Hàng ngàn người Nga biểu tình ở Moscow

Những người biểu tình ở Nga lồng ảnh ông Putin với một "bao cao su" nhằm đáp lại chỉ trích của ông này với họ.

Cập nhật: 11:02 GMT – thứ bảy, 24 tháng 12, 2011

Hàng ngàn người tập trung tại trung tâm Moscow để phản đối cuộc bầu cử Quốc hội bị cáo buộc gian lận. Các cuộc biểu tình, tuần hành đang diễn ra trên khắp nước Nga, với cuộc biểu tình lớn đầu tiên nổ ra ở thành phố viễn đôngVladivostok. Tại thủ đôMoscow, các nhà tổ chức hy vọng khoảng 50.000 người sẽ tập hợp để nghe các bài phát biểu của nhiều nhân vật đối lập.

Tổng thống Dmitry Medvedev đã công bố cải cách chính trị trong tuần này, nhưng nhiều người biểu tình nói rằng điều đó là không đủ. Họ đang đòi tổ chức lại cuộc bỏ phiếu vừa qua mà trong đó đảng của Thủ tướng Vladimir Putin đã “giành thắng lợi.”

An ninh được thắt chặt trong toàn thành phố, với 40 xe bus trở đầy cảnh sát chống bạo động được xếp hàng dọc theo hướng đại lộ, theo truyền thông Nga.

‘Bầu cử tự do ‘

Một người biểu tình mang áp phích có hình ông Putin đằng sau song sắt nhà tù.

Tại Moscow, người biểu tình cầm trong tay các trái bóng bay màu trắng và biểu ngữ với khẩu hiệu “Ủng hộ bầu cử tự do” khi các cuộc biểu tình khai mạc.

Đây là một phong trào quần chúng rộng lớn của Moskva, phóng viên BBC Daniel Sandford đưa tin tại thủ đô Nga cho hay. Cuộc biểu tình tạiMoscowhôm thứ Bảy – được phép của chính quyền – được tổ chức bởi một liên minh các lực lượng đối lập. Khoảng 47.000 người tuyên bố trên Facebook rằng họ tham dự, và khoảng 10.000 người khác nói rằng họ có thể tham gia các cuộc biểu tình.

Trong số những người tham dự sự kiện này là blogger nổi tiếng chống Kremlin, Alexei Navalny, ông có mặt sau khi được thả tự do khỏi nhà tù do đã tham gia một cuộc biểu tình ởMoscowngày 10 tháng Mười Hai. Dự kiến trong số 22 diễn giả đăng đàn ởMoscow​​sẽ bao gồm nhà thách thức và đối kháng với Putin, ông Mikhail Prokhorov và cựu lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev.

Ngoài các chính trị gia, còn có các nhân vật khác như nhạc sĩ Yuri Shevchuk, diễn thuyết thông qua kết nối video, nhà văn chinh thám Boris Akunin, nhà vận động Urals chống ma-túy Yevgeny Roizman và nhà châm biếm Viktor Shenderovich.

‘Hủy bỏ kết quả’

Những người biểu tình cáo buộc ông Putin và đảng của ông đã lừa dối và gian lận để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.

Các nhà tổ chức cho biết khoảng 50.000 người đã tập hợp vào ngày 10 tháng Mười Hai, trong một cuộc biểu tình chống chính phủ lớn nhất kể từ khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991.Phe đối lập, được khuyến khích bởi thành công đó, đang buộc điện Kremlin vào thế bị động.

Hôm thứ Năm, ông Medvedev đã đề xuất tổ chức bầu cử trực tiếp bởi các thống đốc vùng và đơn giản hóa các thủ tục đăng ký hoạt động với các đảng phái chính trị, thế nhưng những người biểu tình nói rằng cacs nhượng bộ không đi đủ xa, theo phóng viên BBC Steve Rosenberg tạiMoscow.

Tuy nhiên, một trong những vấn đề chính của phe đối lập là không có nhà lãnh đạo duy nhất có thể đoàn kết toàn bộ, phóng viên của chúng tôi cho biết thêm.

