Bộ trưởng Vương Đình Huệ: “Petrolimex lãi 3 năm liền!”

Sau khi nhận được câu hỏi chất vấn của đại biểu: “Bộ trưởng khẳng định Petrolimex trong thời gian qua lỗ hay lãi?”, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã thẳng thắn trả lời: “Có lãi!”.

Dẫn báo cáo kết quả kiểm toán trong ba năm từ 2008 – 2010, Bộ trưởng Huệ cho hay: năm 2008 Petrolimex đã lãi 913,7 tỷ đồng, trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 642 tỷ đồng. Năm 2009, lãi 3.217 tỷ đồng, trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 2.660 tỷ đồng, còn lại là lãi từ các đầu tư khác. Năm 2010, doanh nghiệp này lãi 314 tỷ, trong đó xăng dầu lỗ 172 tỷ đồng, nhưng các ngành khác lại lãi gần 200 tỷ đồng.
“Cho nên, tính tổng lại thì xăng dầu vẫn lãi, và trong ba năm thì Petrolimex đều có lãi cả”, Bộ trưởng Huệ khẳng định.
*
Cũng theo Bộ trưởng Huệ, nếu không có biến động về tỷ giá đầu năm 2011 và các đầu mối xăng dầu chấp hành đúng các định mức về bán hàng thì không thể có chuyện lỗ trong kinh doanh xăng dầu. 
“Tình hình lỗ lãi của các doanh nghiệp xăng dầu, Bộ Tài chính sẽ có báo cáo cụ thể sau khi hoàn tất quá trình kiểm tra”, Bộ trưởng Huệ cho biết. 
Tuy nhiên, ngay sau khi Bộ trưởng Vương Đình Huệ trả lời, được Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng chỉ định trả lời bổ sung, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng lại đưa ra một thông tin hoàn toàn trái ngược với thông tin từ Bộ trưởng Huệ đưa ra chỉ mấy phút trước đó. 
Theo Bộ trưởng Hoàng, khi tiến hành cổ phần hóa, theo quy định Petrolimex phải công khai tất cả kết quả sản xuất kinh doanh. Theo đó, trong ba năm từ 2008 – 2010, tính về tổng thể, doanh nghiệp này có lãi, nhưng riêng kinh doanh xăng dầu bị lỗ. Tuy nhiên, do doanh nghiệp này không giải thích cặn kẽ, chi tiết đã khiến dư luận hiểu nhầm là kinh doanh xăng dầu có lãi.
Đáng chú ý, sau khi Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng thông tin như trên, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã yêu cầu Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng “có thể nói rõ lại thông tin vừa rồi, vì Bộ trưởng Huệ có nói là kinh doanh xăng dầu vẫn có lãi”.
Sau khi được Chủ tịch Quốc hội yêu cầu trả lời thêm để thông tin từ hai bộ trưởng thống nhất, Bộ trưởng Vương Đình Huệ tái khẳng định: “Tổng thể thì trong 3 năm liền Petrolimex đều có lãi từ xăng dầu. Chỉ riêng năm 2011 này là đang lỗ vì biến động tỷ giá. Tuy nhiên, theo tôi nếu các doanh nghiệp đầu mối chấp hành nghiệm chỉnh việc chiết khấu hoa hồng cho đại lý ở mức 600 đồng/lít thì hoàn toàn không có chuyện kinh doanh xăng dầu bị lỗ”. 
Trước đó, tại một cuộc hội thảo về cơ chế kinh doanh xăng dầu, do Bộ Tài chính tổ chức hôm 20/9/2011, ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Petrolimex ước tính từ đầu năm nay đến cuối tháng 9, doanh nghiệp này đã lỗ khoảng 2.000 tỷ đồng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu. 
Cũng theo thông tin từ lãnh đạo Petrolimex, từ năm 2006 đến nay, doanh nghiệp này đã “dồn dập” lỗ mỗi năm hàng trăm tỷ đồng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu, trong đó đỉnh điểm là năm 2008 lỗ đến 10.700 tỷ đồng. Riêng năm 2011, tính đến cuối tháng 8, doanh nghiệp này đã lỗ tới 1.800 tỷ đồng, ước hết tháng 9 lỗ khoảng 2.000 tỷ đồng. 
Song tại buổi hội thảo nói trên, khi Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ yêu cầu Petrolimex trả lời việc kinh doanh mặt hàng xăng lỗ hay lãi thì lãnh đạo Petrolimex đã không đưa ra được câu trả lời. Vị này cho hay, “chúng tôi không tách bạch từng mặt hàng, mà là gộp chung vào, sau đó trừ chi phí cho từng mặt hàng rồi cộng vào để tính tổng doanh thu, lợi nhuận”.
Trung tuần tháng 7 vừa qua, bản cáo bạch của Petrolimex (phục vụ quá trình cổ phần hóa) lại cho thấy, trong năm 2008 doanh nghiệp này lãi hơn 913 tỷ đồng, năm 2009 lãi 2.880 tỷ đồng, năm 2010 lãi 81 tỷ đồng, và năm 2011 này dự kiến lãi cả năm khoảng 598 tỷ đồng. 
Từ Nguyên
Advertisement

Ký Ức Sơ Sài 16

NGUYỄN KHIÊM, ngồi bên phải (mặc áo vàng) cùng các bạn học cũ ở ĐHSP

Đọc những tranh luận đủ khuynh hướng trên mạng về cái chết của Gaddafi mới thấy nhân vật nầy gây chú ý nhiều trong dư luận hơn người ta tưởng.

Mà cũng chẳng ngạc nhiên gì. Những năm tôi còn ở đại học, Mubarak, Gaddafi lên cầm quyền sau những cuộc lật đổ vô cùng ngoạn mục bọn vua chúa tham tàn, đã tận hưởng lạc thú đế vương đời đời kiếp kiếp trên những mỏ dầu châu báu và trên sự thống khổ của nhân dân.Những tuyên ngôn đầy nhiệt huyết và thiện chí của các tướng tá trẻ gieo niềm hy vọng lớn nơi đám thanh niên e ngại chế độ CS vì trực giác con đường này lắm chông gai và cạm bẫy. Không phải chỉ bọn trẻ chúng tôi tin, nhiều tác giả danh tiếng trên báo chí thế giới cũng lạc quan tin tưởng, không tiếc lời ca ngợi với giọng vô cùng hoan hỉ. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết một bài đầy phấn khích về Gaddafi trên tờ Bách Khoa. Bài báo thuật lại tuyên bố lẫy lừng của ông ta: Bao giờ toàn dân Lybia có nhà ở rồi thì cha tôi mới có nhà. Mà thật. Mấy năm đầu, ông đưa ra thi hành những cải cách ngoạn mục về  an sinh xã hội, về giáo dục, y tế…khiến thiên hạ ngạc nhiên cảm phục và không khỏi mừng cho dân tộc Lybia phước đứcvừa trải qua cuộc cách mạng thay đổi tận gốc rễ tương đối nhẹ nhàng, ít hao tốn máu xương, không đến nỗi phải đốt cháy cả dãy Trường sơn chẳng hạn.. Chúng tôi ngưỡng mộ ông cũng như lúc bấy giờ cảm phục các nhà trí thức, linh mục, thượng tọa…xứ sở mình lìa bỏ lợi danh nơi thị thành hoa lệ vào bưng biền theo MTGPMN. Vài năm sau, thiên hạ yên tâm theo dõi những biến cố chính trị dồn dập khác trên thế giới, không rõ cuộc cách mạng nhà binh đi tới đâu và viên đại tá đầy cá tính xứ Bắc Phi đó đã xây được bao nhiêu nhà cho dân, bao nhiêu nhà thương thí cho kẻ nghèo…Thế rồi chẳng mấy lâu sau, người ta ái ngại vì nghe toàn tin tức không mấy tốt lành, cách trị dân không khác gì, có khi còn nghiệt ngã hơn bọn quý tộc phong kiến. Lòng tin vơi cạn dần cho tới lúc xảy ra vụ đánh bom máy bay dân dụng trên không phận Ái Nhĩ Lan thì lòi ra viên sĩ quannày chỉ là tay quân phiệt kiêm trùm khủng bố, cai trị Lybia ngày càng bạo liệt toàn bằng biện pháp hạ sách, mị dân. Tất cả tuyên ngôn, tuyên bố nức lòng người ngày trước nay chỉ là khẩu hiệu. Rõ ràng, đâu có lâu la gì, các giếng dầu tốt nhất thế giới của Lybia đã lại trở nên tài sản riêng của gia đình dòng họ và đám bộ hạ đầu trộm đuôi cướp quanh ông.

Không ai ngờ được mọi chuyện trở nên tệ hại dễ dàng như vậy. Nhất định lúc đầu ông phải tin vào ước vọng và lời hứa của chính mình, không thể nào ông nói dối và gạt dân chỉ vì tham vọng của cải và quyền hành, bởi lẽ  ông đã khởi sự đầy hảo ý. Phải chăng ma quỷ xui khiến ông hay sự yếu đuối của tinh thần con người trước vật chất xa hoa cùng những cám dỗ của quyền lực vô biên khiến ông ngày càng lộ rõ chỉ là tên bạo chúa tham tàn ham giết chóc. Ông ăn mặc đồng bóng như kẻ tâm thần phân liệt, những ngày cuối của bi kịch lãnh đạo, ông tin tưởng vu vơ nông nổi, tuyên bố nhảm nhí trong bấn loạn, cử chỉ lố bịch kệch cỡm y chang Saddam Hussein, để rồi màn chót giống hệt nhau, chạy trốn như chuột chui xuống cống, chết trong nhục nhã ê chề. Nhà thơ Thiếu Khanh có nói với tôi rằng thần dân các nước bị cai  trị độc đoán nên rút kinh nghiệm qua chuyện này, để ý lấp bớt các lỗ cống không cần thiết hầu đỡ mất công trò săn đuổi trốn kiếm về sau!

