Báo chí thế giới bình luận về việc Mỹ rút quân khỏi Iraq

Cập nhật: 12:09 GMT – thứ sáu, 16 tháng 12, 201
Tại Fort Bragg, tổ̀ng thống Obama ca ngợi quân đội Hoa Kỳ tại cuộc chiến Iraq

BBC Tiếng Việt điểm qua báo chí quốc tế đánh giá quyết định của Hoa Kỳ hôm 15/12/2011, rút lực lượng tác chiến khỏi Iraq sau cuộc chiến gây ra nhiều tranh cãi. Biên tập viên Mark Mardell của BBC News từ Hoa Kỳ nhắc rằng trong buổi lễ tại căn cứ Fort Bragg, Bắc Carolina hôm thứ Năm, Tổng thống Obama đã cố gắng khen ngợi quân đội Mỹ nhưng cũng muốn chấm dứt chóng vánh cuộc chiến ông từng cho là “ngu dốt” (dumb war). Gần 10 năm trước, tổng thống tiền nhiệm George W Bush bắt đầu cuộc chiến Iraq và bạo lực thời kỳ hậu chiến đã khiến hàng vạn thường dân Iraq bị giết.

Nay, theo Mark Mardell, ông Obama dù sao cũng đã ca ngợi nguyên tắc khiến Hoa Kỳ đưa quân vào Iraq nhưng không nhấn mạnh vào kết quả của cuộc chiến. Nhiều tờ báo quốc tế cũng nhắc đến cuộc chiến Việt Nam để so sánh với cuộc chiến Iraq.

Bênh và chống

Báo Washington Post, trong bài của David Ignatius cho rằng sai lầm của quân đội Mỹ tại cuộc chiến Iraq “không phải là đã lật đổ nhà độc tài Saddam Hussein, mà là phá hủy cơ sở hạ tầng của nước này, đưa tới một hệ thống dân chủ nhưng xây dựng trên lòng trung thành mang tính bộ lạc hoặc sắc tộc”.

Ông Ignatius cũng mô tả tình trạng mất an ninh hậu chiến ở Iraq là điển hình cho cảnh xảy ra hoặc có thể xảy ra tại các nước Ả Rập trong làn sóng đấu tranh hiện nay: “Đó là khi phá đổ bệ tượng chống đỡ cho một thể chế độc đoán nhưng không có văn hóa chính trị vững mạnh phía dưới,”

Báo New York Times trích lời ông Mohamed Ali Maki, nhân viên chính quyền Iraq nói: “Chúng tôi thua thiệt nhiều vì sự hiện diện của người Mỹ tại Iraq. Chúng tôi mất cả an ninh, cả con cái vì bị vào tù không rõ tương lai ra sao, trong khi điều lợi duy nhất là họ tống cổ Saddam khỏi quyền lực.”

Báo Nga, tờ Kommersant (theo xu hướng tự do) thì bình luận: “Chấm dứt chiến dịch Iraq là một trong các cam kết tranh cử chính của ông Barack Obama và ông đã thực hiện điều đó. Nhưng dù đa số dư luận Mỹ ủng hộ rút quân, các đối thủ Cộng hòa của ông lại chống.”

Thượng nghĩ sĩ đảng Cộng hòa, John McCain đã công bố một chỉ trích nhắm vào quyết định của Tổng thống Barack Obama (đảng Dân chủ) rút quân khỏi Iraq.

Ông MCain, một cựu binh nổi tiếng từ cuộc chiến Việt Nam viết: “Thật rõ rằng quyết định rút toàn bộ quân khỏi Iraq là có lý do chính trị, không phải vì quyền lợi an ninh quốc gia của chúng ta.”

Lễ hạ cờ của quân đội Mỹ tại Baghdad đánh dấu cuộc chiến Iraq chấm dứt

Vị cựu ứng viên tổng thống bị ông Obama đánh bại năm 2008 cho rằng: “Lịch sử sẽ đánh giá khả năng lãnh đạo của tổng thống hiện nay bằng lời nhạo báng và sự coi thường vì [khả năng lãnh đạo này] xứng đáng bị coi như thế.”

Trích lời một chuyên gia Nga, ông Vladimir Sotnikov từ Viện IMEMO ở Moscow, báo Kommersant viết: “Theo các đối thủ của ông Obama, rút quân khỏi Iraq đe dọa ổn định tại nước này và trong toàn vùng. Họ cũng lo ngại một phong trào khủng bố mới có thể xuất hiện…”

Báo Nga cho rằng, “nay một số hoạt động du kích chống chính quyền Iraq đã nổi lên”.