Theo kết quả chính thức của cuộc bầu cử Duma Quốc gia Nga, đảng Nước Nga Thống nhất đang cầm quyền bị tụt phiếu từ 64% xuống còn 49%, mặc dù đảng này vẫn dễ dàng “đứng đầu.”

Nhưng có một dư luận và quan điểm, được trao đổi rộng rãi trên các video quay từ điện thoại di động và trên các trang mạng xã hội, rằng đã có gian lận bầu cử quy mô lớn và rằng đảng của ông Putin đã lừa dối để giành chiến thắng. Điện Kremlin bác bỏ cáo buộc này.

Tại Vladivostok, những người biểu tình mang các áp phích kêu gọi ông Putin phải được đưa ra xét xử và nghị sỹ cấp vùng Artyom Samsonov nói các kết quả bầu cử cần phải bị hủy bỏ.

BBC

Advertisement

Vua ở truồng, Vua mặc quần, hai vua thăng hà

Vaclav Havel, người được đề cử làm Tổng Thống. Hàng ngàn người dân Tiệp tụ tập vào ngày Chủ Nhật, 10 tháng 12 năm 1989 tại Quảng Trường Wenceslas của Praha để chứng kiến sự thành công của Cách Mạng Nhung (Ảnh AP)

Đinh Từ Thức  (23.12.2011)

Ít khi có hai nhân vật cùng nổi tiếng trên thế giới, nhưng khác nhau như mặt trăng mặt trời, một người là vua dân chủ, một người là vua độc tài, cùng từ trần vào một cuối tuần. Đó là trường hợp của hai ông Vaclav Havel, cựu Tổng Thống Tiệp Khắc và Cộng Hòa Czech, và ông Kim Jong-Il, lãnh tụ Đảng Lao Động cầm quyền tại Bắc Triều Tiên. Đúng ra, ông Kim mất ngày thứ Bảy, 17 tháng 12, ôngHavelmất ngày Chủ Nhật 18. Nhưng trong chế độ độc tài, cái gì cũng phải có chút bí mật cho phải phép, ngày 19 Bình Nhưỡng mới báo tin ông Kim chết. Thành ra, ở Mỹ, được tin hai ông chết cùng ngày 18.

Cả hai ông cùng được dân chúng nước mình thương tiếc, và thế giới chia buồn. Theo truyền thông nhà nước Bắc Triều Tiên, có tới năm triệu người dân vật mình vật mẩy, bò lê bò càng khóc lóc thảm thiết, thương tiếc lãnh tụ kính yêu. Ở chốn riêng tư, không hiểu họ biểu lộ tình cảm với lãnh tụ thế nào, chẳng ai được thấy. Nhưng cảnh những sĩ quan cao cấp trong quân phục uy nghi, huy chương đầy mình, mặt mũi mếu máo, nước mắt đầm đìa, và dân từ già tới trẻ, đàn ông đàn bà, vật vã khóc lóc giữa chốn công cộng, trông rất cảm động, khó nhịn cười. Cứ nhìn bề ngoài, ông Kim được thương tiếc nhiều hơn ôngHavel. Cũng hợp lý, theo kết quả bầu cử, bao giờ các lãnh tụ độc tài cũng đắc cử vẻ vang, với tỉ lệ cao hơn nhiều so với các lãnh tụ dân chủ.

Về thế giới chia buồn, ông Kim được nước bạnCubatreo cờ rủ, để tang ba ngày liền. Bình Nhưỡng không tiếp khách nước ngoài tới đưa ma. Nước bạn Cộng Sản Việt Nam cử hai phái đoàn tới Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Hà Nội chia buồn.

Nếu ông Kim mất cách đây mấy tháng, chắc chắn đã được nước bạnLibyacủa Đại vương Gaddafi chia buồn. Nhưng chết sau cũng có lợi, thế nào ông Kim chả được ông Gaddafi đón ở Tầng đầu Địa ngục. Ông Havel được nhiều nước, và nhiều nguyên thủ quốc gia chia buồn và tiễn đưa hơn; Mỹ cử một phái đoàn hùng hậu tới Praha dự tang lễ, do Bà Ngoại Trưởng Hillary hướng dẫn, có chồng là cựu Tổng Thống Bill Clinton đi theo.