Hồi trẻ, tôi không thích ý kiến của Will Durant (hay Toynbee?) có bảo rằng, xem ra, các cuộc cách mạng hầu hết có hại cho nhân loại vì sự tàn phá mù lòa và cuồng loạn không thể kiểm soát khiến các nền văn minh không bị phá hủy thì cũng chựng lại. (Chẳng hạn, như học giả Nguyễn Hiến Lê nói, văn minh Trung Hoa phải mấy ngàn năm xây dựng lao khổ, chỉ vài năm cách mạng văn hóa thời Mao là tiêu tan sạch bách- tương tự như một thời, đình chùa  Bắc Việt trở thành kho chứa thóc của hợp tác xã). Nói gì thì nói, thế hệ tôi, người có thiện chí vẫn tin phải có cách mạng để làm lại đất nước. Đọc cuốn Guồng Máy của Jean Paul Sartre do Trần Phong Giao dịch, hay thì hay thật nhưng tôi cũng không thích ý tưởng cho rằng bọn cầm quyền nào cũng chỉ được lúc đầu thôi, chẳng phải đợi lâu, có khi ngay sau đó, quyền và tiền làm hư họ chóng vánh, họ chỉ biết có mỗi cách “lãnh đạo” là đàn áp kịch liệt. Buồn thay, hình như hiếm có phương cách nào khác thỏa mãn dục vọng người ta dễ dàng, đơn giản cho bằng trấn áp. Kẻ đến sau có khi tệ hơn bọn cầm quyền trước đó. Tôi không mấy thích ý này vì đang cảm phục Gaddafi, Mubarak; đầy  thiện cảm với MTDTGP cũng còn vì “tâm đắc” những phân tích độc đáo của Marx được giảng giải trong sách vở của thầy Nguyễn vănTrung, Trần văn Toàn, dường như cả linh mục Thanh Lãng cũng không tỏ chút ghét bỏ nàò khi đề cập tới phong trào CS. Như vậy thì các thầy nổi tiếng nhất ở Đại Học Văn Khoa đều tả khuynh hết còn gì! Mấy chương sách hấp dẫn nhất là vấn đề bóc lột nhân công, giá trị thặng dư… nhất là chỗ giá trị thặng dư này, vô phương bác bỏ vì lý lẽ thâm sâu, tình cảm nhân hậu quá chừng đỗi! Lại nữa, sống giữa miền Nam hỗn quân hỗn quan mà đọc cuốn “Hai Mươi Năm Xây Dựng CNXH Miền Bắc” nói toàn chuyện tốt đẹp của linh mục Trương Bá Cần (Hai mươi năm mà giá gạo chỉ ở mức mấy hào một ký chẳng hạn, nay có dư luận lúc đó ông đã là đảng viên CS!) được phát hành công khai, mua đâu cũng có thì hỏi với tuổi đôi mươi  non xợt cùng trí khôn dưới trung bình như tôi, làm sao mà không ngưỡng mộ Marx, không thích Mặt Trận được. ( Khi tuổi đời chồng chất, tôi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là kẻ ngu phu, Bill Gates và một trăm nhà tư bản giàu có khác nhờ cái đầu siêu phàm, đâu phải tại giá trị thặng dư! Cũng như ông tôi khá giả hơn đám nông dân cùng làng nhờ ông làm ruộng giỏi hơn, nhận định thời tiết chính xác hơn và biết để dành hơn chớ lấy quyền gì mà bóc lột ai để làm giàu. Nói thế mấy “đại gia” ở VN hiện nay chẳng nên vội lạc quan mừng tưởng mình cũng thuộc loại..cái đầu có cỡ chớ không phải tại dựa hơi, mua quyền bán chức cùng buôn lậu, phá rừng các thứ).

Chao ôi, Gần nửa thế kỷ giữ chặt quyền lực với lợi lộc bất tận, lúc thế hệ chúng tôi gần xuống lỗ mới thẫn thờ nhận biết họ là ai. Tất cả bày ra cảnh tượng “Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui”.* Làm gì có cái gọi là cách mạng. Và cuộc cách mạng nào sau lúc khởi hành, đi lòng vòng tốn hao giờ giấc, sớm muộn gì rồi cũng quay về đường cũ. Nói cho cùng, thật không có lý do để nghi ngờ thiện chí của các lãnh tụ cách mạng trong buổi đầu khởi xướng. Chẳng qua họ mất tinh thần một cách đáng kinh ngạc trước vật chất nên phải điên cuồng dùng quyền lực cách mù quáng để chiếm đoạt. Đâu rồi bệnh viện miễn phí, đâu rồi nhà cửa gratuite của dân Ai Cập, Lybia? Rồi “…ai cũng có cơm ăn áo mặc, cũng được học hành”. Nhưng bao giờ thì học trò cấp một khỏi phải đóng cả chục thứ phí tiền mặt, mỗi môn học phải mua và khòm lưng mang vài ba thứ sách ăn theo biên soạn vô bổ nhảm nhí. Mọi việc tiến tới một cách tự nhiên theo chiều ngược lại lời hứa nguyện, lặng im thở dài mà chấp nhận, như câu chuyện nhỏ sau đây. Cháu nội gái tôi chạy chơi trên sân trường vấp bể chậu cây cảnh, ba mẹ nó bị gọi vào đóng tiền đền, không nghe nói gì chân cháu bị đổ máu sưng vù mà phải hiểu sân dùng để bày chậu bông, không được chạy giỡn. Trẻ con khó ngồi yên, sân trường bằng cái mũi, giờ chơi không có chỗ chạy, chúng bày trò ném cầu nhẹ bằng lông gà, bà hiệu trưởng tình cờ đi qua, rủi bị ném trúng, tức thì ra thông báo cấm học sinh ném cầu.  Trẻ thơ con cháu chúng ta được quý yêu như thế đó. Tất nhiên không kẻ cầm quyền nào “chỉ đạo” kiểu vậy nhưng nội cái việc mặc kệ bọn cấp dưới dốt nát muốn làm gì tùy ý thích thì không phải là tội lỗi sao? Tôi không khỏi thấy mình nhảm nhí cứ lẩn quẩn ba cái chuyện linh tinh lạt nhách mà nhật báo lề phải cũng nói tới nhưng làm sao khác, ba chuyện nhỏ đó cứ đeo bám hằng ngày trong óc.

Nghe như nhà thương thí hồi thuộc Pháp dân nghèo không phải đóng một đồng một cắc. Nay, đất nước độc lập, nghèo mà lâm trọng bệnh thì yên tâm chết cho rảnh nợ đời. Nói cho khách quan, cùng với dân số phình to gấp bốn năm lần, bệnh viện thời nay cũng lớn rộng hơn nhiều hồi tiền bán thế kỷ hai mươi và gần đây, dân chúng cũng được an ủi phần nào nếu có tiền mua bảo hiễm. Nhưng quái đản nhất là chuyện phân cấp bệnh viện, thuốc men theo tầng lớp xã hội. (Chắc “nghiên cứu khoa học” thấy vi trùng tấn công tùy theo chúc vụ, cấp bậc xã hội nên mới “triển khai” như vậy). Tiện đây, xin kể chuyện nhỏ tạm gọi là vui dây dưa tới thuốc men, y đức. Chú em họ tôi đi khám mắt ở bệnh viện thị xã nọ. Trước khi đi, chú đã nghe người ta nói nhiều chuyện không hay về ông bác sĩ trưởng khoa, chẳng hạn khám qua loa để bệnh nhân đến phòng khám tư của chính y, tại đó, ông bỗng trở thành “y dược sĩ”, tức vừa khám vừa bán thuốc, thuốc thì, giúp thuận tiện cho bệnh nhân, ông bỏ công bóc ra khỏi bao bì hoặc bẻ đôi. Có người kể ngoài chuyên khoa mắt, ông còn chuyên môn viết toa theo lối “chữ bác sĩ”, không ai đọc ra chữ gì, bệnh nhân ra  ngoài mua không có, phải trở lại nhà thuốc của bệnh viện, nhân viên ở đó thì rành! Người bệnh nhà quê nọ mang thuốc mua từ bệnh viện quay trở ra nhà thuốc bên ngoài theo lời dặn của cô bán thuốc không đọc được toa; cô thở dài cho bà ta biết thuốc đó rẻ nhất trong các loại chữa mắt, tiệm cô chỉ bán mười nghìn, trong khi người bệnh nọ bị tính gần ba chục nghìn! Người đàn bà quê mùa đứng lặng giây lát rồi thốt lên với giọng “tiếng kêu của tâm hồn”:

– Ối Trời ơi, quân ăn cướp chớ bác sĩ chi lạ rứa Trời!

Lúc chú em tới bệnh viện, đã tám giờ sáng, phòng khám còn vắng, mới chừng năm bảy người ngồi trên ghế đợi. Thấy bà y công đang lui cui chùi rửa với cây giẻ lau và xô nước đen sì, chú em tôi hỏi tìm bác sĩ, bà làm thinh chỉ tay về cuối hành lang. Dưới bóng cây bàng, người đàn ông bận blouse trắng đang chăm chú đọc báo. Chú em tôi tới gần, chưa kịp nói gì, ông ta đã gay gắt bảo:

– Đợi làm vệ sinh phòng chút đi!

