả trăm triệu km, bạn sẽ không thể gọi một đội sửa chữa, không thể tiếp tế “xăng dầu” … Mọi tín hiệu chỉ huy từ Trái Đất sẽ mất khoảng 14 phút để đến nơi, khi đó, bạn phải tự lực cánh sinh.

Tất nhiên, Curiosity đến Sao Hỏa không phải để thực hiện một chuyến du lịch với kinh phí 2,5 tỷ đô. Nhiệm vụ của chiếc xe đắt giá này là thu thập các mẫu đất đá từ bề mặt sao hỏa và phân tích trực tiếp bằng tại hiện trường.

Nó được trang bị một camera cao 2,1 mét. 3 cánh tay với chiều dài tương đương có khả năng thu thập mẫu vật nhiều hơn một chiếc máy hút bụi công nghiệp.

Mẫu vật này sẽ được được xử lý, sắp xếp, sàng lọc bởi một hệ thống các linh kiện phức tạp, tinh vi:

– 1 sắc phổ khí nhỏ và một quang phổ kế lớn nhằm phân tích và tính toán các thành phần hóa học trong mẫu vật.

– 1 quang phổ kế laser có khả năng tìm các hợp chất hữu cơ (trong thành phần có carbon), xác định cấu trúc và tỷ lệ các đồng vị quan trọng. Cả hai điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc khám phá các bí mật của khí quyển và thạch quyển của sao hỏa.- CheMin, một thiết bị nhiễu xạ X-ray, và các dụng cụ huỳnh quang, đo thành phần các mẫu vật với số lượng lớn và tìm ra thành phần khoáng chất cấu thành chúng.

– Một camera cực kỳ cao cấp được đặt trên cánh tay của robot này. Chiếc camera này có nhiệm vụ chụp ảnh đất, đá , và cả băng nếu tồn tại. Nó có khả năng chụp close up (chụp cận cảnh) ở mức không thể tưởng tượng được: nó có khả năng ghi lại chính xác những hình ảnh của mẫu vật mỏng hơn cả sợi tóc người hoặc focus và những vật thể ở những vị trí mà những cánh tay không có khả năng chạm tới.

– Các quang phổ kế Alpha Particle cũng được đặt trên các cánh tay robot sẽ đánh giá các yếu tố khác nhau hiện diện trong đất và đá sao hỏa.

– Một camera cao cấp ở vị trí cao ngang bằng với mắt người, có khả năng chụp ảnh hoặc quay video có chất lượng cao kèm cả âm thạnh. Chiếc camera này được gọi là Mars Science Laboratory Mast Camera, giúp cho người điều khiển có thể nhìn thấy các mẫu vật được thu thập bằng cánh tay.

– Một camera gắn ở dưới giúp phát hiện các chướng ngại vật nguy hiểm dưới thân của chiếc xe này.

– Một thiết bị cực hiện đại gắn trên cổ của Curiosity có khả năng làm bốc hơi lớp vỏ ngoài của mẫu vật ở độ cao tới 9 mét (bằng tia lazer). Việc này làm tăng tính hậu quả của việc phân tích bằng quang phổ kế. Ngoài ra, nó cũng có khả năng chụp ảnh từ rất xa bằng kính thiên văn tích hợp của mình.

Ngoài những công cụ phân tích mẫu vật, chiếc xe này còn được tích hợp các tiện ích nhằm kiểm tra cả điều kiện bề mặt, phân tích các yếu tố liên quan để đánh giá khả năng tồn tại sự sống tại hành tinh đỏ.

– Radiation Assessment Detector (Thiết bị đánh giá bức xạ) sẽ theo dõi mức độ bức xạ bề mặt.

– Rover Environmental Monitoring Station: thiets bị đánh giá môi trường sẽ đọc áp suất khí quyển, nhiệt độ, độ ẩm, gió, mức độ bức xạ của tia cực tím.

– Dynamic Albedo of Neutrons: công cụ giúp phát hiện hydro – một dấu hiệu tiềm năng của nước đá hoặc nước ngầm bị kẹt trong các khoáng chất. Nó có khả năng hoạt động và tìm kiếm ở độ sâu khoảng 1 mét.

Tất cả những thiết bị trên đều thuộc hàng cao cấp, hiện đại nhất mà con người đang có được. Tuy nhiên, có một điều là tất cả hệ thống này ngốn một nguồn năng lượng khổng lồ và động cơ của Curiosity cũng thực sự là một điều đáng chú ý.

Động cơ nguyên tử

Không giống như những chiếc xe thông thường sử dụng gas, xăng hoặc các nhiên liệu hóa thạch. Cũng không dùng điện hay khí đốt. Cũng không dùng pin năng lượng mặt trời giống như người tiền nhiệm, lần này, Nasa sử dụng động cơ hạt nhân cho “con quái vật” của thế giới khoa học.

Curiosity lấy năng lượng từ phản ứng phân hạch plutonium-oxid. Khi phân rã, nó tạo thành một lượng nhiệt lớn sẽ được Curiosity sử dụng để chuyển thành điện năng phục vụ cho hoạt động của mình. Thiết bị được gọi là Multi Mission Radioisotope Thermoelectric Generator này sẽ kiểm soát năng lượng sử dụng ở mức 110 watts.

Hệ thống năng lượng kể trên cung cấp một lượng năng lượng nhiều hơn hệ thống pin mặt trời mang lại và không có bộ phận nào chuyển động. Điều này sẽ hạn chế khả năng bị hỏng hóc. Nhưng liệu hệ thống này có tốt hơn hệ thống cũ sử dụng panel gallium-arsenide hay không?

Hãy nhớ, Spirit hoạt động cho đến tận mùa xuân năm 2012 và Opportunity vẫn tiếp tục sử dụng các công cụ đo lường của chúng, đã di chuyển 21 dặm (100 mét mỗi ngày), vượt qua kỳ vọng 90 ngày của Nasa.

Hệ thống năng lượng hạt nhân của Curiosity, dự kiến, sẽ tồn tại được 14 năm – vượt qua cả tuổi thọ của chính chiếc xe. Nó sẽ không bao giờ trở thành nạn nhân của các trận bão Sao Hỏa, ban đêm, mùa đông… (có ít ánh sáng Mặt Trời) như người tiền nhiệm của nó đã phải chịu đựng.

Tuy nhiên, nguồn năng lượng khổng lồ này cũng phải đánh đổi không ít: nó nặng nề hơn người tiền nhiệm, tốc độ tối đa của chiếc xe chỉ bằng phân nửa. Trong một năm Sao Hỏa (khoảng 687 ngày Trái Đất), nó chỉ có thể di chuyển một quãng đường 12 dặm (khoảng 19 km).