*

Điều khá đặc biệt là, hiện tượng than khóc của người dân Bắc Triều Tiên dành cho ông Kim, đã được ông Havel giải thích từ hơn ba mười năm trước. Đó là thái độ “ai sao tôi vậy” của những người đã quen sống như cái máy dưới chế độ toàn trị. Làm theo yêu cầu do lệnh trên hay hoàn cảnh, mà không theo lý trí của mình.

Qua tiểu luận nổi tiếng nhất viết năm 1978 “Quyền lực của người vô quyền” (“The Power of the Powerless”), Vaclav Havel đã phân tích về việc viên quản lý tiệm bán rau trưng bầy trong cửa hàng của mình khẩu hiệu “Lao động thế giới hãy đoàn kết lại!”

Tại sao anh ta làm như vậy? Có bao giờ anh ta bỏ ra một khoảnh khắc để tự hỏi liệu sự đoàn kết đó có thể xẩy ra được không, và có ý nghĩa gì?

Đặt vấn đề rồi,Haveltự trả lời:

Tôi dám chắc là đại đa số các quản lý tiệm không bao giờ suy nghĩ về những khẩu hiệu họ trưng bầy ở cửa tiệm, và họ cũng không dùng nó để biểu lộ quan điểm riêng của mình. Khẩu hiệu đó đã được phân phối cho quản lý từ trụ sở trung ương của doanh nghiệp cùng với hành và cà rốt. Họ trưng bầy tại cửa tiệm chỉ vì nó đã được làm như thế từ lâu rồi, và mọi người cùng làm như vậy, và bởi vì nó phải được làm như thế. Nếu từ chối, quản lý tiệm có thể gặp rắc rối. Anh ta có thể bị khiển trách vì cửa hàng không được trang trí đúng cách; có người còn có thể kết tội anh ta là không trung thành. Anh ta làm thế vì phải làm như thế để hòa nhịp với đời. Đó là một trong hàng ngàn chi tiết để bảo đảm cho anh ta một đời sống tương đối yên ổn “để hòa hợp với xã hội” như người ta thường nói.

Đối với dân Bắc Triều Tiên, khóc thương Lãnh tụ vĩ đại Kim Il-Sung năm 1994, hay Lãnh tụ kính yêu Kim Jong-Il bây giờ có khác gì việc trưng khẩu hiệu trong cửa hàng. Họ làm như người khác, để hy vọng được yên thân sống như mọi người.

Trở lại đề tài về người quản lý bán rau, theoHavel, chất liệu nuôi dưỡng chủ nghĩa toàn trị là hỗn hợp của sự sợ hãi và giả dối. Người quản lý giả bộ trung thành vì sợ hậu quả. Ông viết:

Hãy tưởng tượng, một ngày nào đó, người quản lý bán rau không làm theo người ta hay theo thói quen, không trưng khẩu hiệu nữa. Không đi bầu vì biết là trò hề, và bắt đầu phát biểu ý nghĩ thực của mình tại các cuộc họp. Và hơn nữa, còn dám can đảm tỏ tình liên đới với những người mà lương tâm mình nói nên ủng hộ. Trong sự vùng lên này, người quản lý đã bước ra khỏi cuộc sống giả dối. Anh đã phủ nhận thói thường, và phá vỡ luật chơi. Anh đã tìm lại được con người thật và nhân phẩm của mình. Cuộc vùng dậy của anh là cố gắng để sống với sự thật.

Khi làm theo lương tâm của mình, người quản lý không chỉ làm một chuyện nhỏ có tính cá nhân, mà chính là làm chuyện động trời, góp phần vào việc phá sập thành trì toàn trị. Bằng cách phá luật chơi, anh đã phá cả cuộc chơi. Anh đã chứng tỏ nó chỉ là trò chơi. Anh đã phá hư kiến trúc của quyền lực bằng cách phá hủy những gì chống giữ nó. Anh đã chứng tỏ sống giả dối là giả dối. Anh đã phá hủy bề mặt của chế độ và phơi bầy cái nền tảng thực của quyền lực.