Cái giá quá đắt

Tân Hoa Xã của Trung Quốc hỏi: “Điều gì xảy ra nếu không có cuộc chiến Iraq?”

Cơ quan này tự trả lời:

“Dùng chiến tranh để loại trừ một chính quyền thù địch và nguy cơ tiềm tàng không chỉ đem lại gánh nặng cho Hoa Kỳ, mà còn để lại vết thương sâu cho các nước và các khu vực liên quan. Chiến tranh Iraq là một ví dụ nguy hiểm và đẫm máu.”

Sau chín năm cuộc chiến Iraq, báo chí Trung Quốc cho rằng dù chiến tranh đã kết thúc, nhưng “không thể gọi đây là thắng lợi cho Hoa Kỳ”.

Các luồng dư luận nay cũng tập trung vào bài ḥoc từ Iraq trong bối cảnh Mùa Xuân Ả Rập.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, PJ Crowley viết trên trang BBC News rằng Mùa Xuân Ả Rập đem lại một cách tiếp cận hòa toàn mới cho biến đổi chính trị trong vùng, như ủng hộ phong trào bản địa và hỗ trợ quân sự hạn chế như với Libya, thay cho cách áp đặt thay đổi thể chế bằng xâm lăng như Iraq. Nhưng ông Crowley cũng thừa nhận, thành tích của Mỹ tại Iraq là tạo lập ra một cuộc chuyển giao quyền lực bình yên, đã đến cùng cái giá “vô cùng lớn”.

Đó là, theo ông, cái giá “vô cùng lớn cả về nhân mạng người Iraq, người Mỹ, tài sản quốc gia và sự mất mát về tuy tín [cho Hoa Kỳ] trong vùng và trên thế giới”.

Tính đến hết tháng 8/2010, quân đội Mỹ có 4421 quân nhân bị giết, trong đó 3492 bị giết trong lúc tác chiến, gần 32 nghìn bị thương. Về phía người Iraq, một cơ quan mang tên BấmIraq Body Count nêu ra con số từ 97 nghìn 461 đến 106 nghìn 348 thường dân bị giết từ tháng 3/2003 đến tháng 7/2010.

Một nhân viên an ninh theo hợp đồng dân sự của Mỹ rời Iraq

Advertisement

Hệ lụy án lệnh vụ kiện Vinashin

Cập nhật: 17:31 GMT – thứ sáu, 16 tháng 12, 2011

Một án lệnh của tòa Thương mại, Chi nhánh Queen’s Bench thuộc Tòa Thượng thẩm ở London, cảnh báo Vinashin cùng 21 công ty tại Việt Nam bị kiện ra tòa tại Anh, có thể mất quyền bào chữa. Án lệnh đề ngày 02/12/2001, mà BBC tiếng Việt đọc được, nói nếu vào 1630 giờ chiều ngày 13 tháng Một năm 2012 tòa không nhận được phản hồi chính thức từ bên bị, thì các bị đơn (Vinashin và tất cả 21 công ty bị kiện) sẽ mất quyền bào chữa, tương đương với việc bên nguyên đơn nghiễm nhiên thắng kiện.

Giới luật sư của cả bên nguyên đơn và bị đơn cùng ít nhất hai người làm chứng có tên trong án lệnh này của tòa, được đưa ra sau một tháng kể từ khi tòa mở hồ sơ vụ kiện.

Đại diện của bên khởi kiện, công ty Elliott VIN (Hà Lan) B.V. có tư cách pháp nhân Hà Lan và địa chỉ đăng ký tại Hà Lan, là công ty luật Bingham McCutchen LLP, văn phòng London. ược biết hãng luật Mayer Brown International LLP, cũng có văn phòng ởLondon, đại diện cho các bị đơn tại ViệtNam.

Vào ngày 01/11/2011, bên nguyên đã gửi đơn kiện với tư cách là một chủ nợ trong hợp đồng cho vay 600 triệu USD đề ngày 24/05/2007.

Credit Suisse AG, chi nhánhSingaporelà đại diện và giàn xếp cho hợp đồng vay này.