Ngay lúc đó, bà lao công thu dọn vật dụng ra khỏi phòng. Chú em tôi lặng lẽ lại ngồi băng ghế chờ. Viên bác sĩ ngẩng lên đưa mắt nhìn quanh rồi cúi xuống lật trang báo tìm bài đọc tiếp. Đọc chừng mười lăm phút, ông ta móc điện thoại ra bắc đầu say sưa trò chuyện một hồi lâu nữa, không một dấu hiệu hứa hẹn chấm dứt. Lúc gần hết kiên nhẫn thì chú em thở phào nhẹ nhõm thấy y cất điện thoại vào túi. Nhưng bi kịch chưa dứt, ông ta lại giở báo ra tìm bài đọc tiếp. Chú em đứng dậy, đi nhanh về phía tay bác sĩ. Thoáng nhìn thấy, chắc cũng hơi chột dạ, y đứng vội dậy:

– Đau cái chi mà nôn nóng hung rứa ông, rài rài* chút không được na?

Chú em đi theo vào phòng, ngồi xuống ghế, không kìm được cơn bất bình:

– Tôi không đau chi hết, cũng không khám nữa, muốn biết tên ông thôi.

– Chi rứa? Để báo cáo công an hả? Cứ tự nhiên!

– Tức cười chưa, không biết tên thì báo cho ma à? Hỏi chơi chớ thị xã bằng cái mũi, ông đặc biệt tiếng tăm, ai chẳng biết tên ông.

Câu chuyện rồi cũng tới tai viên giám đốc nhà thương. Nghe đâu ông ta đã chỉ “giải quyết” đoạn đầu của sự việc bằng cách “nghiêm khắc” khiển trách…bà lao công về tội… làm vệ sinh phòng ốc trong giờ bác sĩ làm việc. Rõ ràng ông này không thuộc bài, chẳng những không chút tôn trọng mà còn ngang nhiên đàn áp người phụ nữ thuộc giai cấp công nhân tiên tiến một cách oan ức.

                                   *

Tôi về Hội an thăm má nhằm ngày mưa lụt. Má tôi bị té gãy xương khớp háng gần một năm trước. Người ta dùng dụng cụ giữ yên chân để hai đầu xương gãy tiếp cận nhau hầu có thể lành nhưng bà cụ quyết liệt từ chối, nghĩa là đêm khuya chờ mọi người ngủ quên, cụ lén ngồi dậy – đó là nỗ lực kinh khủng vì hẳn phải đau đớn lắm – không hiểu lấy sức đâu và cách gì khom người  tháo tung mọi thứ băng bó vứt xuống gầm giường. Chúng tôi xúm lại thuyết phục, thậm chí đe dọa, cụ làm thinh để cho băng lại nhưng khuya hôm sau lại diễn ra kịch bản cũ. Cả tuần như thế. Chúng tôi chịu thua, để cụ tự đặt chân thoải mái theo ý muốn, miễn chân lành kiểu gì cũng được, tất nhiên, không lành cũng được, chứ biết làm sao.

Ông ngoại tôi được kể là giàu có so với nông thôn ngày trước, có súng săn, xe đạp như tôi đã thuật, chỉ sinh được hai người con gái, má và dì tôi được tiếng đẹp nhất vùng, má có phần sắc sảo hơn dì khiến thiên hạ liên tưởng bảo rằng ông có cặp Kiều. Ông tôi không khỏi ngầm hãnh diện về lời bình phẩm này. Cưới má xong, ba tôi dẫn má xuống ga Trà kiệu, nghe đâu bạn bè công chức của ông nhìn thấy, bảo thằng Diêu về làng cưới được nàng tiên. Được thong thả đâu mấy năm thì xảy ra đại biến cố 1945, bỏ công chức Tây, ba dắt má và anh em tôi trở về làng, giao cho má xoay xở nuôi con, phần ông mang xăc-côt lên đường đi kháng chiến. Hồng nhan đa truân, không kiểu này thì cũng cách khác, dân gian quả đúng. (mà hình như không hồng nhan thì… còn đa truân hơn!). Má tôi lăn lộn với ruộng nương, cấy, gặt, khom lưng quào cỏ bằng tay, móng không mọc được, lá lúa cứa vào cổ trong nắng nung và  gió Lào rát mặt, chiều tối nào trở về cũng mang vết máu chảy thành dòng đã khô nâu ở bắp chân bị đỉa cắn. Xong vụ lúa  thì trồng dâu nuôi tằm, làm đất khô trồng đậu, trồng mè, ngày trống lên rừng đốn củi…đầu tắt mặt tối không thua người phụ nữ nông dân nào lao khổ nhất làng. Má còn nổi tiếng người bắt cá bộng nhanh nhẹn tài giỏi. Vùng Đại lộc có thứ nông cụ tôi không thấy trongNam, cái bộng. Đó là thanh gỗ dài hình dáng như máng xối lật úp xuống, đặt ngang, nông phu đứng lên trên điều khiển trâu kéo đi làm tơi đất bùn trước khi cấy mạ. Cá rô cá tràu túa ra hai bên theo dòng nước ruộng đục ngầu, phải tinh mắt và kinh nghiệm mới thấy được gợn nước con cá lóc đi, lấy rổ múc hoặc dùng nơm. Nơm thì phải dừng lại mò bắt lâu lắc nên má tôi dùng rổ, bà bắt giỏi tới mức lúc nào cũng thu hoạch gấp đôi gấp ba đám người bì bõm theo sau cái bộng.

Má học hành, thưở đó, quá lắm thì cũng hết tiểu học là cùng nhưng chuyện đọc sách của bà cũng rất đáng nói. Thời con gái, lúc ba tôi học ở Huế, mỗi lần về nhà, ông đưa sách Tự Lực Văn Đoàn cho má “mượn”, bà đọc gần hết tác phẩm của văn đoàn này trước kháng chiến. Khi tôi lớn, sách vở thất lạc gần hết nhưng may mắm (hay rủi ro?), trong mớ sách long gáy sứt bìa đó, tôi còn đọc được cuốn “Hận Ngày Xanh” do thi sĩ Hoàng Cầm dịch cuốn Graziella của Lamartine bằng một thứ văn xuôi đầy hình ảnh và nhạc điệu như thi ca, giống như ông đã phóng tác chứ không phải dịch. Sau này tôi nghe đâu ông dịch cuốn sách năm mới mười mấy tuổi. Chuyện tình lãng mạng, biệt ly đầy nước mắt đó lay động tâm hồn yếu đuối vớ vẩn của tôi cả một thời mới lớn. Đọc xong bỗng thấy núi sông mây gió trăng sao…gợi buồn quá thể khiến cả ngày mơ mộng lem nhem. Lên trung học, tôi đã phải xa nhà, không nhớ những năm đó má tôi đọc những gì để giải trí nơi quê mùa hẻo lánh đó. Em tôi kể, sau ngày ba mất, ngày đi làm ruộng khuây khỏa, đêm đến, má ra trước hiên nhà ngồi khóc, khi thút thít, khi thành tiếng nghe như lời kể lể nhưng không rõ. Không biết ngoài nỗi tiếc thương, bà có điều gì ân hận trong cư xử hay lời ăn tiếng nói không phải với ba lúc sinh thời khiến nỗi đau càng vò xé hay sao, đến nỗi ba bốn tháng ròng đêm nào cũng nghe tiếng khóc đứt ruột như vậy. Ông bà và em tôi an ủi gì thì chuyện cũng tiếp tục như một thói quen khiến tê xót lòng người. Tình thế buồn thảm quá khiến em tôi nảy ra ý đi mượn sách cho bà đọc may ra quên bớt hiện thực bất hạnh. Em vất vả đội nón lá đi bộ hết làng này tới làng nọ tìm nhà bạn cũ của ba má có sách báo này khác mượn về, má chong đèn đọc, quả thật ngơi dần tiếng khóc não nuột hằng đêm. Bữa nào mượn không được sách, bà thất vọng ra mặt.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bom đạn Mỹ cùng thuốc khai quang hủy diệt sạch trơn làng Non tiên, má và em tôi chạy xuống Hội an tá túc. Cách mạng đến, ông và má trở về làng nhưng ruộng đất bị trưng thu, không sống nổi, phải quay lại phố sống nhờ đồng lương giáo viên của em tôi. Đây là thời “tiến nhanh tiến mạnh” (tiến lảo đảo) khiến ai cũng đói, huống chi thân phận thoát chạy tan tát của nhà tôi. Ở gần đường, em tôi sắm cho má cái tủ con kê bên gốc cây bán kẹo đậu phộng, bánh tráng nướng cùng mấy thứ linh tinh, có cả thuốc lá lẻ. Em tôi mộ đạo Tin Lành, đúng ra thì không được tiếp tay cho tội lỗi, đạo Tin Lành VN coi đơn giản, ít lễ nghi rườm rà như Thiên Chúa Giáo La Mã nhưng ngầm khắt khe gần như thứ Thanh giáo, thuốc lá là xấu, (họ đi trước thời đại đó chớ). Vì túng quẩn quá, em tôi ái ngại chấp nhận, có lẽ đêm đêm cô cầu nguyện xin lỗi Chúa không chừng. Lúc đầu má kiếm được tiền tính ra nhiều hơn lương giáo viên, mọi người mừng rỡ không tin nổi, nhưng rồi mỗi ngày mỗi kém đi. Ngồi ngó ruồi má ngượng nên em tôi, sẵn giữ thư viện trường, bắt đầu đem sách về cho bà đọc. Giai đoạn này không còn mang kiếng lão nữa, mắt bà vẫn trong như mắt mèo, có vẻ sáng hơn mới lạ. Lạ nhất không hề bao giờ than mỏi mắt. Không ngờ được bà đọc xong Chiến Tranh Và Hòa Bình chỉ trong mấy ngày. Thư viện nhỏ, đọc hết tiểu thuyết cổ điển Nga, em tôi lôi về truyện của lớp nhà văn Hiện Thực XHCN, Sông Đông Êm Đềm, Đất Vở Hoang, Thép Đã Tôi, Ruồi Trâu…đọc tuốt luốt. Nghe như bà khoái nhất mấy cuốn truyện của Aimatop. Cứ cúi gằm xuống đọc cả ngày không bao giờ nghe nói mỏi mắt thì hàng bán ế là tự nhiên. Từ bao giờ, người trong xóm gọi má bà già đọc sách. Cứ tưởng Trời cho đôi mắt vô địch như vậy thì khỏi lo gì trắc trở nhưng không, một hôm ngủ dậy, cụ than đau nhức, chảy nước mắt, nhìn xa hình dáng sự vật một hóa hai. Em tôi hoảng kinh dẫn đi khám, bác sĩ không nói rõ thế nào, chỉ cho toa mua thuốc. Phải công nhận BS Việt nam phần nhiều rất ít lời, không hiểu họ “phục vụ” quá nhiệt tình đâm mất sức hay vì lương bổng thù lao, họ không “ba hoa” giải thích quá nhiều như thầy thuốc ngày trước. Một tuần trôi qua không thuyên giảm lại có vẻ nặng hơn, em tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên nghe bà bảo:

– Má mới đọc hết tập một cuốn Oliver Twist, con ráng kiếm cho má tập hai, nhìn gần còn rõ, lỡ mai mốt má bị đui rồi không đọc đươc.