Kim Jong-iL vĩ đại

Anh đã hô lên rằng hoàng đế đang ở truồng. Và bởi vì thực sự hoàng đế đang ở truồng, một vài điều cực kỳ nguy hiểm đã xẩy ra: Bằng hành động của mình, anh bán rau đã nói với thế giới. Anh đã giúp mọi người có thể nhìn qua tấm màn để thấy hậu trường.

Anh quản lý chỉ là kẻ vô quyền, nhưng bằng cách hành động theo lương tâm và tôn trọng sự thật, anh có quyền lực đủ mạnh để lật đổ chế độ toàn trị. Vaclav Havel xuất thân cũng là một kẻ vô quyền. Và bằng cách quyết tâm theo đuổi sự thật, ông đã trở thành kẻ có trong tay quyền hành của một tổng thống. Tuy ra đời năm 1936 trong một gia đình giầu có tại Praha, chế độ toàn trị sau Thế chiến Thứ Nhì đã biến ông thành một thứ công dân hạng nhì. Không được đi học, ông đã phải vừa đi làm, vừa tự học, trước khi trở thành một người viết kịch có tiếng. Thay vì chạy theo quyền lực để được vinh thân phì gia, ông đã viết những vở kịch châm biếm chỉ trích chế độ. Năm 1969 bị cấm hành nghề viết văn sau sự kiện Mùa Xuân Praha năm 1968. Là một trong những tác giả và người phát ngôn của Hiến Chương 77. Ngày 23 tháng 10 năm 1979, bị kết án 4 năm rưỡi tù giam vì âm mưu lật đổ chính phủ, trước khi trở thành lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung năm 1989, và được bầu làm Tổng Thống dân chủ đầu tiên của Tiệp Khắc vào tháng 12-1989. Năm 1993, Tiệp Khắc tách làm 2 nước, Cộng hòa Czech vàSlovakia; ôngHavelđược bầu làm Tổng thống Cộng hòa Czech và tại chức cho đến năm 2003.

Nếu Vaclav Havel là Vua Sự Thật, Kim Jong-il là Vua Giả Dối, vì cuộc đời của ông được tô điểm bằng sự giả dối từ khi sinh ra, cho đến khi chết. Tuy ra đời năm 1942 tại Nga, trong khi thân phụ Kim Nhật Thành là một sĩ quan trong quân đội Liên Xô, tiểu sử chính thức của Kim Jong-il ghi là ông ra đời trên đỉnh ngọn Bạch Đầu Sơn (白頭山, Baekdu-san), một núi thiêng nổi tiếng ở gần biên giới Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, và khi ra đời có chim én báo tin, trên trời có sự xuất hiện của hai cầu vồng và ngôi sao lạ. Rồi khi chết, bí mật đến nỗi các cơ quan tình báo thượng thặng trên thế giới cũng không biết, gần 24 giờ sau tin ông từ trần mới được thông báo. Nói rằng ông chết vì làm việc quá sức trên chuyến xe lửa đang đi thăm dân. Nhưng tình báo Nam Hàn cho biết vào giờ nói là ông từ trần, toa xe lửa riêng của ông đậu tại Bình Nhưỡng.

Có thể nói, ông Kim là hiện thân của một thứ Vua ở truồng. Nhưng chừng nào có những người dân vẫn chưa nhìn thấy ông ở truồng, vẫn tưởng ông mặc kim bào lộng lẫy. Khi ông đang sống, bỗng “chuyển sang từ trần,” thì họ thực sự khóc thương ông, cũng là điều thế gian thường tình.

Rút cục, ở truồng hay mặc quần, vua nào cũng phải chết. Tuy nhiên, vào thời đại thông tin thuận tiện như ngày nay, Vua ở truồng rất khó sống, vì khó bưng bít. Cũng còn may, năm 2011 Vua ở truồng rụng như sung. Trong khi “Vua của các vua” Gaddafi bị lôi ra từ ống cống và chết thảm, ông Kim đã được chết yên lành vì bệnh, và được năm triệu dân thương khóc. Phải chăng thay vì có dầu lửa, ông đã có bom nguyên tử.

Đ.T.TH

NGHĨ VỀ BÀI THƠ “GÓA PHỤ” CỦA TÔ THÙY YÊN.

