Mạn đàm với Đặng-Thái-Sơn

ĐIỆP-MỸ-LINH

Vào dịp Ðặng-Thái-Sơn — người chiếm giải Huy Chương Vàng trong cuộc tranh tài quốc tế về trình tấu dương cầm nhạc của Chopin — đến Houston trình diễn, Ðiệp-Mỹ-Linh (ÐML.) đã tạo cơ hội để gặp gỡ và mạn đàm với Ðặng-Thái-Sơn (ÐTS.) quanh thế giới âm nhạc.

ÐML.- Xin anh cho biết anh bắt đầu học nhạc từ năm anh bao nhiêu tuổi? Ai là vị giáo sư âm nhạc đầu tiên của anh? Ngoài dương cầm anh có học các loại nhạc cụ nào khác không?

ÐTS.- Nhờ sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ, mẹ tôi là giáo sư dương cầm nên từ ba bốn tuổi tôi đã bắt đầu thích nhạc và thích sờ đàn. Nhưng vì tôi là út và các anh chị của tôi đều học nhạc cả nên Ba Mẹ tôi không muốn tôi học nhạc, vì tập đàn cả ngày, ồn. Vì thế tôi gặp nhiều khó khăn. Về sau, thấy tôi thích nhạc quá, ông cụ tôi bảo để cho tôi thử xem như thế nào. Chính ông cụ tôi phát hiện rằng tôi có năng khiếu nên từ sáu tuổi tôi bắt đầu học có quy củ. Mẹ tôi dạy tôi từ đó cho đến năm tôi  19 tuổi. Ngoài dương cầm tôi không học thêm một nhạc cụ nào nữa cả.

ÐML.- Ngoài kỹ thuật trình tấu, có bao giờ anh nghĩ đến vấn đề sáng tác không?

ÐTS.- Kỷ nguyên này không như thế kỹ 19. Thời lãng mạn của thế kỷ 19, các ông Chopin, Lizt, v. v. là những nhà soạn nhạc, đồng thời cũng là người biểu diễn luôn. Ðến thế kỷ 20, soạn nhạc và biểu diễn tách thành hai ngành riêng biệt. Ngành biểu diễn không những trình diễn chung chung mà còn có người chuyên trình diễn những nhạc phẩm của tác giả này và có người chuyên biểu diễn các tác phẩm của tác giả khác. Ðó là khuynh hướng chung của thời đại. Vì thế tôi chưa nghĩ đến vấn đề sáng tác, ít nhất là cho đến tương lai gần.

ÐML.- Như vậy có nghĩa là anh chuyên trình diễn nhạc Chopin?

ÐTS.- Thật ra nhạc Chopin có mối quan hệ tương đối rất đặc biệt đối với tôi. Cuối thập niên 60, trong lúc tôi học tập ở Việt-Nam với tất cả sự vất vả, khó khăn và thiếu thốn phương tiện thì, năm 1970, Mẹ tôi được sang dự một Concours Chopin với tính cách như một dự thính viên. Dịp ấy cụ Bà mang tất cả sách nhạc, đĩa nhạc của Chopin do những nhạc sĩ Ba-Lan trình tấu. Chị thử tưởng tượng, lúc ấy tôi chẳng có ông Beethoven, chẳng có ông Mozart, v. v. nào cả; đùng một cái, tôi có nhạc Chopin do chính gốc người Ba-Lan trình diễn, cho nên, Chopin thấm vào tôi từ đó. Và cái gì nó thấm vào mình khi mình còn bé thì nó thấm sâu.

ÐML.- Là một nhạc sĩ chuyên trình tấu nhạc cổ điển Tây-Phương, anh có nghiên cứu những khác biệt trong nhạc tính Ðông và Tây, đặc biệt về nhạc Việt-Nam hay không?

ÐTS.- Phân tích cặn kẽ giữa hai dòng nhạc tôi nghĩ phải cần khá nhiều thời gian. Bây giờ tôi chỉ xin nói đại để, nhạc Việt-Nam là nhạc ngũ cung. Nhạc phương Tây là hệ thống “gam” thứ trưởng. Ngoài ra về hòa thanh, điệu và tiết tấu cũng rất khác biệt.

ÐML.- Xin anh cho biết anh đã nghiên cứu về sự khác biệt đó hay là anh sẽ?

ÐTS.- Mỗi người một lãnh vực. Nếu chị hỏi tôi về cách thức trình diễn mới hay cũ của nhạc lãng mạn hoặc nhạc cổ điển, tôi sẽ trả lời cặn kẽ. Còn câu hỏi này của chị tôi nghĩ nó phù hợp với ông Trần-Văn-Khê hơn, vì ông ấy chuyên nghiên cứu.

ÐML.- Xin anh cho biết anh có chịu ảnh hưởng nhạc cổ điển Tây-Phương hay không?

ÐTS.- Tôi chuyên về nhạc cổ điển Tây-Phương và đó chính là “chỗ đứng” của tôi. Tuy nhiên “chất” Á-Ðông và dân tộc tính trong tôi vẫn còn đầy. Tôi nghĩ rằng tôi chịu ảnh hưởng dân ca Quan-Họ.

ÐML.- Thưa anh, Quan-Họ là vùng nào? Và tại sao anh lại chịu ảnh hưởng?

ÐTS.- Quan-Họ Bắc-Ninh. Thời tản cư tôi theo gia đình tản cư về vùng Bắc-Ninh. Ở đó hằng năm thường tổ chức Hội Lim. Vào dịp này trai gái có dịp gặp gỡ nhau, và thường hát những bài hát ngụ ý để giải bày tâm tình với nhau. Vì lớn lên trong khung cảnh đó cho nên chất thơ và nhạc đó hình thành và ảnh hưởng đến nhạc cảm của tôi rất nhiều.

ÐML.- Anh nghĩ thế nào về những ca khúc chính trị như Hồ-Chí-Minh muôn năm của Phan-Huỳnh-Ðiểu, trước năm 1945, Suy Tôn Ngô-Tổng-Thống của Thanh-Nam, năm 1954 và Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Ðại Thắng của Phạm-Tuyên, năm 1975?