Chưa kịp tái khám thì tình cờ, em tôi nghe phổ biến phương pháp tập thể dục cho mắt của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện trên radio, bèn thử áp dụng cho má. Như một phép lạ, chỉ tập nửa tháng là bà khỏi hẳn. Thế là màn đọc sách tái diễn cho đến khi em tôi nói với má không còn sách nào ở thư viện trường thích hợp cho má nữa thì cũng là lúc giẹp luôn trò bán kẹo và thuốc lá lẻ.

Tôi chưa hết ngạc nhiên về sự đổi thay nhanh chóng của tinh thần người ta. Trước khi bị té, cụ vẫn đọc nhật trình, gặp những cảnh báo về sức khỏe, cụ gọi đứa này, kêu đứa khác bảo phải đọc để hiểu nên ăn gì, nên làm, nên tránh cái này cái nọ có lợi có hại cho sức khỏe…Thế mà, vừa bị tai nạn hôm trước, ngay hôm sau đã hoàn toàn suy sụp. Chẳng hạn:

– Dẫn má xuống nhà tắm má đi cầu đi con!

– Má té gãy chân rồi, đi răng được?

– Bậy mà, má té hồi nào, té chỗ mô, gãy chỗ mô chỉ má coi!

Cụ không thể tin mình không bước đi được nữa, nhất định không chịu đi vệ sinh ngay trên giường vì “đi chi chướng rứa”. Cụ bắt đầu lẫn lộn, vừa nói nghe rất hợp lý điều này xong lại toong ngay một câu trật lất không đâu vào đâu. Một buổi chiều ngủ dậy, má hỏi:

– Ông bà ngoại đâu rồi con?

Em tôi nói:

– Ông bà trên thiên đàng nớ.

Má bảo:

– Bậy nà, ông bà chết hết rồi na?

Chúng tôi chuẩn bị cho một ngày cụ quên hết, chắc chẳng còn lâu. Tôi ở xa với vợ con, công việc, chỉ mỗi mình cô em ốm yếu chăm sóc bà. Sự nhọc nhằn rồi cũng sẽ chất nặng bội phần trên vai gầy của cô. Cô bảo sự hy sinh của má nay đáng cho con cháu đền đáp hơn lúc nào. Phải, nhưng tôi, con trai, chỉ lãnh phần nhẹ hều.

NGUYỄN KHIÊM

Chuyến xe

Đây là một chuyện có thật đã xảy ra bên Tầu nhưng những gì ẩn chứa trong đó cũng hoàn toàn Việt Nam. Cũng cái ác hoành hành trắng trợn, cũng sự yếu hèn, ích kỷ và vô cảm của bày cừu, sự cô độc bất lực của người tốt. Nhưng cái kết bất ngờ gây xúc động lớn quá! Hóa ra sự chịu đựng của kẻ yếu chỉ là nhất thời. Hóa ra danh dự bị tổn thương là mầm thù hận không thể lụi tàn, mà sớm muộn sẽ thành cây gậy báo thù. Hóa ra luật nhân quả vẫn mãi đúng. Hóa ra im lặng trước tội ác cũng là tội ác. Bèn dịch, trước tiên để tự an ủi sự bất lực của chính mình, và để tặng tất cả, nạn nhân không thể tự vệ cũng như người tốt cô đơn, cả số đông bàng quan, và cả những kẻ thủ ác chưa bị đền tội. Hãy đọc tới đoạn chót vì đây là một Câu Chuyện Thật đã xảy ra ở Trung Quốc vào năm 2008, và đã được đưa lên BBC & CNN… (HH)

HOÀNG HƯNG

Một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi.

Giữa đường, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô lái xe xinh đẹp. Chúng bắt cô dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô.

Tất nhiên là cô lái xe kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng.

Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay; nhưng ông đã bị chúng đánh đập. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng. Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.

Một giờ sau, ba tên du côn và cô lái xe tơi tả trở về xe và cô sẵn sàng cầm lái tiếp tục lên đường…

“Này ông kia, ông xuống xe đi!” cô lái xe la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.

Người đàn ông sững sờ, nói:

“Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?”

“Cứu tôi ư? Ông đã làm gì để cứu tôi chứ?”

Cô lái xe vặn lại, và vài hành khách bình thản cười.

Người đàn ông thật sự tức giận. Dù ông đã không có khả năng cứu cô, nhưng ông không nên bị đối xử như thế chứ. Ông từ chối xuống xe, và nói: “Tôi đã trả tiền đi xe nên tôi có quyền ở lại xe.”

Cô lái xe nhăn mặt nói: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy.”

Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe, họ nói:

“Ông ra khỏi xe đi, chúng tôi có nhiều công chuyện đang chờ và không thể trì hoãn thêm chút nào nữa!”

Một vài hành khách khỏe hơn tìm cách lôi người đàn ông xuống xe.

Ba tên du côn mỉm cười với nhau một cách ranh mãnh và bình luận: “Chắc tụi mình đã phục vụ cô nàng ra trò đấy nhỉ!”

Sau nhiều lời qua tiếng lại, hành lý của người đàn ông bị ném qua cửa sổ và ông bị đẩy ra khỏi xe.

Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ.

Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút.

Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô.

Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô lái xe:

“Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?”

The driver said nothing, but the bus traveled faster and faster.

Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài vực như mũi tên bật khỏi cây cung.

Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng “Phục Hổ Sơn”.

Một chiếc xe cỡ trung rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.

Người đàn ông đã bị đuổi xuống xe đọc tờ báo và khóc. Không ai biết ông khóc cái gì và vì sao mà khóc!

Bạn có biết vì sao ông ta khóc?

Nếu bạn có trên xe bus, bạn có đứng lên như người đàn ông kia?

Chúng ta cần những người như ông để tạo nên và duy trì một xã hội bình thường!

Khi ta đối xử với người khác bằng cả tấm lòng, ta sẽ nhận được hơi ấm và tình yêu từ mọi người!

Đây là một câu chuyện rất bi thảm. Bạn sẽ làm gì nếu như bạn là người lái xe?

HOÀNG HƯNG  

dịch từ profiles.google.com

EVN có lỗ không?

Quốc Phương  

Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thua lỗ lên tới trên mười nghìn tỷ đồng trong năm 2010, theo quan chức lãnh đạo Bộ Công Thương trong cuộc họp báo ‘công bố giá thành sản xuất, kinh doanh điện năm 2010’ của Tập đoàn này.

Liên quan tới việc bù lỗ cho EVN, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng, được trang mạng của EVN trích thuật khẳng định hiện nhiều nhà máy phát điện bị lỗ là do “giá bán điện đầu ra còn thấp” và giải pháp cơ bản nhất vẫn là phải “đưa giá điện về đúng giá trị thật.”

Mặc dù Bộ Công Thương khẳng định lần công bố công khai giá thành này “không liên quan điều chỉnh giá điện trong thời gian tới” và hiện nay “chưa có thông tin nào” về việc điều chỉnh giá điện, dư luận cho rằng việc tăng giá điện để bù lỗ cho EVN sẽ sắp diễn ra.

Tập đoàn EVN trích thuật lời của Tổng giám đốc, ông Phạm Lê Thanh cho hay nguyên nhân chủ yếu của việc thua lỗ là “năm 2010, do sản lượng thủy điện thấp vì nước thiếu hụt nghiêm trọng, EVN đã buộc phải huy động các nhà máy chạy dầu cũng như phải mua điện ngoài với giá cao gấp nhiều lần giá bán bình quân.”

“Điều này khiến cho tình hình tài chính của EVN càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, giá bán điện thấp hơn giá thành là nguyên nhân chính gây nên tình trạng các nhà máy điện càng sản xuất kinh doanh nhiều càng lỗ nặng. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho việc kêu gọi đầu tư vào ngành điện gặp nhiều khó khăn,” lãnh đạo tập đoàn cho hay.

‘Chưa minh bạch’

Tiến sỹ Nguyễn Quang A cho rằng để giải quyết vấn đề báo lỗ và bù giá, trước hết báo cáo của EVN phải thực sự minh bạch.