Trong một bài phỏng vấn trên một tờ báo văn nghệ hãi ngoại, hình như Tô Thùy Yên cho rằng không có thứ thơ gọi là thơ triết lý.

Vấn đề theo tôi, chỉ là danh từ. Thơ triết lý hay đượm màu sắc triết lý thì cũng vậy. Nếu không xây dựng trên những chủ đề nhiều ít liên quan tới những ưu tư của nhân quần về ý nghĩa đời người, tình yêu, cái chết…tôi e thơ Tô Thùy yên không có địa vị gần như độc tôn cho tới ngày nay. Toàn bộ sự nghiệp thi ca của mình, không có hoặc rất hiếm bài nào ông không đề cập tới khía cạnh triết lý gần xa nào đó đụng tới phận làm người. Võ Phiến nói rằng đọc một tác giả, ta có cảm tưởng tác giả đó nhỏ hay lớn dường như ngoài chuyện chữ nghĩa, nghệ thuật diễn đạt còn liên quan tới những vấn đề tác giả bị ám ảnh tức các chủ đề, đề tài nhỏ hay lớn nữa. Tất nhiên không phải hễ muốn lớn thì chỉ cần nói tới chuyện lớn mà phải nói tới với tài năng tới đâu và bằng cách nào mới là cốt lõi. Suy nghĩ tới cõi sống cõi chết thì trong đầu ai, lúc nào mà chẳng từng nhưng viết ra thành những câu thơ đẹp tới não lòng như ông thì xưa nay mấy ai? Tôi buồn bã nhận rằng nói tới thơ là nói trong chủ quan, ai thấy có lý phần nào thì chia xẻ, ai nghĩ khác thì cũng lẽ đương nhiên.

      Một nhà phê bình văn học có viết rằng Góa Phụ là bài thơ hiện thực nhất của Tô Thùy Yên. Thật lạ, tôi lại thấy bài này có những hình ảnh hiện thực nhưng lại có ý nghĩa tượng trưng, nhiều ẩn dụ nhất của ông:

      Con chim nhào chết khô trên cửa,

      Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm,

      Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ.

      Sao người khai giải chưa về thăm?

Điều thú vị, nếu để tâm ghi nhận, trong 37 bài thơ ở cuốn Thơ Tuyển, đã có trên 20 bài và ít nhất gần 30 câu ông nhắc tới chim muông, dường như loài chim xuất hiện với tần số cao nhất trong thơ ông. Rõ ràng chim muông là một ẩn dụ đa tầng đa nghĩa được nhìn theo tâm cảnh của thi nhân. Ngoài một lần sống giữa mùa hạn hỏa ngục xứ Quảng Bình khiến ông liên tưởng tới thế giới lâm chung với thiên nhiên cùng kiệt, xác người vương vãi nơi bờ bụi cùng bao nhiêu hình ảnh rùng rợn khác, tỉ như “Ác điểu ngày đêm gào xáo xác” và ma hoang cũng bỏ đi nhường chỗ cho chim kên thì hình ảnh chim muông trong thơ ông:

      + Luôn gần gũi thân thiết và có khi là niềm an ùi:

       Chim đã bay quanh từ vạn cổ…Giữa tầng trời cao chim giục giã… (Đãng Tử), Thấy nhành ớt động bóng chim quen… (Vườn Hạ), Nghe tiếng chim quen bay trớt qua, Bóng thoáng như bàn tay dịu mát, Lau nhanh hơi mỏi mặt mày ta …(Và Rồi Tất Cả Sẽ Nguôi Ngoai), Ta đợi vì nghe ngoài ngõ trúc, Có com chim khách kêu chiều nay… (Mùa Hạn), Ta về như bóng chim qua trễ...(Ta Về)…

      +  Cũng có lúc tiếng chim vui:

       Đông đúc chim về ấm cúng đêm… (Lão Trượng), Con chim chèo bẻo hót lanh chanh... (Hề Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

      + Cánh chim là một ảnh tượng đẹp và buồn, nhất là buồn và cô lẻ:

        Con chim bói cá trong tàn tối, Soi vĩnh hằng xanh rợn mặt hồ… (Nỗi Đợi)…Thăm hỏi con chim màu sặc sỡ, Lời ca u uất giấu nơi đâu? Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc…, Bóng chim, tăm cá, cành trôi giạt…(Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm), Di điểu qua sông xẻ luống sầu… Núi xa chim giục giã hoàng hôn… (Tưởng Tượng Ta Về Nơi Bản Trạch), Con chim nào hớt hãi kêu van (Bất Tận Nỗi Đời Hung Hãn Đó), Con chim động giấc gào cô đơn… (Trường Sa Hành), Con chim lạc bạn kêu trời rộng... (Vườn Hạ), Giữa khuya có tiếng chim ai oán… (Nỗi Đợi)

     + Có khi phảng phất chút thần bí, siêu hình:

      Con chim thần thoại mắt khoen sâu, Giật mình như đã ngàn năm ngủ, Giũ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em Nhỏ, Làm Chi Chim Biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu, Hót gọi tiền thân ta tái sinh…(Mùa Hạn), Con chim nào vỗ cánh, Động gợn thời gian… (Ánh Tàn Dư), Khắc khoải chim kêu mùa xóa giải… Chim vút lên như hòn đá ném, Rồi thôi, cái có chỉ là qua…(Chim Kêu Bãi Quạnh).

      Tôi chỉ lược trích sơ sài chứ thật ra, mỗi câu thơ trên đây là một ảnh tượng riêng biệt có thể là một chủ đề cho một bài khảo sát. Nhất định mai nầy thơ ông phải được nhìn nhận công bình hơn, công phu hơn hầu đúng với giá trị cao cả nó vốn có.

     Con chim nhào chết khô trên cửa là hình ảnh chim muông buồn thảm nhất trong thơ TTY. Vì sao con chim nhào chết khô? Ta không rõ. Chỉ biết ở đây chỉ còn nỗi chết. Chết trên cửa. Cửa nào? Đó là cảnh cửa âm dương mở ra cho cái chết nhưng đã đóng chặt rồi. Thiên thu. Im bặt. Vô âm tín. Không ai có thể hiểu gì. Đó là cánh cửa bị yểm bùa, vĩnh viễn không có người khai mở. Người ta chỉ biết sống và chết và không bao giờ biết tại sao. Phải chăng đây chỉ là hình ảnh ẩn dụ cái chết phi lý của người tử sĩ, người chồng của góa phụ trong bài thơ. Một triết gia hiện sinh có nói rằng chính vì con người tuyệt nhiên không biết tại sao mình sống và tuyệt đối mù tịt sau khi chết, chính vì cánh cửa âm dương đóng sập nên tử biệt trở thành tận cùng bi đát và là sự trừng phạt quá nặng trên số phận con người một cách phi lý. Người góa phụ khiếp kinh và không dễ chấp nhận nỗi đau tang tóc là có thật. (Phía sau nỗi chết, thấp thoáng cái nền xám xịt của cuộc chiến tranh phi nghĩa). Thế nên:

      Em chạy tìm anh ngoài cõi gió

      Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn,

      Tiếng kêu đá lở long thiên cổ,

      Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

Thú thật tôi rợn người khi đọc khổ thơ trên. Ngoài cõi gió gợi nỗi buồn mênh mang, cô quạnh và lạnh lẽo. Thứ lửa oan nghiệt, tàn khốc nào lại mỉa mai giỡn cười trên số phận con người trầm luân, trên chết chóc bi thương? Lửa mà giỡn cười? Làm sao không ghê hồn cái thần bí ma quái ở đây? Câu thơ thứ 3 là “âm thanh cuồng nộ” vô cớ của trời đất hay tiếng kêu thương của hồn người vọng động cả càn khôn? Đá đổ, cát bay long thiên cổ, loạn muôn trùng cho ta cảm tưởng con người quá bé nhỏ trước thiên nhiên rộng lớn không cùng và dữ dội vô tận. Và số phận con người, chung cuộc cũng bị xóa dấu chôn mà thôi. Thơ TTY nhiều lần nói tới bôi xóa, tới “mặt đất bôi trôi”. Người ta bảo TTY chỉ tin ở sự hư vô, họ có lý. Tôi liên tưởng tới mấy câu thơ ông nói với người chiến binh CS cuồng điên say sưa chiến đấu, mê tưởng “sự nghiệp” mình lớn lắm, ngỡ mình làm được chuyện “Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa”:

      Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm

      Có cùng gom góp lại,

      Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

                         (Chiều Trên Phá Tam Giang)

      Và nhất là mấy câu này trong bài Lão Trượng:

      Cát vùi cả xương trắng lưu dấu…

      Mặt đất vô danh, ký ức lòa.