ÐTS.- Mấy bản nhạc chị kể tôi chưa hề được nghe.

ÐML.- Ðầu năm 1970, nhạc sĩ Hùng-Lân đã trình bày trên vô tuyến truyền hình về đặc tính dân ca Việt-Nam qua âm giai ngũ cung (gamme tentatonique). Anh nghĩ gì về nhận định này?

ÐTS.- Hùng-Lân là nhạc sĩ trongNam, phải không, chị? Nếu ông ấy ở trongNamthì ngoài Bắc mù tịt, vì không có thông tin. Ngay như Phạm-Duy hay  nhạc Vàng này nọ, trước 75, làm thế nào ngoài Bắc biết được! Nghe là mang tội vào người. Sau 75 thì tôi sang Nga rồi.

ÐML.- Nói đến Phạm-Duy và âm giai ngũ cung là phải nhắc những nhạc phẩm thời kháng chiến của Phạm-Duy như Bao Giờ Anh Lấy Ðược Ðồn Tây, Về Miền Trung, Tổ Khúc Bầy Chim Bỏ Xứ và gần đây nhất là trường ca Hàn-Mạc-Tử. Anh nghĩ gì về thiên tài này?

ÐTS.- Thật ra nói đến ngũ cung không có nghĩa là nói đến Phạm-Duy, vì nhạc Á-Ðông đều là dạng ngũ cung. Theo tôi, Phạm-Duy là thần tượng của một thời đại âm nhạc ca khúc, tức là nhạc có lời. Tôi lại chuyên về nhạc không lời. Hai cách thể hiện khác nhau nhiều. Nhạc có lời dễ đại chúng hóa hơn, vì nó cụ thể. Còn nhạc không lời đòi hỏi người nghe phải có kiến thức cơ bản và trình độ thẩm âm.

ÐML.- Theo anh, trước năm 1975, nhạc miền Bắc có chịu ảnh hưởng nhạc cổ điển Trung-Hoa hay không?

ÐTS.- Có. Rất nặng. Tuy nhiên, về sau, nhạc miền Bắc cũng chịu ít ảnh hưởng Tây-Phương vì những người Việt-Nam sang Nga và Ðông-Âu học nhạc. Về kỹ thuật, hòa thanh và hình thức âm nhạc có tính cách Âu hóa.

ÐML.- Theo sự tìm hiểu của tôi, sau 1975, nhạc miền Bắc chịu ảnh hưởng nhạc miền Nam cho nên bắt đầu có nhịp điệu như Tango, Slow, v. v. Ðúng không, thưa anh?

ÐTS.- Vâng. Ảnh hưởng rất nhiều.

ÐML.- Tôi không biết từ bao giờ nhịp điệu nhạc thời trang ngoại quốc du nhập vào nền âm nhạc Việt-Nam. Thập niên 60 là thời gian cực thịnh của nhạc Jazz; nhưng nhạc Việt cẫn không bị nhạc Jazz chi phối. Nhưng hiện nay nhạc Rap đang thịnh hành tại Hoa-Kỳ và đa số nhạc sĩ Việt-Nam tị nạn cũng sống tại Hoa-Kỳ. Anh có nghĩ rằng nền âm nhạc Việt-Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhạc Rap hay không? Nếu câu trả lời là “có”, xin anh cho biết anh nghĩ như thế nào về sự “xâm nhập” đó?

ÐTS.- Năm 60 tôi mới hai tuổi nhưng thích nghe nhạc rồi. Tuy thế, ngoài Bắc chúng tôi chẳng được nghe; ngay như nhạc cổ điển chúng tôi cũng chẳng được nghe, vì điện không có, còn radio thì toàn những bài chính trị ca. Về ảnh hưởng của nhạc Rap tôi nghĩ, tất cả các nước Á-Ðông đều có người thích du nhập nhạc thời trang ngoại quốc. Hoa-Kỳ là xứ tự do, ai thích gì thì du nhập cái đó.

ÐML.- Trước năm 1945, nhạc sĩ Nguyễn-Xuân-Khoát nói “Trong rừng nhạc Việt-Nam lắm cỏ dại mà ít hoa thơm.” Theo anh, đối với nhạc sĩ bên nhà – cả Nam lẫn Bắc – và nhạc sĩ Việt-Nam hiện đang sống tại nước ngoài, câu nói ấy có quá đáng hay không?

ÐTS.- Ðối với những người khác, họ làm việc hằng ngày, nên nghe nhạc là điều giải trí. Riêng tôi, tôi làm việc với nhạc cả ngày, lúc rãnh rỗi, chỉ muốn yên lặng tuyệt đối. Do đó tôi ít theo dõi nên không thể nhận định.

ÐML.- Tuy ít theo dõi nhưng ít ra anh cũng nghe những nhạc phẩm miền Nam trước năm 1975 và những nhạc phẩm thời trang – của nhạc sĩ Việt-Nam – tại hải ngoại, anh có thấy tiến bộ về kỹ thuật, trình độ và chiều hướng sáng tác hay không?

ÐTS.- Tôi nghĩ có tiến bộ, nhất là về mặt kỹ thuật.

ÐML.- Nhạc tiền chiến, nhạc Bắc Việt, nhạc miền Nam và nhạc “lưu vong”, trong những dòng nhạc đó anh thích những nhạc sĩ nào? Tại sao?

ÐTS.- Tiếc là tôi không có thì giờ để nghe và phân tích.

ÐML.- Nếu có cơ hội, anh có muốn tìm hiểu về nhạc Việt và những nhạc cụ cổ điển của Việt-Nam hay không?

ÐTS.- Nếu có điều kiện, tôi muốn nghe tận gốc Quan họ Bắc-Ninh. Tôi dùng từ “tận gố” vì hiện tại có nhiều lai căng; mà tôi thì tôi thích cái gì nguyên thủy.

ÐML.- Phạm-Duy đang cố đưa âm thanh đàn bầu (monocorde) của Việt-Nam vào âm nhạc. Anh nghĩ như thế nào về sự việc này? Theo anh, trên thế giới có loại nhạc cụ nào độc đáo như đàn bầu của Việt-Nam hay không?