Kiểm tra quá trình Curiosity lên Sao Hỏa

Khi thực hiện một nhiệm vụ trị giá 2,5 tỷ USD, rõ ràng, kỳ vọng đặt lên Curiosity là rất lớn và họ không có quyền thất vọng,  trước khi chính thức thực hiện nhiệm vụ ngày 26/11 vừa qua, nó đã trải qua rất nhiều cuộc thử nghiệm.

Chiếc xe này phải trải qua một loạt các cuộc thử nghiệm mô phỏng các lỗi cả bên trong lẫn bên ngoài, bao gồm cả những thử nghiệm bằng máy ly tâm, thả thử nghiệm, kéo kiểm tra, lái xe kiểm tra, kiểm tra tải, kiểm tra chịu lực và thử nghiệm các mạch trong xe. Điều này đảm bảo chắc chắn chuyến đi sẽ diễn ra một cách an toàn.

Quá trình phóng cũng không hề đơn giản. Phải biết rằng quỹ đạo quanh mặt trời của hai hành tinh rất khác nhau (sao hỏa là 686.98 còn Trái Đất là 365.25) điều này tức là khoảng cách tương đối giữa hai hành tinh rất khác biệt.

Lúc gần nhất, trái đất chỉ cách hành tinh đỏ khoảng 55,7 triệu km trong khi khoảng cách xa nhất lên tới 400 triệu km – hơn gấp 7 lần. Vì vậy, các nhà khoa học phải chọn thời điểm sao cho khoảng cách giữa hai hành tinh là gần nhất. Cuối cùng, “siêu xe” của chúng ta sẽ mất khoảng 255 ngày trước khi đến Sao Hỏa

Quá trình hạ cánh

Quá trình hạ cánh an toàn một cỗ máy nặng cả tấn trong điều kiện khí quyển của Sao Hỏa mỏng hơn rất nhiều so với Trái Đất gặp rất nhiều khó khăn. Với những cỗ máy nặng khoảng 1 tấn và khí quyển mỏng như ở Sao Hỏa, phương án hạ cánh bằng dù truyền thống tỏ ra không hiệu quả lắm.

Ngay sau khi hạ cánh, những bánh xe này sẽ đưa “con quái vật” đến địa điểm đầu tiên của nó trên Sao Hỏa: một vách đá lộ thiên được gọi là “The Fence”. Nasa chọn đây là nơi hạ cách bởi lần thăm dò trước cho thấy đây là một nơi rất có khả năng tồn tại nước.

Sau đó, Curiosity sẽ khám khá vách đá này và các khu vực lân cận. Quá trình này có thể mất nhiều năm và các nhà khoa học sẽ có một bức tranh toàn cảnh về khu vực này. Ngoài ra, Curiosity còn có nhiệm vụ phân tích trực tiếp các mẫu vật ngay trên bề mặt sao hỏa và gửi thông tin về trung tâm của Nasa.

Nhằm giúp Curiosity sử dụng hiệu quả tối đa năng lượng, Nasa đã cải thiện hệ thống bánh xe và khung gầm của nó. Sử dụng các ống nối titan và những lớp nhôm mỏng, giúp 6 bánh xe của nó chịu lực tốt hơn và có khả năng lún xuống như cao su. Tất cả bốn bánh xe có thể xoay 90 độ, giúp chiếc xe có thể quay mình tại chỗ nếu cần. Các kỹ sư cũng tăng cường hệ thống treo giúp cho Curiosity có khả năng vượt qua những địa hình gồ ghề và phức tạp hơn.

MỜI CÁC BẠN CLICK VÀO ĐƯỜNG LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ THẤY CUỘC HẠ CÁNH TUYỆT DIÊU CỦA PHI THUYỀN CURIOSITY (ĐOẠN PHIM NÀY CÓ THỂ DO HOLLYWOOD THỰC HIỆN NHƯNG VẪN RẤT KỲ THÚ)

<a href = http://www.telegraph.co.uk/science/space/9449218/Nasa-animation-shows-Curiosity-rover-landing-on-Mars.html“> click here! </a>

Ha xuan Thu

Phạm Duy dự Đại hội Văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc

 

Tại Chợ Neo, đời sống của đôi vợ chồng son này cứ êm đềm trôi như trong một giấc mơ dù thỉnh thoảng nghe thấy tiếng phi cơ ở xa xa thì chúng tôi nhào ra khỏi cơn mộng đẹp, nhẩy lẹ xuống hố tránh máy bay được ông bố vợ đào sẵn ở sân chùa trước quán.
Bỗng có một hôm, một cán bộ từ trong Tư Lệnh Bộ tới tìm tôi ở Quán Thăng Long. Anh ta đưa cho tôi một Sự Vụ Lệnh của Trung Ương gửi cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV để gọi tôi lên Việt Bắc. Tôi vội vàng đi gặp tướng Nguyễn Sơn, Đặng Thái Mai và Nguyễn Đức Quỳnh thì biết rằng đây là một đãi ngộ lớn của Trung Ương đối với một văn nghệ sĩ đã có thành tích công tác. Vừa mới lấy vợ có bốn tháng nên tôi tỏ vẻ ngần ngại, cả ba người này đều khuyên tôi nên đi và nên dắt cả Thái Hằng đi nữa. Tôi trở về nhà, bàn bạc với vợ và gia đình vợ. Cuối cùng, với sự đồng ý của mọi người, tôi quyết định ra đi. Và đem vợ đi theo luôn. Tôi cũng cho vợ tôi biết trước những sự vất vả trên đường nhưng vì yêu chồng và không muốn xa chồng cho nên: 
— Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin theo. 
Ngày chúng tôi vác ba lô ra đi, ông bố vợ tiễn chân một quãng đường rất xa và khi chia tay nhau thì ông khóc. Con đường từ Chợ Neo lên Thái Nguyên, Bắc Kạn, chúng tôi sẽ phải đi trong một tháng, mỗi ngày trung bình phải vượt từ 30 tới 40 cây số đường rừng, đường núi. Chúng tôi không dám đi trong vùng đồng bằng nhưng cũng có những đoạn đường đã có Quân Pháp chiếm đóng mà chúng tôi bắt buộc phải đi qua như Đường số 6 ở gần Hoà Bình, Đường số 2 ở khu vực Vĩnh Yên, Đường số 1 ở mé dưới Thái Nguyên… Nhưng đi tới đâu cũng có liên lạc viên dẫn đi và toàn đi vào nửa đêm về sáng cho nên chẳng bao giờ chúng tôi gặp địch cả. 
Mới đi chưa được một tuần lễ, Thái Hằng bỗng thấy khó chịu trong người. Nhân ghé lại một địa điểm có Quân Y Viện, tôi đưa vợ tới cho bác sĩ khám bệnh. Thì chúng tôi bật ngửa người ra: Thái Hằng có mang. Làm sao bây giờ? Quay về Thanh Hoá hay là cứ đi? Nếu có quay gót về Chợ Neo lúc này thì cũng chẳng phạm vào một kỷ luật nào cả. Cũng chẳng có ai nA°ơ trách móc chúng tôi gì đâu, tôi nghĩ thế. Nhưng không hiểu tại sao lúc đó chúng tôi lại chọn giải pháp: cứ đi. Chúng tôi tôn thờ anh hùng chủ nghĩa à? Chúng tôi yêu nước vô cùng ư? Chúng tôi tôn trọng Sử Vụ Lệnh của Trung Ương đến thế cơ à? Có thể là như vậy. Nhưng cũng có thể là trong suốt mấy năm trời, chúng tôi sống như những cái máy, chúng tôi đã bị “điều kiện hoá” bởi không khí hào hùng và nhiệt huyết ở chung quanh. Thấy ai cũng có những đóng góp và hi sinh cho kháng chiến thì mình cũng phải làm như mọi người. Thấy cả nước lên đường ra đi, làm sao mình có thể quay gót trở về được? Chua sót thay, ngày trở về cũng sẽ tới, sẽ phải tới… 
… Chuyện trở về là chuyện tương lai. Bây giờ thì hai vợ chồng tôi hãy cứ kéo nhau đi, trực chỉ miền Bắc. Tôi đã quen với chuyện trèo đèo lội suối rồi cho nên tôi rất khoan khoái với cái thú xê dịch cố hữu của tôi. Nhưng khi nhìn thấy vợ mình đang bụng mang dạ chửa — dù mới chỉ có thai được hai tháng — ngã lên ngã xuống những lúc phải trèo qua những “sống trâu” tôi thương sót vợ vô cùng. Tuy vậy, tôi không dám để lộ tình thương đó ra, sợ vợ mình sẽ mất tinh thần. Tới bất cứ nhà của một đồng bào nào hay tới một quán trọ ở dọc đường nào là Thái Hằng lao người vào giường nằm, không thiết ăn uống gì cả. May làm sao mà trên con đường đi lên Việt Bắc kỳ này chỉ có tôi là đôi khi bị sốt đi sốt lại, người vợ có chửa của tôi chưa bị Thần Sốt Rét tới thăm viếng. Lúc này, Thái Hằng chỉ bị ốm nghén, nhưng khi lên tới Việt Bắc thì sẽ biết tay ông Thần này ngay. 