Bình luận về khoản lỗ khổng lồ của Tập đoàn nhà nước này, một phản biện gia độc lập từ trong nước cho BBC biết:

“Thực sự là trong thông báo của EVN mới đây, doanh thu của họ là khoảng chín mươi ngàn tỷ (VND) và lỗ của họ là khoảng mười ngàn tỷ. Về cơ bản, họ bị lỗ khoảng 11%. Vấn đề chưa được minh bạch ở chỗ là việc lỗ này tại cái gì?” Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói với BBC hôm thứ Ba.

“Nếu lỗ đó là do nhà nước bảo EVN không được bán giá điện quá một mức nào đấy, tức là nhà nước ép ENV phải lỗ, vì nhà nước muốn bao cấp cho các ngành khác chẳng hạn, thì trong trường hợp ấy, nhà nước hay người dân phải bù trong một thời gian sau, theo một lộ trình nhất định, chứ không thể tăng đùng một lần. Ví dụ để bù mức đó, phải tăng 10%.”

“Hoặc do cái lỗ đó là do EVN đầu tư ra bên ngoài bất động sản, chứng khoán, đất đai, ngân hàng, viễn thông mà bị lỗ, thì trong trường hợp ấy không thể đổ lên đầu người dân được.”

“Nhưng nếu lỗ đó là do sai lầm của lãnh đạo của EVN trong quản lý kém, trong để thất thoát điện quá mức, khoản lỗ đó tương đương với 4% thất thoát, nếu EVN giảm được thất thoát từ 10,15% xuống còn 6,15% thì không còn lỗ tý nào cả.”

“Hoặc do cái lỗ đó là do EVN đầu tư ra bên ngoài bất động sản, chứng khoán, đất đai, ngân hàng, viễn thông mà bị lỗ, thì trong trường hợp ấy không thể đổ lên đầu người dân được.”

Chuyên gia phản biện độc lập cho rằng trong trường hợp này, cần phải có các biện pháp khác mà theo ông là “phải cách chức, đuổi” những người lãnh đạo tập đoàn có trách nhiệm và “tuyển những người giỏi vào làm.”

“Vẫn chưa công bố đủ thông tin để người ta thực rõ tình hình của EVN như thế nào,” ông nói.

‘Thoái vốn’

Tổng Giám đốc EVN Phạm Lê Thanh
Tổng Giám đốc EVN Phạm Lê Thanh nói sẽ triệt thoái một số khoản vốn kinh doanh không đúng lĩnh vực chức năng được giao.

“Nên xã hội hóa, bớt sự độc quyền để người này được quyền làm mà làm chưa tốt, thì những người khác người ta có những cách làm, kỹ nghệ tốt hơn cạnh tranh lành mạnh, thì đó sẽ là hướng ra”

Trước câu hỏi tìm giải pháp chung cho những người sản xuất, phân phối cũng như người tiêu thụ điện, đặc biệt trong việc tránh khuynh hướng lâu nay của việc “tăng giá, bù lỗ,” một chuyên gia khác hôm 22/11, từ Thành phố Hồ Chí Minh cho BBC hay:

“Trước hết, mạng lưới nên mở rộng ra, để kỹ nghệ khai thác vốn chưa được tốt, hay hệ thống phân phối chưa tốt làm giá thành cao chẳng hạn, thì cần có sự cạnh tranh lành mạnh hơn,”Tiến sỹ kinh tế Phan Mỹ Hạnh, thành viên Hội đồng Khoa học Viện Điện – Điện tử – Viễn thông TP Hồ Chí Minh nói.

“Vì qua sự cạnh tranh sẽ cho thấy những cái tối ưu và người ta sẽ lựa chọn và tôi nghĩ đó là một trong các hướng của ngành điện, cũng như ngành bưu chính, viến thông, trong những năm gần đây. Tức là khi có sự cạnh tranh thì giá thành sẽ giảm xuống rất là nhiều,”

“Nên xã hội hóa, bớt sự độc quyền để người này được quyền làm mà làm chưa tốt, thì những người khác người ta có những cách làm, kỹ nghệ tốt hơn cạnh tranh lành mạnh, thì đó sẽ là hướng ra thôi, ” bà Hạnh, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Tài chính Nhà nước, thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh bình luận.

‘Khó chấp nhận’

Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền
Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền không nhất trí với lãnh đạo EVN về quan điểm tiền lương và thu nhập ở tập đoàn này.

Cũng hôm thứ Hai, tờ Sài Gòn Giải phóng Online trích thuật ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu khẳng định “không thể có chuyện áp lỗ vào giá thành.”

“Hiện giá điện đang được Nhà nước hỗ trợ, nếu điều tiết theo đúng quy luật cung cầu, không thể có chuyện áp lỗ vào giá thành vì nếu lỗ, EVN phải trích từ quỹ rủi ro, nâng cao khả năng quản trị, tiết giảm chi phí, cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh,” ông Giàu được trích dẫn nói.

Bài báo có tựa đề “Về khoản lỗ hơn 10.162 tỷ đồng: Phải minh bạch trách nhiệm của EVN” của Sài Gòn Giải phóng cũng trích dẫn ý kiến của Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch của TP. Hồ Chí Minh yêu cầu làm rõ khoản lỗ của EVN:

“Tôi không bình luận về mức lương của EVN so với tình hình sản xuất kinh doanh thua lỗ của tập đoàn này, nhưng việc trả lương bao giờ cũng phải phù hợp với hạch toán của doanh nghiệp”

“Vì sao EVN không tập trung mọi nguồi lực để đầu tư nguồn điện, lưới điện theo yêu cầu phát triển mà lại tập trung đầu tư vào các ngành khác, để tình trạng thiếu nguồn điện, thiếu lưới điện kéo dài như vậy.”

“Tôi cho rằng trước mắt, khoản lỗ này phải khoanh lại và làm rõ tất cả thì mới cho phân bổ,” Đại biểu Trần Du Lịch được trích thuật đưa ra vấn đề.

Phản ứng về phát biểu trước đó của Tổng Giám đốc EVN, Phạm Lê Thanh về việc cho rằng mức lương trung bình hiện nay của cán bộ, công nhân viên ngành điện lực với 7,5 triệu đồng/tháng là “không đủ sống,” tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam hôm 22/11 trích lời Bộ trưởng Lao động, Thương binh và Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền nói:

“Tôi không bình luận về mức lương của EVN so với tình hình sản xuất kinh doanh thua lỗ của tập đoàn này, nhưng việc trả lương bao giờ cũng phải phù hợp với hạch toán của doanh nghiệp”

“Về nguyên tắc, có lãi nhiều mới trả được lương cao, mà không lãi nhưng vẫn trả lương cao là khó chấp nhận,” Bộ trưởng Chuyền nói với truyền thông trong nước.

BBC

Khổng Tử và Nam Tử

Thời Xuân Thu, vua nước Vệ có nàng vương phi tên là Nam Tử. Đó là một người đàn bà rất kiêu ngạo và đầy quyền lực. Thiên hạ đồn đại rằng bà ta rất dâm đãng. Sứ thần các nước đến Vệ, trước khi yết kiến nhà vua đều phải diện kiến bà. Bà đồng ý thì mới được gặp vua. Chỉ có Khổng Tử là từ chối cuộc gặp nên không được dùng. Tuy nhiên ngài cũng được cho ở tạm trong nhà khách của triều đình.

Thấy trong nhà khách có cây đàn khánh, Khổng tử bèn gảy mấy cung điệu. Tiếng đàn ngân lên trong đêm khuya khoắc khiến cho Nam Tử thao thức mãi. Bà lần theo hành lang, tới đứng bên ngoài nhà khách. Bà đứng suốt đêm trong sương lạnh để nghe đàn, một mình, một bóng, không ai hay biết. Vệ Linh Công thì đã già, đang ngủ say trong phòng.

Sáng hôm sau Nam Tử phá lệ, cho mời Khổng Tử. Các học trò khuyên ông đừng đến, nhưng ông đã đến. Lúc ấy Khổng Tử đã năm mươi tuổi và Nam Tử là một phu nhân ngoài ba mươi, nhan sắc diễm lệ, quý phái.

Nam Tử hỏi:

“Sao ông dám không yết kiến ta?”

“Vì tôi đến đây chỉ để giúp vua Vệ, không phải để gặp bà.”

“Ông giúp vua làm gì?”

“Trị quốc.”

“Lấy gì để trị quốc?”

“Lấy Chu Lễ.”

“Hãy dẹp bỏ Chu Lễ đi. Ta sẽ phong cho ông làm tướng quốc, ông sẽ có dịp đánh đông dẹp Bắc bình thiên hạ chẳng phải hơn sao?”

“Tôi không chủ trương chiến tranh. Tôi muốn trị thiên hạ bằng Lễ Nhạc.”

Nam Tử im lặng một lúc. Hai người ngồi đối diện nhau. Nam Tử nói:

-Trước đây ta cũng có một mối tình thơ mộng nhưng ta đành phải cắt đứt vì bị ép tiến cung. Đối với ta đó là điều bất hạnh. Ta sống trong cái lồng son này để làm gì? Thực tế là ta đang chết dần trong cái lồng này. Con người sống để làm gì nếu không có tình yêu?”

Bà ngừng lại, nhìn ngắm Khổng Tử. Ngài đang ngồi đối diện bà, đôi mắt sâu, mày rậm, trán rộng, hơi nhô ra như trán một con rồng.

“Này Phu Tử! Bà gọi. Ông chơi đàn hay lắm.”

“Tại hạ không dám.”

“Tối qua, ta đã đứng suốt đêm ngoài trời, trước cửa phòng ông để nghe ông đàn, ông có biết không?”

“Biết. Chính vì thế mà hôm nay tại hạ đến đây.”

“Vậy ông có hứng thú cùng ta hợp tấu không?”

Nam Tử đứng dậy, dáng đi uyển chuyển như con báo đen. Bà với lấy cây hắc tiêu trên vách.