Đơn kiện liệt kê bên bị thứ nhất là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) và 21 bị đơn còn lại *(xem danh sách phần cuối bài) là các công ty được thành lập và đăng ký hoạt động tại Việt Nam. Trong khi Vinashin là bên đi vay thì toàn bộ 21 bị đơn còn lại được mô tả là các bên có liên hệ tới hợp đồng vay và là những bên bảo lãnh các nghĩa vụ của Bị đơn Thứ Nhất, tức là Vinashin (đã ghi trong “văn bản tài chính” của hợp đồng vay này).

‘Vi phạm hợp đồng’

Vụ việc Vinashin gây chú ý nhiều trong giới quan sát trong và ngoài nước.

Theo hợp đồng vay 600 triệu USD được thanh toán trong 10 lần, khoản trả góp đầu tiên, 60 triệu USD, đáo hạn vào ngày 20/10/2010, lần trả thứ hai vào ngày 20//06/2011 và lần trả tới đây là 20/12/2011.

Đơn kiện nói các bị đơn đã không thanh toán khoản trả góp lần đầu và lần thứ hai, có trả lãi lần đầu (nhưng phải mãi tới ngày 24/12/2010 mới thanh toán), không trả lãi lần hai và không trả toàn bộ default interest, hay lãi với mức cao hơn lãi gốc vì không thanh toán khi đáo hạn. Trên cơ sở đó, bên nguyên đơn hiện khởi kiện tất cả 22 bên bị để đòi số tiền hơn 12,11 triệu đôla Mỹ, bao gồm cả hai lần tiền trả góp mà bên bị chưa thanh toán cùng các khoản lãi, tính tới ngày 01/11/2011.

Trong khi đó một blog trên trang Wall Street Journal mô tả kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy bên khởi kiện trong vụ kiện Vinashin sẵn sàng cho một cuộc chơi lâu dài với chiến lược đã mang lại cho họ thành công trước đây. Vào năm 2000, Elliott nổi danh vì thắng trong vụ kiện chính phủPerukéo dài bốn năm và chính phủPerusau đó phải trả 56 triệu USD cho Elliott.

Trong năm 2008, một chi nhánh của Elliott (Kensington International Ltd), đã đi đến một thỏa thuận với Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) để có được một số tiền nhưng không tiết lộ số tiền này là bao nhiêu. Trong vụ này DRC mắc nợ Elliott hơn 100 triệu USD trong đó có cả lãi gốc và lãi lũy kế hơn hai thập niên.

Elliott hiện vẫn đang theo đuổi vụ kiện với khoản cho vay qua trái phiếu trị giá 4.5 tỷ đôla mà chủ nợ là chính phủArgentina. Lập trường của Elliott, dù ở cương vị một quỹ đầu tư, lại còn có thông điệp mang tính xã hội.

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2007 với tạp chí BấmForeign Policy, một người phát ngôn của Elliott nói “những người ủng hộ chủ trương xóa và giảm nợ nên nhận ra rằng bên hưởng lợi từ giảm nợ thường là các chế độ bất tài hoặc tham nhũng lãng phí tài sản quốc gia của họ và sau đó kêu nghèo kêu khổ để tránh nghĩa vụ trả nợ”.


* Danh sách 22 bị đơn (tên công ty bằng tiếng Anh)

1. Vietnam Shipbuilding Industry Group

2. Bach Dang Shipbuilding Industry Company Limited

3. Ben Kien Shipbuilding Industry Company Limited

4. Bien Dong Shipping Company

5. Ha Long Shipbuilding One Member of Responsibility Limited Company

6. Hoang Anh Shipbuilding Industry Joint Stock Company

7. Hong Bang Shipbuilding Industry and Construction Company

8. Middle Area Construction and Shipbuilding Industry Company

9. Nam Trieu Shipbuilding Industry Company

10.NamHa Shipyard

11. Nha Trang Shipbuilding Industry Company

12. Pha Rung Shipyard Company Limited

13. Sai Gon Shipbuilding and Marine Industry Company

14. Sai Gon Shipbuilding Industry Company Limited

15. Song Cam Shipbuilding Joint Stock Company

16. Thanh Long Company

17. Construction and New Technology Application Joint Stock Company

18. Vinashin Construction Joint Stock Company

19. Vinashin Dung Quat Shipyard

20. Kansai Vinashin Investment Joint Stock Company

21. Vinashin Ocean Shipping Company Limited

22. Vinashin Trading and Manufacturing Joint Stock Company

Nguồn: Tòa Thương mại, Chi nhánh Queen’s Bench thuộc Tòa Thượng thẩm ởLondon