Chúng tôi phăng phăng ra đi, dưới những trận mưa lớn hay dưới ánh nắng gay gắt, lúc đi trong những vùng có thưa thớt đồng bào, lúc trơ ra chỉ có hai vợ chồng đi trên những con đường rừng thật là vắng vẻ. Lại ngửi thấy mùi cọp. Lại thấy rằng cọp cũng sợ người chứ chẳng phải chỉ có người sợ cọp mà thôi. Có lần hai vợ chồng tôi phải lội qua một con suối rừng vào mùa nước lớn. Nước chảy rất mạnh cuốn đi một chiếc giép làm bằng vỏ xe hơi của tôi. Chúng ta quen gọi loại giép này là giép râu, vì nó có hai cái quai bằng cao su thòi ra như hai cái râu người. Nhưng tên đích thực của nó là giép Bình-Trị-Thiên. Nó được sáng chế ra trước tiên ở Phân Khu IV trong thời kỳ đầu của kháng chiến. Tôi đã mang nó từ 
Chiến Khu Ba Lòng ra tới Thanh Hoá. Rồi từ Thanh Hoá đem nó lên tới con suối này. Mất thì tiếc quá. Tôi đã phải lặn xuống nước, mò cho ra chiếc giép, coi thường sự chết đuối có thể xẩy ra. Lại có lần không biết tôi nghe lời ai mách nước, mua chanh ngậm đầy miệng để cho tỉnh táo. Không ngờ bị sặc nước chanh gần như tắc thở. Cũng giống như hồi nào ở Lạng Sơn, anh bạn Giang Cao ăn quá nhiều cam trong lúc đói nên bị say nước cam như bị say rượu. 
Nhưng trong cuộc ra đi này vẫn còn nhiều cái thú. Cái thú hoà mình vào với thiên nhiên. Bình minh hay hoàng hôn, đêm trăng hay đêm sao… tất cả đều ảnh hưởng vào mình để mình sẽ tuôn ra bằng lời ca, nét nhạc. Cái thú được ăn miếng cơm lam nấu bằng ống tre của đồng bào thiểu số. Cơm ngọt và bùi hẳn lên có lẽ vì có thêm mùi vị của “nước tre”. Cái thú được tắm suối chung với người miền núi. Tôi quen nhìn người ta khoả thân để kỳ cọ tắm tắp rồi, nhưng Thái Hằng thì ngượng lắm. Vui nhất là người miền núi và người miền suôi đều thích đứng nhìn nhau tắm. 
Nói một cách tích cực, trong chuyến ra đi này, đôi tân lang và tân giai nhân có thêm một tháng trăng mật, dù rằng bốn tuần trăng mật di động này mệt nhọc hơn những tuần trăng mật hú hí ở loanh quanh vùng Thanh Hoá. Hằng ngày, chúng tôi cứ việc vui vẻ ra đi và nếu có cái gì đáng sợ thì đó là… những con dốc. Trong tất cả những con dốc tôi phải leo qua từ trước cho tới nay, con dốc ở Tam Đảo — chúng tôi cũng sẽ phải vượt qua dốc này khi trở lại Thanh Hoá — là con dốc kinh khủng nhất. Vượt được nó rồi là đã đi được chín phần mười của lộ trình. 
Thế là sau ba mươi ngày đi bộ và vượt được tám, chín trăm cây số gì đó, chúng tôi đã bò tới một nơi được gọi là “Trung Ương”. Một nơi có lẽ cũng rất là thiêng liêng. Chẳng tin thì hãy nghe nhà văn Nguyễn Tuân nói kháy sau đây. Cũng từ Khu IV ra Việt Bắc tham dự Đại Hội Văn Nghệ, khi sửa soạn vượt qua dốc Tam Đảo để đặt chân lên đất Thái Nguyên, con người duyên dáng Nguyễn Tuân trịnh trọng tuyên bố với mấy anh em cùng đi: 
— Mình phải tắm rửa cho thật sạch sẽ để dọn mình vào đất Thánh. 
Chúng tôi được liên lạc viên dẫn tới Yên Giã, một khu rừng nằm gần ranh giới hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ơ± chung quanh đây không có một gia đình thường dân nào cả. Khu thung lũng rộng lớn và có núi bao quanh này là một thứ an toàn khu của tất cả các cán bộ làm việc trong các cơ quan khác nhau của Trung Ương. Mỗi gia đình cán bộ đều được cơ quan của mình phát cho một mảnh đất rồi có người tới phụ giúp để dựng lên một cái nhà bằng nứa. 
Yên Giã có vẻ là nơi dành riêng cho các gia đình văn nghệ sĩ. Lúc này họ đều trở thành hội viên của các Hội Nhà Văn, Hội Hoạ Sĩ, Hội Nhạc Sĩ, Hội Sân Khấu cả rồi. Đi vài quãng đường là tới Cù Vân, vượt qua Đèo Khế tới khu vực của các lãnh tụ. Hang Pác Bố là nơi ở của Chủ Tịch họ Hồ cũng nằm ở đâu đây. Tại Yên Giã, vợ chồng tôi là thượng khách của Nguyễn Xuân Khoát, Chủ Tịch Hội Nhạc Sĩ Kháng Chiến. Anh Khoát bây giờ gầy tọp đi, dáng người rất mệt mỏi nhưng cái xiết tay chào của anh vẫn còn mạnh lắm. Và lập tức anh dắt tôi tới gặp Tố Hữu, người bắt đầu nắm trong tay vận mạng của toàn thể văn nghệ sĩ. Tố Hữu già hơn hồi tôi gặp anh ở Huế, vẫn ăn nói nhẹ nhàng nhưng có cái đanh thép ẩn trong câu nói. Chắc anh theo rõi công việc của tôi trong mấy năm qua, bây giờ gặp tôi, Tố Hữu khen nhạc của tôi có ưu điểm là rất nhạy cảm và uyển chuyển (sensibilité et souplesse). Tôi cũng đáp lễ và khen bài thơ Bắn Đi của anh, nói rằng nhờ bài thơ này mà tôi được bộ đội yêu mến. Đó là sự thật. 
Chỉ trong khoảng vài ngày, vợ chồng tôi có một cái nhà tranh nằm không xa nhà của vợ chồng Văn Cao là mấy. Đây mới đích thực là cái nhà là nhà của ta — kháng chiến giúp ta làm ra. Tưởng như là căn nhà bên suối đang nằm ở trong bài một hát bỗng nhẩy ra đây. Đây cũng là cái tổ ấm đầu tiên trong đời tôi, của một gia đình có đôi vợ chồng son và đứa hài nhi nằm trong bụng mẹ. Nhà có tới ba phòng, phòng ngủ có cái giường nứa, phòng bếp có cái bếp nứa, phòng tắm có tấm phên cũng bằng nứa. Thiếu phòng vệ sinh, nhưng chúng tôi có cả một khu rừng ở đằng sau nhà rồi. Căn nhà nứa này, tuy có phòng tắm đó nhưng có bao giờ chúng tôi chịu tắm ở trong nhà đâu? Ai chịu khó vác nước từ suối lên đây? Bà Phạm Duy đi tắm suối là kéo bà Văn Cao đi cùng. Đi mua thực phẩm hơi xa cho nên cứ cách dăm ba ngày là các bà rủ nhau cùng đi chợ. Gạo ở đây là gạo kháng chiến, khi ăn mà không nhằn miếng cơm cho kỹ là dám sứt răng vì những hòn sạn. Cũng mua được thịt để ăn nhưng kho xong nồi thịt, chỉ cần một đêm là thịt kho trở thành thịt đông ngay. Bởi vì ở trong vùng rừng núi này, mỗi khi đêm xuống thì dù là mùa Hạ, trời cũng trở lạnh như trong mùa Đông. 
Tôi gặp lại hầu hết các bạn bè cũ ở trong làng nhạc như vợ chồng Văn Cao, vợ chồng Văn Chung, các nhạc sĩ Lê Yên, Nguyễn Đình Phúc, Xuân Tiên, Xuân Lôi… Vì sắp sửa có Đại Hội Văn Nghệ cho nên các văn nghệ sĩ ở khắp mọi nơi đang lục tục kéo nhau lên đây. Nào là Lê Văn Vũ Bắc Tiến cựu trưởng ban Ban Kịch Nghệ Thuật ở Hà Nội nay là trưởng đội kịch của Sư Đoàn 308… Nào là các trưởng thượng trong Hội Sân Khấu như Thế Lữ, Võ Đức Diên, Đoàn Phú Tứ… Thằng bạn Hoàng Cầm của tôi cũng sẽ có mặt ở khu Yên Giã này. Hân hạnh cho tôi là bây giờ tôi được bắt tay những người như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu. Đặc biệt là gặp lại anh bạn cùng học trường Mỹ Thuật khi xưa là Mai Văn Hiến. Chàng hoạ sĩ tinh quái của ngôi trường cũ này rất chiều chuộng Thái Hằng. Không biết anh hái ở đâu được những đồ chua như me, sấu, là những thứ mà người đang có mang là vợ tôi rất thèm ăn. 