Khổng Tử gảy cây đànSắt,NamTử thổi tiêu. Hết điệu này đến điệu khác, như nước chảy, như gió cuốn, như lời tỏ tình bất tận. Họ chơi đàn quên cả thời gian. Họ bỏ cả ăn uống.

KIỀU NHI

Bi kịch của thiên tài

Khổng Tử và Các Mác đều là triết gia. Cả hai đều muốn áp dụng học thuyết của mình cho cả thiên hạ. Cái “thiên hạ” của Khổng Tử là tập thể các nước thời Xuân Thu còn cái thiên hạ của Mác là các nước nghèo trên thế giới.

Cả hai đều không câu nệ đến vấn đề biên giới, dân tộc, mà có tham vọng dùng học thuyết của mình để mưu cầu hạnh phúc ở bất cứ nơi đâu.

Và cả hai đều đã thất bại thê thảm. Tại sao?

*

Con người có hai BẢN NĂNG GỐC. Freud gọi bản năng thứ nhất là tính dục, và La Rochefoucauld gọi bản năng thứ hai là lòng ích kỷ.

Lòng ích kỷ khiến con người luôn hướng về “tư hữu”. Bản năng truyền giống khiến con người luôn hướng về “sắc dục”. Hai thứ bản năng ấy chi phối mọi sinh hoạt, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi cảm xúc của loài người.

Mác muốn xóa bỏ “tư hữu”, tức là muốn đánh vào cái bản năng gốc quan trọng của con người.

Khổng tử cũng mắc sai lầm tương tự khi muốn dùng “lễ nhạc” để trị thiên hạ trong khi thiên hạ đang đói rách, đang tranh dành miếng ăn mà chém giết nhau cuồng loạn trong thời Xuân Thu. Đó là thời đại mà giới cầm quyền các nước toàn là bọn hôn quân vô đạo, con giết cha, vợ giết chồng, cha con loạn dâm, cái bản năng “tính dục” (libido) và bản năng “giành ăn” hoành hành dữ dội chưa từng thấy.

Nếu như Mác muốn tiêu diệt lòng hám lợi của nhân loại thì Khổng Tử muốn dùng lễ nhạc để “bình thiên hạ”, ngăn chặn chiến tranh, đó là vì ông chưa được nghe câu nói của họ Mao : “Chiến tranh là trường cửu, hòa bình chỉ là tạp thời.” Và ông cũng không nhìn thấy được sức mạnh ghê gớm của cái “tính dục” nên mới có chuyện đang lúc Khổng Tử và vua quan nước Lỗ cúng tế, thực hành Lễ Nhạc thì vua Lỗ lẻn về cung để du hí với mấy nàng kỹ nữ nước Tề khiến Khổng Tử thất vọng ê chề, phải bỏ nước Lỗ mà đi.

Cả Mác lẫn Khổng đều thất bại vì có tham vọng điên rồ là xóa bỏ cái bản năng gốc của con người.

Không ai có thể xóa bỏ được chúng vì chúng do ông trời tạo ra, chúng là bản chất, là máu thịt, là lẽ sống của nhân loại.

Bản chất của con người cũng giống như dòng sông: chúng ta không thể xóa bỏ một dòng sông được mà chỉ có thể uốn nắn dòng chảy của nó để nó biến thành nguồn nước tưới ruộng đồng, biến thành nguồn điện năng phục vụ đời sống. Nếu chúng ta tìm cách san lấp nó, nó sẽ chảy sang hướng khác, biến thành lũ lụt hủy diệt môi trường, hủy diệt con người.

Đáng buồn là cả Mác lẫn Khổng đều không biết điều đó.

Khổng Tử là một thiên tài nhưng ông không hiểu được một câu nói rất bình dân, rất đơn giản là: “phú quý sinh lễ nghĩa” chứ không phải lễ nghĩa sinh phú quý. Muốn có lễ nghĩa chỉ cần làm cho dân giàu. Nếu để dân nghèo thì “bần cùng sinh đạo tặc.”

Mác cũng là một thiên tài nhưng ông ta cũng không hiểu được một câu châm ngôn rất mộc mạc của chị tiều thương ngoài chợ: “đồng tiền đi liền khúc ruột”. Câu nói ấy phải được hiểu: “tư hữu là mạng sống của con người.” Vậy muốn cho con người sống cho ra sống thì phải giúp họ tạo ra nhiều “tư hữu” chứ không phải tìm cách tiêu diệt “tư hữu”. Lịch sử đã chứng minh là khi tiêu diệt tư hữu của nhân dân thì người ta lại tập trung tư hữu vào một nhóm người cầm quyền.

Cả hai nhà tư tưởng lớn của nhân loại sở dĩ đều thất bại ê chề vì đã không hiểu gì về cái “bản năng gốc” của nhân loại.

Có thể có người bỉu môi cho rằng “lòng ích kỷ” và “tính dục” không phải là bản chất của con người mà chỉ là “thú tính” cho nên cần phải tiêu diệt nó.

Xin thưa, đó không phải là thú tính. Đó là bản chất của muôn loài, bao gồm cả con người. Nhưng vì con người có trí tuệ vượt trội các động vật khác nên biết cách “thăng hoa” (sublimer) những bản chất ấy.

Nếu chúng ta đi sâu vào những lý giải của La Rochefoucauld thì lòng ích kỷ cũng chính là cội nguồn của “tình mẫu tử” của “từ thiện” của “lòng bác ái”. Và cái tính dục của Freud cũng bỗng chốc mang vẻ đẹp huyền ảo của tình yêu. Đó là điều mà Freud gọi là sublimation.

Chính vì không hiểu “sức mạnh không gì ngăn cản nổi” của hai thứ bản năng gốc ấy nên cả Khổng lẫn Mác đều đã gây ra những hậu quả bi thảm:

Khổng Tử muốn xây dựng một nhân loại thái bình sung túc trong đó vua tôi và thần dân đều lấy lễ mà sống với nhau chứ không dùng đến chiến tranh chém giết lẫn nhau nhưng trên thực tế thì các chính quyền phong kiến lại dựa vào những ý niệm về trung quân ái quốc, về tam cương ngũ thường để gây chiến tranh khắp nơi, chém giết lẫn nhau, triều đình thì vô đạo, loạn dâm, hoàn toàn đi ngược lại với chủ trương “Lễ Nhạc” của Khổng Tử.

Khổng Tử từng bị các đại thần nhà Chu đuổi đi, ông sang Tề cũng bị Án Anh tìm cách từ chối, ông trở về nước Lỗ tiếp tục dạy học. Ở Lỗ ông từng làm quan phụ trách việc xây dựng gọi là Tư Không. Sau đó vua Lỗ ham mê tửu sắc không lo việc nước, Khổng Tử can ngăn không được liền cùng các học trò bỏ đi, hy vọng tìm được cơ hội thực hiện chủ trương chính trị của mình. Tuy nhiên đó là thời đại chiến tranh liên miên nên chuyện lễ nhạc của Khổng Tử không ai để ý tới. Một lần ông và các học trò bị quân nước Trần vây khốn phải nhịn đói mấy ngày, sau nhờ quân nước Sở đến giải vây, tưởng được trọng dụng nào hay vua Sở chết đột ngột, triều thần nước Sở lại đuổi Khổng Tử đi.

Mác cũng vậy: ông muốn xóa bỏ áp bức bất công, muốn tạo dựng một thế giới đại đồng không có nạn người bóc lột người nhưng thực tế học thuyết của ông lại đẻ ra những chính quyền áp bức, tham nhũng tràn lan bất kể nhân cách… như trường hợp chính quyền Stalin, Bắc Triều Tiên, Mao Trạch Đông, Pol Pot… Cả hai học thuyết đều đẻ ra những nhà nước đi ngược lại ý muốn của người khai sinh ra nó.

Cả hai học thuyết đều rất đồ sộ nhưng chỉ là những tòa lâu đài không có nền móng.

Hơn 2500 năm trước Khổng Tử đã chết trong buồn khổ.

Lúc lâm chung, ông đã nói với các đệ tử:

-Suốt đời ta mơ một thế giới đại đồng, mơ về một xã hội trong đó mọi người thương yêu nhau, không dối trá, không trộm cắp, ra đường thấy của rơi không nhặt, tối ngủ không cần đóng cửa…”

Hơn 2500 năm sau Mác cũng từng có những giấc mơ như vậy. Và nếu còn sống đến ngày nay chắc ông cũng sẽ ê chề vì cái di sản kinh hoàng mà mình đã để lại.

KẾT LUẬN: Bản chất của con người là “tư lợi” và “ái dục”. Đó là hai dòng cuồng lưu rất dũng mãnh. Xây dựng xã hội con người không phải là san lấp hai dòng cuồng lưu ấy mà là biết cách sử dụng nó. Kẻ nào đi ngược lại điều ấy sẽ chỉ gây ra những tàn phá khủng khiếp mà thôi.

KIỀU NHI


Nhà Tu và nhà Tù

Có hai thứ tự do trong cuộc đời này: tự do thỏa mãn các dục vọng và tự do thoát khỏi những dục vọng.

Nền văn hóa phương Tây hiện đại chỉ công nhận loại tự do đầu tiên, tự do thỏa mãn dục vọng. Và nó tôn thờ loại tự do ấy bằng cách đưa lên trang đầu các bản hiến pháp và tuyên ngôn nhân quyền. Người ta có thể nói rằng tín điều căn bản của hầu hết các nền dân chủ phương Tây là  cố hết sức bảo vệ quyền tự do thỏa mãn mọi dục vọng của con người. Nhưng điều đáng chú ý là trong những đất nước như thế người ta không cảm thấy tự do cho lắm.