Hai khổ thơ tiếp sau là cảnh tượng người vợ góa một mình canh xác chồng.

      Em độc thoại lời kinh ánh xanh

      Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn.

      Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa.

      Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn.

      Tác giả chỉ nghethấy được lời kinh ánh xanh (Cũng như Phan Khôi Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc, Nghe trong tiếng ếch một màu xanh),giác quan ông cũng chuyển đổi chức năng khiến câu thơ rõ ràng có tính tượng trưng. Ngoài ra lời kinh ánh xanh cũng gợi chút gì bí hiểm rờn rợn. Câu kế chỉ là liên tiếp ba cụm chủ-vị đơn giản nhất, có tính từ làm vị ngữ trong tiếng Việt, vậy mà tài tình thay, lại là câu thơ nhiều hình ảnh nhất gợi nơi lòng người một nỗi tàn phai thê thiết. Đọc câu này tôi không thể không so sánh với một khổ thơ trong bài Ta Về:

      Ta về như tứ thơ xiêu tán

      Trong cõi hoang đường trắng lãng quên.

      Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách,

      Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

Cấu trúc ngữ pháp câu cuối ở đây y hệt câu 2 khổ thơ thượng dẫn, nhịp điệu và nhạc điệu cũng tương tự. Và ngữ nghĩa nữa, toàn động từ, tính từ hàm nghĩa xiêu đổ, điêu tàn, phôi pha, mờ tối, tàn phai. Thanh điệu của 3 từ cuối trong cả 2 câu giống nhau, chùng xuống những thanh bằng diễn một niềm đau thương, cô quạnh.

 Nguyễn Bắc Sơn có câu thơ hay: Khu phố quận những đời người đã mỏi, cụ thể, chính xác nhưng không mới lạ bằng khuya mỏi. TTY có biệt tài dùng những chữ vốn già nua và sáo mòn, đặt vào một văn cảnh bất ngờ để tạo hình ảnh mới, chẳng hạn cũng từ này: Ta đợi, nghe chừng thiên cổ mỏi… Tàu đi, lúc đó đêm vừa mỏi, Lúc đú sao trời đã ngủ mê. Kiểu dụng ngữ này nhan nhản trong thơ ông tạo thành điển hình cho một phong cách, thật thú vị nếu để tâm khảo sát.

      Ta thấy, trong khổ thơ, tác giả ghi nhận ba thứ âm thanh, ta có cảm tưởng các giác quan ông nhạy bén không cùng và tưởng tượng thì vô tận, ông nghe thấy những gì giác quan người thường không hề cảm nhận được (tới cường độ đó): Cát loạn muôn trùng, đá lở long thiên cổ, Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa. Tuyệt vời từ thăm thẳmngây. Quả thật chỉ mình ông thấy đất trời cũng ngây dại nghe tiếng chó tru buồn thảm trong đêm tang tóc đó. Trong xã hội nông nghiệp tối tăm ngày trước, tiếng cú và chó tru đêm điển hình cho điềm báo chết chóc, tai ương – quái, kinh nghiệm bản thân tôi thấy đúng, mới ghê! (Đọc câu này tôi không thể không nhớ lại một scène trong phim Doctor Zivago của David Lean, xem rồi, mấy chục năm sau còn nhớ. Giữa cuộc CM loạn ly bạo liệt, vợ chồng bác sĩ Zivago lánh nạn, trở về làng quê Variquino, đêm đầu tiên ngụ trong ngôi biệt thự hoang tàn, khuya muộn, họ thảng thốt nghe tiếng chó sói tru quanh nhà. Hé cửa nhìn ra, dưới ánh trăng bạc trên đồng tuyết lạnh lẽo, những con sói ốm đói đầy hung tợn ngửa mặt lên trời gào tru thê thiết mà cũng đầy đe dọa. Tôi tin không phải tình cờ David Lean đưa cảnh này vào phim mà không gửi theo một ẩn dụ; tiếng chó tru ghê rợn đó cùng với bản nhạc nền Lara theme u uẩn của Maurice Jarre cứ âm vang ray rứt trong lòng khán giả cho tới hết phim và, với tôi, mãi nhiều năm sau nữa; tiếc cho các thế hệ sau này không được xem phim nầy với màn ảnh rộng).