Đời sống ở Yên Giã quá đẹp. Bõ công chúng tôi đã rời bỏ một nơi “an ninh thịnh vượng” (sic) là Thanh Hoá để lên đây ở. Tôi vẫn chưa được biết Trung Ương triệu tập tôi lên đây để làm gì? Hình như tất cả mọi người còn đang rất bận trong việc chuẩn bị Đại Hội Văn Nghệ cho nên tôi được ở yên — hay được bỏ quên — trong ngôi nhà nứa của mình, ngày ngày chỉ có một việc là dắt vợ đi chơi trong khu rừng hoang vắng và thơ mộng. Chúng tôi lại tự an ủi, cho rằng mình được hưởng thêm những tuần trăng mật khác. Tối đến, cũng như mọi người, vợ chồng tôi đốt đuốc soi đường đi tới hội trường (đang được xây dở dang) để tham dự những buổi sinh hoạt văn nghệ. Hai cô ca sĩ cùng có tên là Thái: Thái Hằng và Bùi Thị Thái (vợ ông Quản Liên, trước đây là Trưởng ban Quân Nhạc Lính Khố Xanh bây giờ là Trưởng ban Quân Nhạc Việt Minh) thi nhau hát những bài ca cổ điển Tây Phương. Ơ± nơi an toàn khu này, ca hát là môn giải trí độc nhất, cho nên các bà, các cô tới tham dự đông lắm. Các bậc phu nhân của các văn nghệ sĩ ở Trung Ương này, sau mấy năm ở “u tì quốc”, đã đi khá sâu vào đời sống nâu sồng rồi. Phụ nữ của chúng tôi từ Khu IV rất thanh bình vừa lên tới đây thì hãy còn ăn diện ghê lắm. Trong những buổi họp hay trong đêm hát, Thái Hằng diện sơ mi trắng và quần xanh có yếm (kiểu combinaison của thợ thuyền Âu châu), tóc thắt bím buông xuống hai vai, xuất hiện ở khu Yên Giã này như một biến cố về y phục phụ nữ vậy. Thế nhưng nếu khám ba lô của cô dâu mới, sẽ thấy chỉ có thêm hai bộ quần áo cũng rất nâu sồng để mặc hằng ngày. 
Lúc này cũng là thời điểm rất quan trọng đối với lịch sử kháng chiến Việt Nam. Quân Đội Mao Trạch Đông đánh bật Quân Đội Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa Trung Hoa. Các lực lượng quân sự của Việt Minh và Trung Cộng ở hai bên biên giới liên lạc được với nhau. Chủ Tịch họ Mao tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc. Hồ Chí Minh gửi điện văn chúc mừng Mao Trạch Đông. Có giả thuyết là ông Hồ qua Trung Quốc để hội nghị mật với Mao Trạch Đông. Việt Minh được Trung Cộng cung cấp tối đa về vũ khí, quân trang, quân dụng. Hơn nữa, từng sư đoàn hay trung đoàn Vệ Quốc Quân sang Tầu để được huấn luyện thêm. Quân Đội chính quy của Việt Minh lên tới 350.000 người. 
Trung Cộng toàn thắng ở lục địa Trung Hoa. Chúng tôi được triệu tập đi họp để nghe thảo luận về chiến thắng của Mao Trạch Đông. Đây là lúc trong thế giới Cộng Sản, đứng trên căn bản lý thuyết của Mác, người ta thảo luận rất gay go về việc chủ tịch họ Mao dựa vào nông dân để làm Cách Mạng. Trước sự thắng lợi của Trung Cộng, bởi vì Mao không dùng công nhân để thực thi Cách Mạng như Mác đã đề ra, bây giờ người Cộng Sản phải gọi là đó là “chủ nghĩa” Mao Trạch Đông hay chỉ nên gọi là “tư tưởng” Mao Trạch Đông? Tôi ngồi nghe các cán bộ cỡ lớn thảo luận về vấn đề này cũng giống như vịt ngồi nghe sấm, chẳng hiểu mô tê gì cả. Cuối cùng, người ta chỉ phong cho sự nghiệp của họ Mao danh từ “tư tưởng”. Còn chữ “chủ nghĩa” rất thiêng liêng kia, chỉ có thể dành cho Mác mà thôi. 
Như thế là về phương diện chính trị và quân sự, thời gian đã đứng về phe Việt Minh. Sau bốn năm kháng chiến, qua tới đầu 1950, với sự thắng lợi của Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, bây giờ Pháp không còn một chút hi vọng nào để thắng nổi một đội quân chính quy gồm 350.000 người với đầy đủ vũ khí do Trung Cộng vừa cung cấp. Nhất là trong trong đội quân này đã có từng Trung Đoàn được đưa qua huấn luyện ở phía bên kia biên giới. Đó là chưa kể tinh thần nhân dân Việt Nam vẫn còn rất cao. Cho tới bây giờ, tất cả mọi người vẫn quyết tâm kháng chiến trong mặt trận Việt Minh. Lúc đó chưa có chuyện “cải cách ruộng đất”, “tố khổ” và “chỉnh phong, chính huấn” gì cả. 
Còn tệ hại hơn nữa cho Pháp là phe tả của họ ở trong nước cũng hết sức bênh vực Việt Minh. Họ phái người qua thăm Việt Nam và đi vào tận cơ quan đầu não ở chiến khu. Chúng tôi được huy động để đón tiếp Chủ Tịch Liên Đoàn Thanh Niên của Pháp là Léo Figuères ở một nơi gần khu Yên Giã này. Giữa nơi rừng sâu núi thẳm, Léo Figuères có cơ hội tai nghe mắt thấy những thực lực của Việt Minh để khi trở về Pháp anh thanh niên tả khuynh này sẽ còn hoạt động ráo riết hơn nữa cho sự thất trận của Quân Đội Pháp bốn năm sau này. 
Thế rồi vào một ngày hè trong năm 1950 này, Đại Hội Văn Nghệ — có thêm vào đó hai chữ “Nhân Dân” — được khai mạc. Hội trường do kiến trúc sư Võ Đức Diên vẽ kiểu và đôn đốc việc xây cất từ mấy tháng nay. Tuy vật liệu xây cất chỉ là những cột dọc làm bằng thân cây lớn, những cột ngang làm bằng tre, cùng với vách nứa và mái tranh, nhưng Hội Trường trông cũng đồ sộ lắm, khác hẳn với những hội trường ở miền suôi mà tôi đã biết. Thành phần tham dự Đại Hội là những văn nghệ sĩ nổi danh đang phục vụ trong Quân Đội hay trong các Hội Văn Nghệ ở Trung Ương, các nhân viên của các hội văn nghệ ở các địa phương và còn có thêm cả các cán bộ thông tin văn hoá nữa. 
Chủ Tịch đoàn gồm có nhà văn Nguyên Hồng, hội viên Hội Văn Nghệ Trung Ương, kịch sĩ Lê Văn (Vũ Bắc Tiến) trưởng ban kịch của Trung Đoàn 308 và Vũ Thược, cán bộ văn hoá của huyện Lập Thạch thuộc Vĩnh-Phúc (tức hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên). Vào thời điểm này, Đảng Cộng Sản bấy lâu nay ẩn mình trong Mặt Trận Việt Minh bây giờ quyết định đưa ra bàn tay không còn bọc nhung nữa. Đại Hội gọi là “Văn Nghệ Nhân Dân” này không có mục đích nào khác hơn là bắt đầu từ nay trở đi, có Tố Hữu với bàn tay sắt, chỉ huy văn nghệ. 
Trong ngày đầu tiên của Đại Hội, tôi thấy Chủ Tịch Đoàn đưa ra một đường lối gọi là “văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Mục đích chính là đưa ra một thứ kim chỉ nam cho tất cả mọi ngành sáng tác và biểu diễn. Mục đích phụ (hay đây mới là mục đích chính?) là biểu dương lực lượng văn nghệ sĩ và “báo cáo” đường lối chỉ huy văn nghệ của Nhà Nước cho các quan khách biết. Các quan khách đó là ai? Đó một số cố vấn Liên Sô, Trung Cộng và vị tân khách Léo Figuères, đại diện của Đoàn Thanh Niên Pháp Quốc đang ngồi ở hàng ghế đầu cùng với Trường Chinh, Tố Hữu, Trần Độ… 
Sau đó, tới phần thảo luận riêng của các ngành. So với mọi ngành khác, thành phần nghệ sĩ trong ngành kịch là đông đảo nhất. Tuy tôi là nhạc sĩ và vợ tôi là ca sĩ nhưng Thái Hằng còn là kịch sĩ nữa cho nên chúng tôi có mặt trong những buổi hội thảo về ngành này. Tôi gặp Hoàng Tích Linh, tác giả vở kịch nhan đề Tiếng Đập Cửa là người ở trong đoàn kịch “Chiến Thắng” của Tổng Cục Chính Trị. Diễn viên trong đoàn này là Thúy Cẩm, em gái của kịch sĩ Kỳ Ngung và Thùy Chi, em ruột của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh. Thùy Chi có tên thật là Khuê, nhưng được mọi người gọi là Cô Thôn, tên của một nhân vật kịch. Cô Khuê đóng vai cô Thôn đặc sắc đến nỗi người ta không còn gọi cô bằng tên thật hay bằng tên nghệ sĩ của cô nữa. Nữ diễn viên Kiều Hạnh cũng là chị dâu của Thái Hằng và cũng có mặt tại Đại Hội này cùng với anh Phạm Đình Sĩ và mấy cháu Mai Hương, Bạch Tuyết và Sơn. Gặp được những người thân thích thì vợ tôi vui lắm. Tôi cũng gặp cả Hoàng Cầm, vừa mới tới Yên Giã cùng với các diễn viên nổi tiếng trong ngành Kịch Thơ như Trần Hoạt, Kim Lân. Tôi thấy Hoàng Cầm gầy đi nhưng đôi mắt của nó vẫn còn sắc như dao, giọng nói của nó vẫn sang sảng… 