Loại tự do thứ hai là tự do thoát khỏi dục vọng, chỉ được ca ngợi trong một vài cộng đồng tôn giáo.Ở đó người ta ca ngợi sự bằng lòng, bình an, giải thoát. Điều đáng chú ý là ở những nơi thanh bần như thế, như ở tu viện của chúng tôi, người ta cảm thấy tự do.

Các bạn mong muốn thứ tự do nào?

Một hôm có hai vị sư người Thái được mời thọ trai ở nhà một cư sĩ. Trong phòng khách nơi họ được mời vào và ngồi chờ có một bể nuôi nhiều loại cá. Vị sư nhỏ tuổi hơn tỏ ý không bằng lòng vì việc nuôi cá trong bể là không hợp với giáo lý từ bi của Phật giáo. Việc ấy cũng giống như nhốt cá vào tù vậy. Lũ cá đã làm gì đáng phải bị giam giữ trong một nhà tù bằng kính như vậy? Chúng cần được tự do bơi lội trong dòng sông hay ao hồ tùy thích. Tuy nhiên, vị sư thứ hai không đồng ý. Vị ấy lý giải rằng, quả là những con cá ấy không được tự do theo đuổi sở thích riêng của chúng, nhưng sống trong bể thì chúng thoát khỏi nhiều mối nguy cơ. Rồi vị ấy liệt kê ra các loại tự do ấy như thế này:

1-Có bao giờ quí vị thấy người đi câu buông câu trong một bể cá trong nhà? Chưa! Vậy thì tự do đầu tiên mà những con cá kia có được là không bị người đi câu đe dọa. Hãy tưởng tượng hoàn cảnh của cá trong tự nhiên. Khi chúng thấy một con sâu béo mập hay một con ruồi ngon lành chúng không thể biết chắc là đớp mồi có an toàn hay không. Chắc chắn là chúng đã từng trông thấy bà con hay bạn bè nuốt một con sâu trông ngon lành rồi đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời của chúng vĩnh viễn. Đối với một con cá trong tự nhiên, việc ăn chất chứa nhiều nỗi hiểm nguy và thường kết thúc một cách bi thảm. Bữa ăn đem đến tai họa. Ắt hẳn con cá nào cũng bị chứng khó tiêu mãn tính do luôn luôn lo lắng, và con nào bị bệnh thần kinh hoang tưởng chắc là nhịn đói tới chết luôn. Cá trong tự nhiên có thể bị mắc bệnh tâm thần hết. Còn cá trong bể được tự do khỏi mối hiểm nguy này.

2. Cá trong tự nhiên thường lo bị cá lớn nuốt. Thời buổi này ở nhiều sông, lội ngược dòng vào ban đêm ắt hẳn không còn an toàn như trước! Thế nhưng không có người nuôi nào lại thả những con cá lớn vào để ăn những con cá mình nuôi. Vậy thì những con cá trong bể thoát khỏi mối hiểm nguy bị cá lớn ăn thịt.

3. Trong tự nhiên, có những lúc cá có thể không tìm được thức ăn. Còn cá trong bể thì như thử sống gần một nhà hàng vậy. Cứ ngày hai lần, bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng được giao đến tận nơi, còn hơn là đặt mua bánh pizza giao tại nhà vậy vì không phải trả tiền. Cho nên những con cá trong bể không bị cái đói đe dọa.

4. Khi bốn mùa thay đổi, sông hồ phải chịu những nhiệt độ khắc nghiệt. Vào mùa đông thì lạnh buốt, có thể bị băng tuyết che phủ. Vào mùa hè có thể rất nóng, thậm chí là nước bị cạn khô. Còn cá trong hồ thì cứ như ở trong phòng có máy điều hòa hai chiều. Nhiệt độ trong bể luôn được giữ không thay đổi và dễ chịu suốt ngày, quanh năm suốt tháng. Như thế, con cá trong bể có được tự do thoát khỏi thời tiết nóng lạnh thất thường.

5. Trong tự nhiên, khi cá bị bệnh, chẳng có ai săn sóc, điều trị. Còn cá trong bể thì  được bảo hiểm y tế. Khi có ốm đau, chủ nhà liền mời thầy thuốc đến khám bệnh, mà cũng không cần phải đi bệnh viện nữa. Như thế con cá trong bể được tự do khỏi mối nguy cơ không có bảo hiểm y tế.

Vị sư lớn tóm tắt lại lập luận của mình. Làm thân cá trong bể được hưởng nhiều thuận lợi. Quả thật là chúng không được tự do theo đuổi các sở thích của mình và bơi đi đây đi đó, nhưng chúng thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nỗi khó chịu.

Vị sư lớn tiếp tục giải thích rằng đời sống của những người sống cuộc đời đạo hạnh cũng như thế. Quả thật là họ không được tự do theo đuổi những dục vọng và thỏa mãn những mong muốn này nọ, nhưng họ thoát khỏi nhiều mối hiểm nguy và nhiều điều khó chịu.

Còn bạn muốn thứ tự do nào?

Thế giới tự do 

Một hôm, một vị sư ở tu viện của chúng tôi được thỉnh đi dạy thiền ở trong một nhà tù mới gầnPerth, nơi mà tình hình an ninh được kiểm soát hết sức chặt chẽ. Một nhóm tù nhân đã trở nên quen biết và kính trọng thầy ấy. Vào cuối một thời pháp thoại, họ bắt đầu hỏi thầy về nếp sống hằng ngày trong một tu viện Phật giáo.

Thầy trả lời: “ Buổi sáng chúng tôi thức dậy lúc 4 giờ. Đôi khi cũng lạnh lắm vì phòng chúng tôi không có máy sưởi. Chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa, tất cả thức ăn đều bỏ chung vào một bình bát. Vào buổi chiều và tối chúng tôi không ăn. Dĩ nhiên là cũng không có chuyện sex hoặc rượu chè. Chúng tôi cũng không có vô tuyến truyền hình, truyền thanh, hay âm nhạc. Chúng tôi không bao giờ xem phim, mà cũng không chơi thể thao. Chúng tôi nói ít, làm việc nhiều, và dành thời gian rảnh ngồi tọa thiền, theo dõi hơi thở. Chúng tôi ngủ trên sàn nhà.”

Những người tù tỏ ra hết sức ngạc nhiên về sự kham khổ của nếp sống tu hành. So sánh với tu viện, thì nhà tù hết sức nghiêm nhặt này trở thành một khách sạn năm sao. Quả thật, một người tù đã quá thương cảm hoàn cảnh thanh bần của vị sư đồng môn của tôi đến độ quên khuấy là mình đang ở đâu và anh ta chợt nói, “ Sống trong tu viện cực khổ quá. Hay thầy đến ở đây với chúng con đi!”

Mọi người trong phòng ai cũng bật cười. Tôi cũng bật cười khi nghe thầy ấy kể lại câu chuyện. Rồi tôi bắt đầu suy nghĩ:

Quả thật tu viện của tôi kham khổ hơn cả nhà tù khắc nghiệt nhất, tuy nhiên nhiều người tự nguyện đến đây và họ cảm thấy hạnh phúc. Trong khi đó, nhiều người lại muốn thoát khỏi nhà giam kia, và không cảm thấy hạnh phúc ở đó. Tại sao như thế?

Bởi vì các thầy muốn sống ở tu viện, còn phạm nhân thì không muốn ở tù. Sự khác nhau là ở chỗ đó.

Bất cứ nơi nào mà bạn không muốn ở thì dù cho có tiện nghi đến đâu chăng nữa, đối với bạn, nó cũng là một nhà tù. Đây là ý nghĩa thật sự của chữ “tù”. Nếu bạn đang làm một công việc mà mình không thích thì bạn cũng đang ở tù. Nếu bạn đang có một mối quan hệ mà mình không mong muốn thì các bạn cũng đang ở tù. Nếu các bạn đang ở trong một thân thể ốm đau bệnh hoạn mà bạn không muốn thì thân thể ấy cũng là một nhà tù đối với bạn.  Nhà tù là bất cứ một hoàn cảnh nào mà bạn không muốn mà lại dính mắc vào.

Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể thoát khỏi các nhà tù của cuộc đời?

Dễ thôi. Hãy thay đổi quan niệm về hoàn cảnh mà bạn đang sống. Thậm chí là ở ngay nhà tù San Quentin, hay thua một chút là ở tu viện của chúng tôi đi, mà bạn thấy muốn sống ở đó thì nơi ấy không còn là một nhà tù đối với bạn nữa.

Bằng cách thay đổi quan niệm về công việc, về mối quan hệ, về thân thể ốm đau, bằng cách chấp nhận hoàn cảnh thay vì không ưa muốn, thì nó không còn là một nhà tù nữa.

Khi các bạn bằng lòng thì các bạn được tự do.

Trần Ngọc Bảo

PUTIN tiếp tục bỉ báng nước Nga

Trong bài Putin tái tranh cử “không vì cá nhân” trên BBC tiếng Việt có dẫn lời V. Putin nói ông ta tái tranh cử “không nhằm duy trì quyền lực cá nhân”.

Hãy nghe lại một số câu mà ông ta đã nói, sau khi đã bắt cánh phóng viên nước ngoài đợi ba tiếng rưỡi đồng hồ tại một ngôi nhà ở ngoại ô Moskva.

Ông ta nói ông ta “cần nhiều thời gian hơn để nâng cao mức sống và làm cho nước Nga mạnh mẽ hơn”, nói đến “tình trạng còn yếu kém của một số định chế ở nước Nga”.