ÐTS.- Ðàn bầu là tượng trưng số một cho nhạc cụ Việt-Nam. Nếu ai thực hiện được điều đó thì rất đáng khích lệ và kính phục. Trên thế giới tôi chưa thấy một nhạc cụ nào chỉ một giây mà có thể diễn đạt được cái u uất, sầu não của người Việt như đàn bầu.

ÐML.- Hôm anh trình diễn, bản Lý Ngựa Ô anh đàn sau cùng thật tuyệt vời. Anh thường đàn nhạc Việt-Nam không? Anh có nghe Sasha Alexeev độc tấu dương cầm nhạc Việt-Nam chưa? Nếu có, anh nghĩ thế nào về ngón đàn của Sasha Alexeev?

ÐTS.- Tôi đàn nhạc Việt-Nam nếu bài đó soạn cho dương cầm. Nói về Sasha Alexeev, một lần, tại San Francisco, một người bạn cho tôi nghe qua, nhưng không để lại trong tôi được ấn tượng nào sâu sắc. Tôi nhận thấy anh ấy có một kỹ thuật nhất định về tùy hứng.

ÐML.- Trên đường lưu diễn từ mấy năm qua anh đã gặp được bao nhiêu người Việt-Nam trong các ban đại hòa tấu? Thường thường họ xử dụng nhạc cụ nào?

ÐTS.- Ban đại hòa tấu là gì?

ÐML.- Symphony Orchestra.

ÐTS.- Chỉ một người tại Thái-Lan; anh ấy đàn vĩ cầm.

ÐML.- Về phương diện sáng tác, nhiều người nghĩ rằng sau Phạm-Duy là Trịnh-Công-Sơn. Còn về trình tấu dương cầm, sau anh, anh nghĩ sẽ có người Việt-Nam nào khác không?

ÐTS.- Tôi nghĩ, về dương cầm, cho tới nay, trong nước có nhiều mầm non rất tốt. Nhưng ngoài tài năng, tôi nghĩ cũng phải có duyên phần nữa.

ÐML.- Xin anh cho biết cảm tưởng của anh khi anh trình tấu trước một cử tọa người ngoại quốc và trước cử tọa người Việt-Nam?

ÐTS.- Khi trình tấu trước cử tọa người ngoại quốc tôi phải vận dụng cả thể xác lẫn tâm hồn. Mình phải có cái triệt, cái thực lực riêng của mình. Khi trình diễn trước người Việt, vì thấy được sự cảm thông giữa người Việt với nhau nên tôi cảm thấy rất thư giản.

ÐML.- Tôi nghĩ giải Chopin bên âm nhạc cũng tương tự như giải Nobel bên văn hóa và khoa học. Có đúng không, thưa anh?

ÐTS.- Rất khó so sánh. Giải Nobel được toàn cầu biết đến từ lâu; trong khi giải Chopin chỉ những người thích và chú ý đến nhạc cổ điển mới nhận định được tầm cỡ của nó. Thêm nữa, muốn tranh giải Chopin, tất cả thí sinh phải đến Ba-Lan đọ tài; còn giải Nobel lại căn cứ vào các công trình trong một quá trình dài. Giải Nobel chỉ cần giỏi thôi chứ không cần hồi hộp, lo âu. Trái lại những thí sinh dự giải Chopin, khi ra sân khấu, không những phải giỏi mà còn đòi hỏi tinh thần phải vững.

ÐML.- Xin anh cho biết khi tranh giải Chopin, anh dàn tấu khúc nào, của nhạc sĩ nào? Và khi nhận giải Chopin anh nghĩ gì?

ÐTS.- Khi tranh giải Chopin, mọi thí sinh chỉ đàn nhạc của Chopin chứ không đàn nhạc của các tác giả khác. Do đó, nhiều khi chỉ một bản của Chopin mà cả đến mấy mươi người đàn để so tài.

Cuộc thi gồm bốn vòng. Tôi đàn rất nhiều bài, rất nhiều thể loại, chẳng hạn 3 bản Etudes, 2 bản Nocturnes, 1 bản Polonaise, 1 Sonate, một nhóm bài Mazurka, v. v. Và vòng cuối cùng là trình diễn chung với dàn nhạc một bản Concerto. Hôm đó tôi đàn Concerto cung Fa thứ.

Khi nhận giải Chopin tôi nghĩ đến Mẹ tôi. Vì Mẹ tôi – và cũng là thầy tôi –  đã tận tụy với tôi từ nhỏ và cũng vì Chopin là nhạc sĩ Mẹ tôi mến mộ nhất. Hoài bảo duy nhất của bà Cụ là ngày tôi trình tấu tại Concours Chopin, bà Cụ sẽ được sang để thấy tận mắt. Nhưng chính phủ Việt-Nam không cấp guấy phép cho Cụ.

ÐML.- Xin hỏi anh câu cuối cùng. Tối hôm qua, lúc tiệc trà sau khi trình diễn, theo yêu cầu của mọi người, anh ngồi vào piano, đàn một bản. Theo tiếng đàn, tôi thấy được sự biến chuyển tình cảm trên nét mặt của anh. Sau khi tiếng đàn dứt, anh không kềm giữ được xúc động, anh vội vã bước ra ngoài. Xin anh vui lòng cho biết tựa đề đoản khúc đó – dĩ nhiên là của Chopin rồi – và lý do nào khiến anh xúc động đến như vậy?

ÐTS.- Ðó là Nocture Chopin số 2 cung Mi Thứ Trưởng. Bản này gợi lại cho tôi thời kỳ chiến tranh ở vùng thôn quê Bắc Việt. Những đêm yên tĩnh Cụ Bà thường hay đàn bản này và chính trong khung cảnh ấy nhạc Chopin đã thấm nhập vào tôi.