Dưới sự chủ toạ của Thế Lữ, Hội Trưởng của Hội Sân Khấu, một anh hội viên là Đoàn Phú Tứ đứng ra thuyết trình về sự hình thành của sân khấu Việt Nam gồm có Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ, Kịch Nói… và xin mọi người thảo luận để định nghĩa cho một hình thức sân khấu mới mẻ nhất là Thoại Kịch tức Kịch Nói. Sau nhiều tranh luận, Đoàn Phú Tứ tóm tắt các ý kiến của những người phát biểu. Tất cả đã nhất trí với định nghĩa này: 
— Kịch là bộ môn nghệ thuật dùng sân khấu làm phương tiện trình bày những cảnh đời đang có mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn đi tới chỗ kịch liệt thì phải giải quyết. Giải quyết xong mâu thuẫn là hết kịch. 
Tôi đã biết tới những điều này từ lúc mới bước chân vào Liên Khu IV, được nghe tướng Nguyễn Sơn giảng về Tào Ngu và vở kịch Lôi Vũ. Có gì là mới lạ đâu? Đã tưởng thế là xong phần thuyết trình và định nghĩa về Thoại Kịch sau khi các văn nghệ sĩ đã đồng ý với thuyết trình viên Đoàn Phú Tứ. Nhưng lập tức một số cán bộ chính trị đứng lên đòi Chủ Tịch Đoàn phải bổ túc thêm vào biên bản của hội nghị: 
— Giải quyết những vấn đề trong các vở kịch thì phải có lập trường. Vậy chúng ta đứng trên lập trường nào? Lập trường phong kiến? Lập trường tư sản hay tiểu tư sản? Không. Phải đứng trên lập trường của giai cấp vô sản. 
Trong một buổi họp khác, tổ kịch đang thảo luận về đặc trưng của các bộ môn sân khấu như Tuồng Cổ, Chèo Cổ, Cải Lương, Kịch Thơ và Kịch Nói, Tố Hữu đứng ra lên lớp anh em, trước hết là đả kích bài Vọng Cổ. Tố Hữu nói: 
— Vọng Cổ có âm điệu ủy mị, làm cho người nghe bị ru ngủ, lòng người nghe bị mềm yếu rồi người nghe cúi đầu xuống, tiêu tan cả chí phấn đấu. 
Lưu Hữu Phước, Tống Ngọc Hạp bèn kẻ trước người sau đứng lên bênh vực cho bài Vọng Cổ xuất xứ từ Nam Bộ của mình, nói rằng: 
— Vọng Cổ hay lắm, hay lắm, không bỏ được Vọng Cổ đâu ạ. 
Nhưng Tố Hữu cười khảy: 
— Vâng, bài Vọng Cổ hay lắm. Hay đến độ đã làm cho Việt Nam mất nước, bây giờ trong kháng chiến, ta phải nên cấm nó. 
Nghe thấy vậy, bụng bảo dạ, tôi nghĩ: A. Tố Hữu nói như vậy thì có nghĩa là Đại Hội Văn Nghệ “Nhân Dân” này phải có thái độ với bài hát đã “từ lòng nhân dân mà ra”. Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp im lặng. Xưa nay tôi là người không ưa cãi nhau cho nên lúc đó tôi cũng im luôn. Dù lập trường của Tố Hữu khống vững lắm nhưng tôi cũng không đứng lên để bênh vực hai anh nhạc sĩ “Nam Kỳ” này. Theo sự hiểu biết của tôi — vốn là kẻ đã đi theo gánh hát Cải Lương trong ba năm trời — thì bài Vọng Cổ đã ra đời vào năm 1917 là lúc nước Việt Nam đã sống dưới ách nô lệ thực dân từ lâu rồi. Đã mất nước rồi mới có một người là ông Sáu Lầu ở Bặc Liêu đẻ ra bài Vọng Cổ. Điệu Vọng Cổ xuất thân từ điệu Hành Vân, mới đầu chỉ có 20 câu, mỗi câu 2 nhịp. Khi nó phát triển tới loại Vọng Cổ 6 câu mỗi câu 16 nhịp rồi tiến tới 32 nhịp thì âm nhạc của nó nghiêng hẳn về điệu ru con ở miền Nam. Trong suốt mấy chục năm, Vọng Cổ đã được dùng để kể lể đầy đủ mọi thứ chuyện buồn hay chuyện không buồn, kể cả những chuyện hài hước làm cho người nghe phải cười nôn ruột của mấy anh hề. Không phải chỉ có những bài hát Vọng Cổ than khóc mà thôi đâu. 
Nhưng nếu cứ cho rằng đa số bài Vọng Cổ nói tới chuyện buồn đi, là làm “nhụt chí anh hùng” đi, thế tại sao vào ngày lịch sử 12 tháng 10 năm 1945, tất cả Nam Bộ cứ cầm gậy tầm vông vùng lên đánh Pháp và vẫn còn tiếp tục đánh Pháp cho tới bây giờ (là mùa Hè 1950). Những thính giả mà ta cho rằng đã bị “đầu độc” bằng bài Vọng Cổ hằng mấy chục năm, tại sao họ vẫn anh dũng chiến đấu? Họ đâu có đầu hàng Pháp? Và chắc chắn là họ vừa đánh giặc, vừa hát Vọng Cổ cho mà coi. Vọng Cổ, theo tôi, chính là bài hát phát sinh từ nhân dân cho nên nó mang rất nhiều chất “tình tự dân tộc”. Nói một cách khác, khi tôi nghe hát Vọng Cổ, tôi rất cảm động và tôi thương yêu nước tôi hơn là khi tôi nghe nhạc… classic hay nhạc rock chẳng hạn. 
Chỉ huy xong sự khai tử bài Vọng Cổ, Tố Hữu đi tới phán quyết thứ hai của anh. Anh mạt sát thậm tệ Kịch Thơ: 
— Nội dung kịch thơ phần nhiều chỉ phản ảnh tinh thần phong kiến. Cốt truyện đưa ra toàn là những nhân vật quan liêu. Lối diễn xuất bằng sự ngâm nga, nghe thật là rên rỉ, lướt thướt. Kịch Thơ không thích hợp với cuộc sống động của toàn dân đang kháng chiến. 
Lại cũng không ổn. Những vở kịch thơ trước đây tôi đã được coi, chính là những vở kịch nung nấu lòng ái quốc của chính tôi, vì nó nói tới chuyện Nguyễn Trãi, Phi Khanh, nói tới Quán Biên Thùy, Người Mù Dạo Trúc, Bến Nước Ngũ Bồ, Lên Đường, Viễn Khách… Lối ngâm thơ rền rĩ mà những ngâm sĩ đã mắc phải khi diễn kịch thơ, ta có thể khắc phục được nếu ta huấn luyện cho các ngâm sĩ biết chọn đoạn nào ngâm, đoạn nào nói. Và nếu ngâm nên ngâm theo giọng gì? Giọng “oán” cần phải dùng cho đúng lúc. Là kịch thơ nhưng vẫn có thể có những đoạn “nói thơ” — lẽ dĩ nhiên không phải là lối “nói thường” hoặc “nói lối” theo kiểu Hát Chèo hay Cải Lương — Cần nhất là phải dùng tối đa những điệu ngâm khác biệt với giọng”oán” như “sa mạc”, “cổ thi” hay những điệu ngâm thơ nằm trong nhạc mục của Hát A± Đào. Vấn đề này nằm hoàn toàn trong lĩnh vực kỹ thuật (không phải nghệ thuật) cho nên rất dễ cải tiến. Opera của Âu Tây là cái gì, nếu không phải là kịch thơ có ngâm nga và có hát lên? Hơn nữa, gần đây, tại chiến trường Cao-Bắc-Lạng, tôi và Hoàng Cầm rất thành công với những màn diễn thơ có thể được gọi là những “màn kịch thơ ngắn” được lắm. Với Đêm Liên Hoan hay Tâm Sự Đêm Giao Thừa được trình diễn với hai diễn viên và có điệu bộ, ta có mầm mống của những vở kịch thơ ái quốc. Ngay chính tôi đây, khi diễn ngâm bài thơ Bắn Đi của Tố Hữu, tôi đã đóng kịch đó. Đóng vai anh thi sĩ đứng cạnh người lính Pháo Binh ở trên một ngọn đồi có đặt sẵn khẩu súng lớn nhắm xuống đồn địch. Người lính Pháo Binh phải chờ giờ khai hoả, nhưng anh nghệ sĩ quá căm thù giặc, nhìn thấy chúng đang cười nói ở dưới đồn thì sốt ruột quá, anh thúc giục đồng chí Pháo Binh phải bắn đi. Bắn ngay lập tức. Tôi được bộ đội rất hoan nghênh khi đóng kịch trong cái màn “thơ độc diễn” này. Tôi cho rằng, nếu lúc đó Hoàng Cầm được khuyến khích để tiếp tục phát triển Kịch Thơ thì không chừng chúng ta đã có một thứ sân khấu có tính chất opera theo kiểu Việt Nam, chứ không phải thứ opera học mót của các trường phái của Âu Tây. 
Sau khi Tố Hữu đã đả kích Kịch Thơ xong rồi, cử toạ bỗng im phăng phắc, mọi người chăm chú nhìn vào Hoàng Cầm, mục tiêu của sự đả kích. Hoàng Cầm đứng dậy, nhấc cái ghế đẩu mà nó vừa ngồi lên, trịnh trọng bưng ghế ra đặt ở giữa hội trường, lấy ở trong túi ra một sợi dây dài, dùng dây buộc tập kịch thơ, xong leo lên ghế đẩu, giơ tập thơ vừa mới bị trói chặt lên thật cao, tuyên bố: 