      Ngọn đèn hư ảo chong linh vị

      Thắp trắng thời gian mái tóc em.

      Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh.

      Hồn xa con đóm lạc sâu đêm.

Mấy câu trên đây, cảnh thì hiện thực nhưng được nhìn qua nhãn quan…siêu thực. Ngọn đèn thức canh quan tài có thật sao gọi là hư ảo? Mái tóc góa phụ hẳn cũng chưa bạc trắng và tim làm sao duỗi đập ngoài thân? Thời gian trong thơ TTY là một thứ ký ức lòa, bị lãng quên, bị bôi xóa. Câu trên nếu thuận nghĩa thì phải là thời gian thắp trắng mái tóc em, nhưng thế thì còn gì thơ! Tôi chưa quên mấy câu thơ khác của ông về thời gian, thứ thời gian trắng không lưu dấu, không ký ức:

      Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ.

      Trong cõi hoang đường trắng lãng quên.

       Bay tự ngàn năm trắng cổ thi…

Đêm tối triền miên chốn ruộng vườn, ánh lửa ma trơi và ánh sáng lập lòe của đom đóm trên đồng hoang gợi cảnh tượng lạnh lẽo của cõi âm, chính tác giả cũng tưởng tượng hồn người lạc loài theo ánh sáng xanh bí mật của con đốm. Thứ ánh sáng ma quái chỉ làm đêm tối càng thêm tối và chỉ là không gian đe dọa.Tiếng Việt chỉ có thâu đêm, không có sâu đêm. Sâu ở đây vừa có nghĩa trong không gian và cả thời gian, nghĩa thật rộng và thật mới. Đọc đoạn này, ta còn nhớ tới mấy câu rợn lạnh trong bài Lão Trượng:

      Mơ màng có một hồn xiêu lạc

      Ngoài tối tăm, nhờ chỉ nẻo về.

Bài thất ngôn ngắn nhất của TTY trong tập Thơ Tuyển kết thúc với khổ thứ 5:

      Cỏ cây sống chết há ta thán.

      Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?

      Thảng như con ngựa già vô dụng,

      Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình.

      Làm sao ta biết cỏ cây sống chết không hay có ta thán? Chẳng là giác quan ta hạn hẹp nên chỉ nhìn ra vậy; ý thức ta chỉ biết được chết là hết, là vĩnh viễn xa lìa nên tử biệt là điều ghê khiếp quá sức chịu đựng của cõi người. Góa phụ chắc cũng biết tới lẽ diệt sinh nhưng không thể âm thầm chấp nhận được nên phải “khóc hoài”.

      Hai câu kết gợi hình vô kể tượng trưng của buồn đau, bị bỏ rơi, bị hất hủi; ẩn dụ của phận làm người phi lý. Con người mù lòa bị ném vào đời với đam mê vô ích, loay hoay với lao khổ, cô đơn, rồi chết. Chẳng để làm gì. Ngựa ở đây gợi nhớ tới con ngựa trong bài thơ nổi tiếng của TTY thời trai trẻ “Cánh Đồng Con Ngựa Chuyến Tàu”. Chúng nhiều hay ít nhất quán ở tính bi đát.

      Như đã nói, bài thất ngôn nầy ngắn nhất trong tập Thơ Tuyển nhưng theo tôi, vì cô đọng và hàm súc nhất nên phải ngắn. Cô đọng và hàm súc về nội dung, chặt chẽ về bố cục, Phong phú về hình ảnh. Ngôn từ thì tinh xác và mới mẻ, càng đọc càng thấy chưa hiểu đủ nên phải cứ đọc hoài.

NGUYỄN KHIÊM