Riêng tối hôm qua, vì trước khi đếnHoustontôi có nhiều lo âu, ngại ngùng; nhưng rồi không khí buổi trình tấu cũng như giờ phút hàn huyên sau khi trình tấu lại đem đến cho tôi cảm giác rất đặc biệt. Cảm giác đó không những ngược lại với những lo âu, ngại ngùng trước đó mà nó còn cho tôi thấy rõ cái tâm của bà con ở đâu cũng vậy và mọi việc xẩy ra hoàn toàn ngoài sự ước đoán của tôi. Do đó, sự xúc động đến với tôi không những vì bản nhạc mà còn vì cái  chiều cao cả rất lớn và sự cao cả đó vượt qua những chuyện nhỏ nhặt như chính trị. Sự cao cả này vĩnh cữu, vì đó là cái tâm của con người. 

ÐML.- Xin cảm ơn anh rất nhiều. Hy vọng rằng, với mẫu đối thoại được ghi lại, độc giả của Ngày Nay sẽ hiểu được phần nào về một tài danh đã đem niềm hãnh diện đến cho người Việt-Nam. *   

ĐIỆP-MỸ-LINH  

nguồn: từ nhà văn Đặng Mỹ Linh

Advertisement

Vân Tiên ngồi núp bụi môn…

Xưa có chàng thư sinh tên là Lục Vân Tiên, văn võ song toàn, trên đường ra kinh ứng thí chàng gặp bọn cướp Phong Lai đang uy hiếp một chiếc kiệu. Lúc ấy Lục Vân Tiên đi hai tay không nên chàng bèn bẻ cành cây làm vũ khí đánh đuổi bọn cướp, giải cứu người ngồi trong kiệu.

Khi bọn cướp tháo chạy, Vân Tiên đến gần chiếc kiệu thì mới biết người mình vừa cứu là một tiểu thư tên Nguyệt Nga.

Đó là đoạn đầu câu chuyện được kể trong tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu.

Bây giờ chúng ta thử giả định hai tình huống khác  cho câu chuyện này xem sao.

 TÌNH HUỐNG THỨ NHẤT:

Mặc dù Vân Tiên “văn võ song toàn”, dư sức đánh đuổi bọn cướp, nhưng vì muốn cầu an nên phớt lờ bỏ đi, mặc cho Nguyệt Nga kêu khóc cầu cứu. Chàng ta tiếp tục lên đường ra kinh ứng thí và đậu trạng nguyên. Trong trường hợp này thì ông trạng nguyên ấy là người tốt hay người xấu?

 TÌNH HUỐNG THỨ HAI:

Vân Tiên không xông vào cứu Nguyệt Nga, Vân Tiên cũng không phớt lờ bỏ đi, nhưng Vân Tiên lại “ngồi núp bụi môn” chờ cho bọn cướp Phong Lai lột sạch vòng vàng, nhẫn kim cương, bông tai hột xoàn, laptop, điện thoại di động…và “vui vẻ” với Nguyệt Nga xong, bỏ đi hết, thì chàng ta mới xuất hiện để “hưởng xái”. Hành động “núp bụi môn để chờ hưởng xái” này, giang hồ gọi là “cơ hội.”

Thấy chết đã không cứu lại còn lợi dụng tình cảnh ấy để hưởng lợi, xét về mặt nhân cách thì chỉ là phường vô lại. Còn xét về mặt luật pháp thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy Vân Tiên chưa xứng đáng làm một con người chứ đừng nói là trí thức.

Ờ bên Tây có một trường hợp “thấy chết mà không cứu” đã bị dư luận lên án mạnh mẽ đến nỗi kẻ bị lên án phải tự sát. Đó là trường hợp của nhiếp ảnh gia Kevin Carter sau đây:

Kevin Carter (1960-1994) phóng viên ảnh, công dân nước cộng hòa Nam Phi. Ông chụp bức ảnh con kền kền lẽo đẽo đi theo một bé gái da đen sắp chết đói để chờ em chết thì ăn thịt.  Bức ảnh đó được chụp vào khoảng đầu tháng 3.1993 tại làng Ayod, miền Nam Sudan. Sau đó tờ The New York Times đã mua lại và công bố vào số báo ra ngày 26.3.1993. Ngày 12.4.1994 (tức hơn một năm sau khi ảnh được công bố) Carter được thông báo thắng giải Pulitzer.

Nhưng ngày 27.7.1994 Kevin Carter tự tử vì bị dư luận lên án đã không cứu em bé mà chỉ lo chụp hình rồi bỏ đi.

Kevin Carter đã tự sát vì biết xấu hổ. Nhưng với hành động tự sát này, anh thực sự là một người trí thức.

*

Ngày 20/01/2012 khi ông Ngô Bảo Châu trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ rằng trí thức chỉ nên làm việc chuyên môn của mình và đứng ngoài thế sự, thì lập tức ông Nguyễn Quang Lập trong blog Quê Choa đã có lời nhắn nhủ như sau:

“Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bĩu và chỉ điểm những trí thức chân chính.”

Tôi hiểu cụm từ “trí thức trùm chăn” cũng giống như cụm từ “núp bụi môn” vì cả hai cụm từ ấy đều gợi lên một hình ảnh rất buồn cười: nó vừa hèn lại vừa “gian”.

 Và người nông dân của cái xứ Bình Định quê tôi đã có câu ca dao dí dỏm này:

 Vân Tiên ngồi núp bụi môn

Chờ khi trăng lặn …SỜ VAI Nguyệt Nga

 Đã “cơ hội” đến thế thì còn nói chuyện trí thức trí ngủ làm cái quái gì!

Có lẽ chúng ta nên cố gắng sửa mình để sống cho ra con người và đừng có “núp bụi môn, chờ khi trăng lặn” đã là quý lắm rồi.

ĐÀO HIẾU

By daohieu Posted in Chưa phân loại

Gửi Ngô Bảo Châu

nhà văn Nguyễn Quang Lập

Trong bài:  Giáo sư Ngô Bảo Châu:Bạn trẻ vẫn đầy niềm tin tương lai” , trả lời câu hỏi: “Giáo sư suy nghĩ thế nào về trách nhiệm phản biện xã hội của giới trí thức cũng như vai trò của giới trí thức trong xã hội?”, Ngô Bảo Châu nói: “Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.” Mặc dầu anh có nói thêm:”Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”, mạng FB vẫn sôi sùng sục.