— Tôi xin treo cổ Kịch Thơ. Bắt đầu từ ngày hôm nay. 
Phải công nhận là trong Đại Hội Văn Nghệ Nhân Dân này, những nhà lãnh đạo Việt Minh coi ngành sân khấu như một đội quân lớn để thể hiện đường lối gọi là “văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa” đã được Chủ Tịch Đoàn đưa ra ngay từ hôm khai mạc Đại Hội. Dưới con mắt của Chính Quyền và nhất là của Đảng Cộng Sản ẩn hình sau Mặt Trận Việt Minh, ngành Sân Khấu là bộ môn có nhiều quần chúng nhất. Do đó mà ta thấy Tố Hữu ra hết mệnh lệnh này tới mệnh lệnh khác, nhằm vào Kịch Thơ, nhằm vào bài Vọng Cổ của Sân Khấu Cải Lương và đề cao Thoại Kịch là đội quân xung kích của trận chiến này. Từ nay trở đi, sẽ có rất nhiều các đoàn văn công được thành lập để thực hiện những phương châm mà Đại Hội này đề ra, nói cho gọn là đem lập trường đấu tranh giai cấp vào ngành Ca-Kịch-Nghệ. Có lẽ để sửa soạn cho việc cải cách ruộng đất “long trời lở đất” sắp sửa xẩy ra trong năm sau, khi Việt Cộng tiếp thu được bài học về chính sách này của Trung Cộng. 
Các ngành khác — như âm nhạc chẳng hạn — cũng được bàn tay chỉ huy chiếu cố tới, nhưng sự ra lệnh có vẻ kín đáo và tế nhị hơn. Tôi bị phê bình là tiêu cực với những bài như Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây, Bà Mẹ Gio Linh. Và tôi được khuyến khích để khai tử một bài hát quá ư lãng mạn và đang được phổ biến rất mạnh mẽ trong toàn quốc là bài Bên Cầu Biên Giới. Nhưng tôi đóng kịch giả vờ ngu dại và lơ đãng, lờ luôn cái chuyện đó đi. Chỉ không hát những bài bị phê bình là tiêu cực và lãng mạn đó ở trong Đại Hội là cũng đủ làm hài lòng “qúy vị” lãnh đạo rồi. Phải không? Tối đến, trong buổi sinh hoạt có tính cách giải trí, tôi và Thái Hằng hát xong bài Bà Mẹ Quê là xuống ngồi nghe các nhạc sĩ trong đoàn Văn Nghệ Khu III biểu diễn. Có Canh Thân hát bài Thiên Thai với sự phụ hoạ dương cầm của vua piano Nguyễn Văn Hiếu. Văn Cao ngồi cạnh tôi nhiều khi phải nhăn mặt khi nghe Canh Thân hát bài Thiên Thai với quá nhiều “fantaisies”, nghĩa là ca sĩ hát sai nhiều nốt nhạc ở trong bài hát. Có các nhạc sĩ Xuân Tiên, Xuân Lôi… thổi kèn cho nhiều ca sĩ hát những bài của Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Phúc, Lương Ngọc… 
Phải nói rằng Đại Hội Văn Nghệ này rất thành công. Thành công ở chỗ đại đa số văn nghệ sĩ được “chỉ huy” mà không có ai dám phản đối gì cả. Nếu có phản đối, phải đợi khi tan xong Đại Hội và trở về tới địa phương rồi mới phản đối bằng cách… “dinh tê”. Đại Hội lại cũng rất là vui. Ơ± giữa khu rừng xưa nay heo hút, bây giờ có rất đông đảo các tay to mặt lớn trong làng văn nghệ và chính trị tới gặp nhau. Sau bốn năm đi tung hoành ở mọi nơi, bây giờ họ mới có dịp tụ hội, mà lại tụ hội ở một nơi chúng tôi gọi là “gần mặt trời”. Giới văn nghệ sĩ có cảm tưởng như mình được trọng vọng. Trong giờ nghỉ giải lao, chúng tôi trò chuyện với nhau rất là thân mật, tránh không nhắc tới những vấn đề mà chúng tôi coi như là những “bêtes noires” vừa được nêu lên trong Đại Hội. 
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn vì quá yêu tôi qua những bài dân ca gần đây cho nên cho rằng tôi là người tạo ra được một âm giai đặc biệt Việt Nam, anh ta gọi là gamme phamduyrienne. 
Đoàn Phú Tứ giúp tôi sửa lại hai chữ trong bài Tiếng Hát Trên Sông Lô: 
Hỡi anh du kích tập bắn trên rừng
Thuyền tôi đậu bến Đoan Hùng
Nửa đêm nghe tiếng chim mừng líu lo…
 

— Cậu nên đổi hai chữ “nửa đêm” bằng hai chữ “bình minh”. 
Tôi đồng ý ngay. Và cám ơn tác giả của bài thơ Mầu Thời Gian bất hủ. Sau này tôi có phổ nhạc bài thơ đó, không biết anh bạn vàng này có nghe được hay không? 
Buổi tối có sinh hoạt văn nghệ. Có các khách ngoại quốc tham dự. Các cố vấn Liên Sô gặp nữ nghệ sĩ nào cũng ôm hôn khiến cho ai cũng ngượng. Họ còn mời các bà, các cô nhẩy theo kiểu “Son Đố Mì” nữa. Càng vui chứ sao? Đại Hội khoản đãi văn nghệ sĩ cũng rất chu đáo. Tuy không được hưởng chế độ ăn theo “tiểu táo” như các ông “vua mới” của nước ta, nhưng trong những bữa cơm tập thể nấu theo kiểu “đại táo” này, tôi đã được thưởng thức tài nội trợ của những bà như chị Võ Đức Diên với món chao làm bằng đậu xanh (soja) rất bổ béo. Trong suốt thời gian bốn tháng ở Yên Giã, ngày nào chúng tôi cũng được ăn cơm với chao, không đi tu mà cũng ăn trường chay.