Sáng 30 tết đáng lẽ nghỉ ngơi thư  giản chút ít mà mình cứ bứt rứt không yên. Không thể nghĩ đơn giản: “trí thức là người lao động trí óc“, cũng như không thể nghĩ giản đơn con người là động vật biết tư duy. Muốn biết ai đó là con người hay không, CON NGƯỜI viết hoa ấy, phải xét xem anh ta đã sống như thế nào, tức là tư cách của anh ta.  Sản phẩm làm ra của Châu- các công trình toán học của Châu, hoàn toàn xứng đáng giá trị của một nhà toán học, một nhà khoa học,  nhưng không vì thế mà người ta coi Châu là trí thức đâu, TRÍ THỨC viết hoa ấy, Châu ạ. Các nhà khoa học được coi là TRÍ THỨC hay không phải xét xem họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội như thế nào, xưa nay đều thế cả.

  Định viết bài nói lại với Châu nhưng nghĩ lại mình không viết nữa, dù sao tết cũng đến rồi. Mình đưa bài của Trần Minh Khôi, theo mình đây là bài viết hay, chí lý. Cũng như Châu, Khôi là người bạn mới quen của mình. Cũng như mình, Khôi rất quí mến Châu.  Nhưng cũng như mình, Khôi muốn nhắn gửi tới Châu: Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bĩu và chỉ điểm những trí thức chân chính.

TRÁCH NHIỆM TRÍ THỨC

TRẦN MINH KHÔI

Đó là tựa đề của hai bài viết, cách nhau 45 năm, của Noam Chomsky bàn về trách nhiệm trí thức.

 Trong cuộc bầu chọn 100 trí thức đương đại có ảnh hưởng nhất trong không gian tư duy Anh Ngữ của hai tạp chí Prospect và Foreign Policy năm 2005, cái tên Noam Chomsky đứng đầu danh sách. Điều này tự nó xác tín thẩm quyền của ông về đề tài mà ông bàn đến.

 Trong bài đầu tiên, được viết năm 1967, khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang ở đỉnh điểm của sự tàn phá, Noam Chomsky lên tiếng cảnh báo giới hàn lâm và khoa học về thái độ khúm núm của họ trước quyền lực chính trị và những quyết định của chính quyền (Mỹ) liên quan đến cuộc chiến. Trách nhiệm của trí thức là nói lên sự thật và vạch trần dối trá của chính quyền, ông tuyên bố. Gần nửa thế sau, sự chính trực và thái độ không thỏa hiệp đó của Chomsky vẫn nguyên vẹn. Ông nhấn mạnh đến trách nhiệm đạo đức của trí thức trong việc dùng những đặc quyền và địa vị của mình để đấu tranh cho tình thương, cho hòa bình, công bằng, và tự do. Bài viết thứ hai này có thêm cái phụ đề “đặc quyền để thách thức nhà nước”.

 Thách thức quyền lực, và thách thức quyền lực chính trị, thuộc về truyền thống trí thức phương Tây; Socrates và Jesus, Tolstoy và Marx, Montesquieu và Roger Williams, Martin Luther và J.J. Rousseau, và đương nhiên Noam Chomsky và Richard Dawkins, Václav Havel, Christopher Hitchens, Jared Diamond, Salman Rushdie,…Nói đến trí thức là nói đến lòng dũng cảm và sự chính trực đối diện với quyền lực, dù đó là quyền lực nhà nước, quyền lực tôn giáo, hay quyền lực văn hóa và lịch sử. Trí thức do đó bao giờ cũng là sự đe dọa đối với các định chế quyền lực, ngay cả quyền lực hàn lâm. Điều này đưa một hệ luận trực tiếp là khi một người tự nguyện phục vụ quyền lực, hay chỉ mon men quyền lực, thì người đó cũng đã tự nguyện từ chối vị thế trí thức của mình. Trí thức không a dua với kẻ cầm quyền.

 Trí thức là một quy chuẩn giá trị, không phải là một quy chuẩn nghề nghiệp. Một người lao động trí óc chỉ là một một chuyên viên, một công chức, một học giả, một nhà khoa học. Dù thành quả lao động của anh ta lớn đến đâu, đẳng cấp chuyên môn của anh ta cao đến đâu, nhưng anh ta vẫn không phải là trí thức cho đến khi thực hiện trách nhiệm xã hội của mình. Trong xã hội công dân, trí thức trước hết thực hiện trách nhiệm công dân, nghĩa là trách nhiệm bảo bệ các quyền căn bản, và sau đó là trách nhiệm đạo đức đối với xã hội của một người được hưởng đặc quyền và địa vị. Trong những xã hội mà ở đó nền pháp quyền chưa đủ mạnh để chế tài quyền lực nhà nước, trí thức thực hiện trách nhiệm bảo vệ công lý và bảo vệ các quyền tự do trước sự bạo ngược của nhà nước.“Trí thức”, cũng như với những khái niệm khác như “tự do”, “quyền”, “dân chủ”,… khi đi vào không gian tư duy tiếng Việt, đã được gọt giũa lại cho phù hợp với cái tâm thức thần dân của nổi sợ hãi truyền thống trước quyền lực các loại. Đã có rất nhiều người bàn về khái niệm “trí thức”, về việc có hay không có một tầng lớp trí thức ở Việt Nam, về vai trò của trí thức đối với người cầm quyền và đối với quốc gia,… nhưng gần như không ai bàn đến quan hệ đối kháng giữa trí thức và quyền lực. Từ đó, “trí thức” bị đánh đồng với chuyên viên, học giả, công chức. “Trí thức” trong tiếng Việt không còn chứa đựng nội hàm của thái độ thách thức quyền lực như trong ý nghĩa nguyên thủy của nó. Điều này tự nhiên trong tiến trình chuyển tiếp từ một xã hội thần dân sang một xã hội công dân. Khi quyền lực nhà nước vẫn còn quá bạo ngược, sợ hãi để tồn tại, “tôi sợ”, tự nó cũng là quy chuẩn đạo đức đáng khâm phục. Nhưng tư biện loanh quanh để lẩn tránh sự sợ hãi, trong nhiều trường hợp là vô hình, như trường hợp với những người mà cuộc sống của họ ở ngoài sự kiểm soát của quyền lực, lại là thái độ hèn nhát, không xứng đáng với trách nhiệm trí thức. Và cũng như với tất cả sự hèn nhát khác, nó vô dụng.