(Trích Hồi Ký Phạm Duy, chương 32)

(CÒN TIẾP)

 

 

 

 

Thủ tướng Syria chạy theo quân nổi dậy

Ông Riad Hijab là quan chức cấp cao nhất của Syria rời bỏ phe chính phủ kể từ cuộc nổi dậy tháng Ba năm ngoái

Thủ tướng Syria Riad Hijab đã rời bỏ khỏi chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad để gia nhập ‘cuộc Cách mạng’, người phát ngôn của ông cho biết. Ông Hijab được bổ nhiệm chưa đầy hai tháng trước và sự ra đi của ông này là ở cấp cao nhất kể từ cuộc nổi dậy hồi tháng Ba năm 2011. Gia đình của ông này cũng được cho là đã cùng ông trốn khỏi Syria.

Riad Hijad là một người theo phái Sunni Muslim từ khu vực Deir al-Zour phía Đông Syria, nơi cũng nằm trong tầm ảnh hưởng của cuộc nổi dậy.

Tự do và danh dự

Phát ngôn viên của ông Mohammed el-Etri nói với đài truyền hình al-Jazeera rằng ông này hiện đang ở một nơi an toàn.

“Ngày hôm nay, tôi công bố sự đào ngũ của mình khỏi một chế độ khát máu và khủng bố đồng thời tuyên bố sự gia nhập của mình vào hàng ngũ của sự tự do và danh dự trong cuộc Cách mạng,” trích thông cáo của ông Mohammed được dẫn bởi phát ngôn viên.

Phóng viên BBC tại Jordan, Dale Gavlak nói rằng những diễn biến hiện tại đang nhấn mạnh sự rạn vỡ của chính quyền, vốn đang lan ra lên phía trên cả những vị trí trong hàng ngũ quân đội.

Những nguồn tin chưa được xác minh cho biết hai Bộ Trưởng nữa cũng đã đào ngũ và người thứ ba, Bộ trưởng tài chính Mohammad Jalilati đã bị bắt giữ trong lúc tìm cách trốn thoát. Tuy nhiên truyền thông chính thống Syria cho biết ông này vẫn làm việc tại văn phòng như thường lệ, đồng thời đăng tải một đoạn hội thoại mà đài này gọi là cuộc phỏng vấn qua điện thoại với ông Jalilati trong đó có đoạn ông này bác bỏ tin đồn bị bắt giữ.

Tháng trước, Đại sứ Syria tại Iraq, Nawaf Fares đào ngũ sang phía quân đối lập. Cũng giống như Thủ tướng Syria, ông này cũng xuất thân từ Deir al-Zour. Ông Brig Gen Manaf Tlas, người được cho là thân cận với Tổng thống Assad cũng đào ngũ vào tháng Bảy. 30 tướng tá khác cũng đã vượt biên sang Thổ Nhĩ Kỳ; thông tấn xã Anotolia của Thổ Nhĩ Kì cũng cho biết một viên tướng nữa đã bỏ trốn cùng năm sĩ quan chỉ huy cấp cao và hơn 30 lính dưới quyền.

Đài truyền hình chính thống Syria đăng tải sự từ nhiệm của thủ tướng mà không đưa ra bất kì lời giải thích nào. Người kế nhiệm ông, ông Omar Ghalawanji sẽ tiếp tục đảm nhiệm vai trò trong chính phủ.

BBC