 Tiến trình hình thành tầng lớp trí thức ở Việt Nam, nghĩa là tiến trình trả lại đầy đủ ý nghĩa của khái niệm “trí thức”, song hành với tiến trình xây dựng một xã hội công dân, giới hạn quyền lực nhà nước và bảo vệ các quyền tự do. Nó đòi hỏi lòng dũng cảm và chính trực.

 Trí thức, theo Chomsky, là một đặc quyền. Đặc quyền đưa đến cơ hội. Cơ hội đòi hỏi trách nhiệm. Và mỗi cá nhân có chọn lựa của mình, trong đó có chọn lựa trở thành trí thức.

Theo blog FB của TMK

Nhàn đàm về nịnh

Trong giao tiếp hàng ngày, chúc tụng, ca ngợi, động viên cổ vũ, khen nhau khiến cho nhau phấn khởi vui vẻ trong cuộc sống là chuyện thường tình. Thế nhưng nịnh hót, nịnh nọt để thành kẻ nịnh bợ thì cũng không phải là chuyện hiếm.

Các kiểu nịnh xưa nay rất đa dạng, nhưng đều có chung một bản sắc, đó là tự hạ mình ca tụng, khen ngợi bề trên một cách quá mức để tranh thủ cảm tình, cầu lợi cho bản thân.

Xưa nay nịnh chỉ có một chiều: dưới nịnh trên, không hề có chuyện người trên nịnh kẻ dưới, ngoại trừ trường hợp dỗ dành trẻ con. Và lúc này nịnh đã biến thành nựng.

Theo sử sách đông tây kim cổ, kẻ thành đạt, giàu có quyền thế bậc nhất nhờ nịnh hót thì chưa ai vượt qua được Hòa Thân thời vua Càn Long nhà Thanh Trung Quốc. Khi Càn Long hứng chí làm thơ, Hòa Thân ca tụng hết lời: “Thơ của Hoàng thượng hay tuyệt đỉnh, chữ viết như rồng bay phượng múa. Triều đình ta mấy nghìn năm chưa có ai làm thơ hayvà viết chữ đẹp như thế! “. Hễ có dịp là Hòa Thân ca tụng “Công ơn của Hoàng thượng như trời bể, tài đức sánh ngang với Nghiêu, Thuấn!”.

Với những lời phỉnh nịnh ngọt ngào như thế, Hòa Thân từ một tên quan lại hạng quèn đã leo lên đến Tể tướng và giàu có tột đỉnh. Tài sản nhà họ Hòa còn lớn hơn ngân khố quốc gia.

Chẳng cứ gì Hòa Thân, xưa nay những kẻ xu nịnh vẫn thường a dua theo đuổi kẻ có quyền thế, phủ nhận và xuyên tạc sự thật bất chấp lẽ phải. Sử Trung Quốc vẫn còn ghi chuyện Triệu Cao, Tể tướng nước Tần, rất được lòng Tần Nhị Thế áp mưu giết hại Thừa tướng Lý Tư, Triệu Cao đem dâng vua một con hươu và bảo nhà vua rằng đó là con ngựa. Tần Nhị Thế hỏi quần thần “Con vật này là hươu hay ngựa. Bọn quan lại xu nịnh Triệu Cao đều tâu là ngựa!”

Đấy là chuyện bên Tàu. Ở ViệtNamta cũng có khối chuyện vui lý thú. Như chuyện tên đầy tớ nịnh chủ trong chuyện cười ViệtNam. Tên đầy tớ có thói quen phỉnh nịnh, chủ nói gì hắn đều nói theo và phóng đại tô màu! Đi chơi, ông chủ khen. “Lúa đồng làng này tốt quá?”. Tên đầy tớ ca theo “Lúa đồng làng ta tốt gấp mười lần ! ” . Chủ khen cô thôn nữ xinh gái. Tên đầy tớ ca theo “Cô nương nhà ta xinh gấp mười lần”. Khi gặp một bà già, chủ nhận xét bà xấu xí. Tên đầy tớ quen mồm buột miệng “Bà nhà ta xấu gấp mười lần ! ” . Thì ra nịnh hót đã thành quán tính!

Nghệ thuật nịnh bao giờ cũng dùng lời lẽ rất văn vẻ để người trên vừa lòng như chuyện tên lính hầu phát hiện trên chòm râu quan huyện có dính hạt cơm. Hắn đã quỳ tâu: “ Bẩm quan lớn, có hạt minh châu vương trên long tu ngài”. Quan hiểu ý nhặt bỏ hạt cơm, rất hài lòng khen tên hầu bẻm lép thông minh.

Tuy vậy, trong kho tàng chuyện nịnh trên thế gian này có lẽ chưa có chuyện nịnh nào vượt qua được tầm nịnh trong chuyện “Nịnh rắm” của nước ta. Chuyện kể rằng trong một buổi thăng đường, huyện quan vô tình tương ra một cái rắm. Quan đang bối rối thì viên thơ lại đã đến bên xun xoe: “Bẩm quan lớn, con nghe như có tiếng đàn, tiếng sáo!”. Một viên thơ là khác lại thốt lên: “Bẩm quan lớn con thấy thoang thoảng hương quế, hương lan ! ” .

Huyện quan tỏ vẻ buồn rầu: “Ta nghe nói, trung tiện mà thơm thì ta e chẳng còn sống được bao lâu nữa !” . Hai viên thơ lại cuống quít đính chính. “Bẩm quan lớn, dạ, bây giờ mới có mùi ạ!”, “Dạ, bẩm quan lớn, bây giờ thì thối lắm, thối lắm ạ!”

Suy cho cùng, nịnh là để chiếm cảm tình của cấp trên để mưu cầu lợi ích riêng. Nịnh là phép xử thế của những kẻ bất tài, kém sức nhưng lại muốn vươn lên bằng thủ thuật nịnh bợ. Xã hội càng phát triển, thủ thuật nịnh càng tinh vi, đa dạng. Từ những ngôn từ đẹp đẽ tâng bốc đón ý cấp trên, tranh thủ cảm tình đến hạ mình phục vụ hầu hạ, biếu xén quà cáp, hối lộ đất đai, tiền bạc.

Vì vậy các nhà xã hội học đều cho rằng nịnh là có hại cho sự phát triển xã hội. Ngay từ thời Tam quốc, Tào Tháo đã viết xuống chiếu cầu hiền: “Trị vì đất nước, thiết tập trăm quan, phải thực sự phòng người xu ninh . . . ” .

Cho nên, nhận ra được bộ mặt thật của kẻ xu nịnh không phải là khó nhưng để tránh được sự tâng bốc, phỉnh phờ, đường mật rồi vô tình lạc vào mê cung thì thật không dễ. Phát hiện kẻ nịnh rồi tìm cách tránh, xưa nay không phải là không có.

Chuyện cũ kể rằng quan đại phu nước Tề là Trâu Ký rất khôi ngô, tuấn tú. Qua việc ba bà vợ đều khen ông đẹp trai hơn Từ Công. Ông hiểu là người đời thường xu nịnh nên tâu với Tề Uy Vương tìm biện pháp lắng nghe trực tiếp ý kiến của thần dân Tề Uy Vương ra lệnh: “Ai vạch chỉ ra lỗi lầm của nhà vua trước mặt triều đình thì được thưởng loại 1 . Ai dâng biểu hạch tội nhà vua được thưởng loại 2. Ai có lời chỉ trích nhà vua được thưởng loại 3”.

Lệnh vua vừa ban ra, dân chúng kéo đến cổng thành đông như họp chợ. Tề Uy Vương mới bừng tỉnh, biết mình trước đây toàn nghe theo lời của bọn nịnh thần nham hiểm…

Trong sử sách cũng còn ghi chuyện Sở Trang Vương lúc nào cũng lo lắng việc nước luôn hỏi han quần thần nhưng lũ nịnh thần lúc nào cũng ca tụng Sở Trang Vương sáng suốt, tài ba. Sở Trang Vương rất buồn, ông than: “Ta đây đã ngu mà đình thần lại ngu hơn ta nữa thì nước ta có lẽ khó mà giữ được Yên”.

Sau đó Sở Trang Vương loại bỏ hết bọn nịnh thần, trọng dụng người tài khiến nước Sở ngày càng hùng mạnh. Tề Uy Vương, Sở Trang Vương không nghe lời xu nịnh nhưng trên thế gian này vẫn còn vô số những người thích nghe những lời tâng bốc đến nỗi tan tành sự nghiệp, mất cả mạng sống của mình.

Danh tướng Quan Vũ (Quan Vân Trường) một trong ngũ hổ thời Tam quốc, oai phong lẫy lừng là thế nhưng lại mất cảnh giác trước lời tâng bốc, phỉnh nịnh của Lục Tốn – đại tướng Đông Ngô, để rồi bị Lục Tốn đánh úp chiếm đóng Kinh Châu và chặt đầu Quan Vũ!

Nói công bằng, có người ưa nịnh thì cũng có người khẳng khái không ưa nịnh, luôn giữ bản chất trong sạch của mình trước kẻ cường quyền dù đó là vua của một nước. Nhan Súc, học giả nổi danh của nước Tề không chịu xu nịnh. Tề Tuyên Vương là một ví dụ .

Chuyện kể rằng khi vua đến chơi nhà Nhan Súc, vua gọi: “Nhan Súc, lại đây!”, y như kiểu gọi một đứa trẻ. Nhan Súc điềm tĩnh đắp lại: “Hoàng thượng! Lại đây!”. Các quan theo hầu hạch tội. Nhan Súc giải thích:”Vua gọi mà Nhan Súc lại để xun xoe thì Súc là người xu nịnh ham muốn quyền lực. Súc gọi mà nhà vua lại thì vua là người quý trọng hiền sĩ. Nếu để Súc này mang tiếng hâm mộ, xu nịnh quyền thề thì sao bằng để nhà vua được tiếng quý trọng hiền tài!”. Thật là một lập luận biện hộ hết sức tài tình.

Trong cuộc sống ngày nay, xu nịnh vẫn luôn tồn tại ở đâu đó, dưới nhiều hình thức, nhiều kiểu cách, mức độ khác nhau. Phân biệt được khen ngợi chân tình, thực lòng hay tâng bốc nịnh nọt thực ra không khó lắm.

Nhưng khổ một nỗi, loại bỏ thói xu nịnh lại chẳng dễ dùng vì con đường tiến thân bằng xu nịnh lại thường bằng phẳng, ít chông gai và vì xu nịnh đều dùng lời đường mật dễ thấm vào lòng người.

Chẳng thế mà thời nay đã hình thành câu cửa miệng: “Bằng lòng hơn bằng cấp”, song hành cùng câu tục ngữ thời xưa “Mật ngọt chết ruồi”.

TRẦN TRUNG HẢI

Theo: chungta.com

THƯ MÙA XUÂN

tranh
Rosa Foetida

.

THƯ MÙA XUÂN

Làn mây trắng ngang trời xanh thẳm
Một nụ hồng vừa nở dưới hiên
Ta thầm đọc câu thơ mới viết
Có bóng trăng và một con thuyền.
.
Ở đâu đó nồng hương nếp mới
Tiếng chim chiều vui không gian xanh
Trên trang viết thêm vần thơ nhỏ
Riêng tặng em nơi quê yên lành.
.
Xuân làm nở mai vàng trên núi
Ly rượu mời đọng chút hoàng hoa
Ta lại nhớ những người bạn cũ
Những người thân, du tử, phương xa.
.
Xuân mới về theo mùa chuyển dịch
Để tháng ngày thêm tuổi cho ai
Xin nâng cốc chúc mừng tất cả
Chúc hôm này chúc cả ngày mai.
.
ĐOÀN THUẬN
By daohieu Posted in Chưa phân loại

Nhà văn Võ Thị Hảo nói gì?

NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO NÓI GÌ?

mời các bạn click vào đường link dưới đây:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/01/120121_vn_intelligentsia_vothihao.shtml

Thuyền trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh vì tổ quốc

Ngụy Văn Thà (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1943 mất ngày 19 tháng 1 năm 1974) là một sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng HòaThuyền trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10, tử trận trong hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1năm 1974 và được truy phong hàm Trung tá Hải quân.

Tiểu sử

Ông sinh ngày 16 tháng 1 năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Ở độ tuổi trưởng thành, ông gia nhập lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và theo học khóa 12 Trường Sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Nha Trang. Ông tốt nghiệp khóa Đệ nhất Song ngư, ngành Chỉ huy vào tháng 3 năm1964 với cấp bậc thiếu úy.

Sau khi tốt nghiệp, ông thực tập trên hải vận hạm LST-1166/MSS-2 Washtenaw County thuộc Hạm đội 7 của Hoa Kỳ. Trong thời gian phục vụ trên một số chiến hạm của Hạm đội Hải Quân Việt nam Cộng Hòa, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ:

Thuyền phó Tuần dương hạm Ngô Quyền HQ-17,

Chỉ huy phó Giang đoàn 23 Vĩnh Long,

Thuyền trưởng tuần duyên đĩnh (Patrol Boat) Kèo Ngựa HQ-604,

Thuyền trưởng giang pháo hạm (Landing Ship Infantry Light) Tầm Sét HQ-331, và

Thuyền trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 từ ngày 16 tháng 9 năm1973.

Ông được chính phủ Việt Nam Cộng hòa tặng thưởng 13 huy chương đủ loại, trong số đó có Đệ ngũ Đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu.

Trận đánh cuối cùng

Ngày 18 tháng 1 năm 1974, hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 do Thiếu tá Ngụy Văn Thà chỉ huy đang tuần tiễu tại vùng biểnĐà Nẵng thì được lệnh hành quân trực chỉ Quần đảo Hoàng Sa, tiếp ứng lực lượng hải đội Việt Nam Cộng hòa tại đây. Bấy giờ, tàu HQ-10 đang có một máy chính và radar hải hành đang ở trạng thái hư hỏng không sử dụng được.

Lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19 tháng 1 năm 1974, trận giao chiến giữa lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc đã nổ ra. Phía Trung Quốc, hai chiến hạm Trung Quốc mang số 389 và 396 đồng loại tấn công thẳng vào soái hạm của Việt Nam Cộng hòa là chiếc tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. HQ-10 lập tức can thiệp, pháo kích dữ dội, bắn trúng đài chỉ huy của tàu 389 và làm cháy phòng máy khiến 389 bị hư hại nặng, không thể điều khiển được nữa. Các tàu Trung Quốc 389 và 396 chuyển làn nhắm vào HQ-10 và phản pháo. HQ-10 bị bắn trúng tháp pháo và buồng điều khiển, làm thuyền trưởng và thuyền phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng, tay lái không còn điều khiển được nữa và HQ-10 cũng bị rơi vào tình trạng bị trôi dạt như 389.

Trước tình hình tàu bị hư hại nặng, thuyền trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho thủy thủ đoàn dùng bè đào thoát, nhưng một số pháo thủ và ông tiếp tục ở lại bắn vào tàu Trung Quốc. Cả hai 389 và 396 đều bị HQ-10 bắn hư hại nặng; 389 dạt vào một bãi san hô, và 396 bị HQ-10 bắn trúng hầm máy gây nổ và phát hỏa, cơ khí trưởng là Trung úy Huỳnh Duy Thạch cùng các nhân viên cơ khí khác cũng bị tử thương [3]

Tới 11 giờ 49 phút, khi các chiến hạm khác của Việt Nam Cộng hòa đã rút khỏi vùng giao chiến, hai chiến hạm Trung Quốc là 281 và 282 tiến vào vùng Hoàng Sa và tập trung hỏa lực bắn vào HQ-10. Hộ tống hạm Nhựt Tảo chìm cùng thuyền trưởng và một số thủy thủ ở vị trí cách 2,5 hải l‎ý về hướng Nam bãi ngầm Sơn dương (Antelope Reef), lúc 14 giờ 52 phút ngày 19 tháng 1 năm 1974.[4]

Sau khi Thiếu tá Ngụy Văn Thà tử trận, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã truy tặng Đệ ngũ Đẳng Bảo quốc Huân chươngkèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu và truy phong ông lên hàm Trung tá Hải quân.

Đề nghị vinh danh

Hiện nay nhiều người Việt trong và ngoài nước đang đề nghị chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nên vinh danh ông cùng 73 tử sĩ khác đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa. Những người đề nghị cho rằng dù là quân đội Việt Nam Cộng Hòa hay Cộng Sản thì sự hy sinh trong khi bảo vệ tổ quốc, chống trả lại sự xâm lăng của ngoại bang cần thiết phải được vinh danh và đó cũng là một tín hiệu tích cực cho sự hòa giải dân tộc.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

‘Chồng tôi hy sinh cho đất nước’

MỜI BẠN CLICK VÀO DƯỜNG LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ  NGHE

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/01/120119_banguyvantha.shtml

Đã 38 năm kể từ ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, trong đó 58 thủy thủ Việt Nam Cộng hòa tử nạn.

Ngày 19/1/1974, Trung Quốc chính thức chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa sau trận chiến đẫm máu với hải quân chế độ Sài Gòn.

Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng một số thủy thủ hy sinh theo chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 sau khi tàu này bị Trung Quốc bắn chìm.

Hiện bà quả phụ Ngụy Văn Thà đang tạm trú ở TP Hồ Chí Minh, mong chờ tới ngày được về căn nhà mới để có chỗ lập bàn thờ chồng.

BBC Cập nhật: 14:55 GMT – thứ năm, 19 tháng 1, 2012