Ông cũng nói việc ông Berlusconi phải từ chức thủ tướng Ý là một điều đáng tiếc. Ông ta gọi ông Berlusconi là “một trong những chính trị gia vĩ đại nhất của châu Âu”. “Và nếu sự nghiệp của ông Berlusconi có bị cản trở bởi các vụ bê bối tình dục, thì tốt thôi, đó là sự cố ý mà ông Berlusconi tạo ra để thu hút sự chú ý với chính mình”. “Quý vị nghe đây, chẳng hạn Berlusconi từ chức ở Ý. Liệu có nhiều chính trị gia nào ở Ý có tầm vóc như ông ấy? Hãy cho tôi một cái tên.”

Từ những lời ông Putin nói có thể suy ra mấy điều như sau.

Thứ nhất, một chính khách vĩ đại là một chính khách kiểu Berlusconi: đưa nước nhà đến bờ vực vỡ nợ và làm ô uế xã hội bởi những cuộc tình sa đọa, bởi lối ăn chơi ngông ngạo, bất chấp dư luận. Và dân Nga nên hiểu rằng ông Putin cũng có quyền ăn chơi như vậy. Thậm chí, đó là việc rất tốt, vì nó tạo ra “sự thu hút”, một điều tối cần thiết đối với các chính khách “hàng đầu” như hai ông.

Thứ hai, người như hai ông ở Ý và ở Nga là chưa có.

Rõ ràng, Putin đang bỉ báng nước Nga, bỉ báng nòi giống, dân tộc mình.

Hỡi những ai yêu nước Nga, hằng coi dân tộc Nga là dân tộc sản sinh ra những con người vĩ đại, hãy nghe Putin để thấy dân tộc này không hề xứng đáng với sự kính trọng như vậy: ở đất nước đó không thể tìm đâu ra được người tầm cỡ như ông ta, tức là ngang hàng với Berlusconi. Không tìm đâu ra người có tầm cỡ đó, cho dù chính ông ta đã cố gắng vực nước Nga dậy trong suốt 12 năm qua! Một người gần bằng ông ta, tức là gần bằng Silvio Berlusconi, kẻ chơi bời đàng điếm để cuối cùng đưa đất nước đến thảm họa, mà ở nước Nga cũng không có, chỉ có những kẻ ở tầm dưới đó, thì cái đất nước này có đáng được kính trọng hay không?

Bỉ nước Nga, vô tình Putin đã bỉ cả chính mình. Điều đó thể hiện ở hai điểm: ngưỡng mộ một kẻ đáng khinh và gián tiếp nói lên một điều là 12 năm ông ta cầm quyền đã không cho phép một tài năng kinh bang tế thế nào có thể xuất hiện, và đã không làm cho “các định chế” ở nước Nga thoát khỏi tình trạng yếu kém.

Rõ ràng, quyền lực kéo dài nhiều năm đã làm Putin trở thành kẻ hợm hĩnh và quẫn trí. Thật tai họa cho nước Nga nếu ông ta nắm quyền thêm 12 năm nữa!

Và cái bệnh hợm hĩnh và quẫn trí âu cũng là bệnh chung của tất cả những kẻ nắm quyền quá lâu.

NGUYỄN TRẦN SÂM

Người đàn ông ở tù 103 năm vẫn sống !

Khi bị kết án tù 103 năm vào cuối thế kỷ 19, chắc ông Golley không bao giờ nghĩ mình sống đến ngày được thả. Nhưng điều kỳ lạ đó đã xảy ra.Trong kỷ lục Guiness, người sống thọ nhất thế giới cũng chỉ bước qua tuổi 125 với những điều kiện sống được cho là khá hoàn hảo. Tuy nhiên gần đây, trong một cuốn sách mới được xuất bản tại Nga, người đàn ông có tên Golley đã khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi sống thọ tới 120 tuổi, đặc biệt là trong 103 năm, ông này phải sống sau chấn song của nhà tù vì tội giết người.

Cuốn hồi ký gây chấn động 
Câu chuyện đặc biệt của ông Golley đã được nhiều người vùng Seberia của Nga biết tới vào năm 1998, khi người đàn ông này ra tù sau 103 năm thụ án. Tuy nhiên, cái tên Golley mãi mãi chỉ gói gọn trong một phạm vi hẹp nếu như vào tháng 9 vừa qua, cuốn sách tự thuật của người đàn ông này không được xuất bản tại Nga. “Đó là một câu chuyện kỳ khôi, một phép lạ mà tôi lần đầu tiên được nghe thấy trong đời”, giám đốc của nhà xuất bản, nơi phát hành cuốn sách của ông Golley, nhận xét. 
Theo như những gì cuốn sách viết, vào năm 1895, cậu trai trẻ Golley 17 tuổi sống cùng gia đình tại vùng Seberia của nước Nga. “Gia đình tôi sống khá bình an với công việc chính là chăn nuôi gia súc trên các thảo nguyên rộng lớn. Ngay từ nhỏ, tôi đã giúp đỡ bố mẹ chăn bò, cừu. Cuộc sống sẽ tiếp tục diễn ra êm đẹp như vậy nếu như không có cái ngày khủng khiếp đó”, ông Golley kể lại. Ông Golley ngày ra tù.Đó là một ngày tháng 8 năm 1895. Do con bò của gia đình đi lạc vào trang trại nhà hàng xóm nên chàng thanh niên 17 tuổi Golley đã bị người này mắng té tát. Không những thế, do có mâu thuẫn từ trước nên người hàng xóm đã không trả lại con bò cho gia đình Golley. Tức giận vì hành vi ngang ngược, Golley trong lúc nóng giận đã nổ súng giết chết người hàng xóm. 
“Bà vợ nhà hàng xóm nói rằng tôi phải trả giá cho tội ác của mình. Để tôi chết thì không đáng nên bà ta đã câu kết với các nhà chức trách địa phương để bắt tôi phải chết trong tù”, Golley kể lại trong cuốn sách. Thế là chàng thanh niên Golley bị tuyên án… 100 năm tù giam. 
“Người ta tuyên án thế là mong muốn tôi chết dần chết mòn trong tù. Có ai sống được đến 100 tuổi để ngồi tù như tôi đâu. Lúc đó tôi đã nghĩ cuộc đời mình kết thúc từ đây”, Golley bộc bạch. Sau một năm thụ án, Golley đã lên kế hoạch trốn tù, nhưng chỉ một tháng sau đã bị bắt lại, và “được” cộng thêm ba năm nữa, thành 103 năm. 
Cuộc sống hai thế kỷ trong tù 
Kể về cuộc sống 103 năm trong tù , Golley nói rằng ông đã sống trong một thế giới hoàn toàn biệt lập mà không hề biết những sự việc thay đổi xung quanh mình. Khi được ra khỏi nhà tù vào năm 1998, ông cứ ngỡ bản thân đang lạc vào một thế giới khác. 
“Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy máy bay. Lần đầu tiên khi nhìn thấy nó, tôi cứ ngỡ đó là con chim khổng lồ bay lạc phía gần nhà mình. Tôi đã thốt lên rằng sao có một con chim to đến như vậy”. 
Cũng theo Golley, tất cả những vật dụng của thế giới hiện đại như vô tuyến và máy tính ông cũng chưa bao giờ được nghe tới. Thậm chí, khi đất nước Nga trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, ông cũng không hề hay biết. 
“Cuộc sống của tôi ở trong tù chỉ là sáng được mở cửa đưa đi lao động. Tối về bị nhốt sau chấn song của trại giam. Tôi không được đọc báo, không được ai thông tin về những diễn biến bên ngoài. Vì thế tôi cũng không biết rằng, bố mẹ mình đã chết trong một cuộc ném bom của phát xít Đức trong thế chiến thứ nhất”, người đàn ông này nghẹn ngào nói. 
Cuộc sống trong tù của Golley diễn ra vô cùng tẻ nhạt và vô vị. Người đàn ông này đã phải sống một cuộc đời bị cô lập trong một thời gian dài dằng dặc. Golley cho biết rằng, hằng ngày ông chỉ làm bạn với chiếc giường và chiếc ghế duy nhất trong phòng giam mà ông được sở hữu. Trong hơn 100 năm sống trong tù, Golley luôn phải tắm nước lạnh và chưa bao giờ có được một mẩu xà phòng để làm cho cơ thể thơm tho hơn. 
“Một tuần một lần chúng tôi được dồn vào nhà tắm công cộng để kỳ cọ cơ thể. Đã có đôi lần tôi muốn có một chút xà phòng, nhưng những người lính gác đều quát vào mặt tôi rằng có ai nhìn hay ngửi ông nữa đâu, cần xà phòng làm gì. Những lúc như thế tôi đã nghĩ rằng, tôi sẽ phải chết mục xương trong nhà tù tăm tối này”. 
Một điều đặc biệt nữa là ông Goolley cũng chưa bao giờ được nhìn thấy phụ nữ từ khi bước chân vào nhà tù năm 1895. Golley cho biết, nhà tù nơi ông trải qua 103 năm chỉ nhốt các tù nhân nam, tù nhân nữ được giam ở một khu khác. Hơn nữa, sự nghiêm khắc của những người quản giáo đã khiến cho chuỗi ngày dằng dặc phải sống trong tù của ông chưa một giây phút dù ngắn ngủi được ngắm một bóng hồng đi qua. 
Cũng trong cuốn tự truyện, người đàn ông này viết: “Tôi đã chứng kiến sự ra đi của những người bạn tù cùng lứa tuổi từ cách đây vài chục năm. Có người chết vì bệnh tật, cũng có người chết vì tuổi cao sức yếu. Mặc dù mỗi người chết một cách khác nhau nhưng ai cũng có nguyện vọng trước khi chết được ra khỏi nhà tù một lần. Nhưng chẳng mấy ai thực hiện được điều đó. Được chứng kiến những cái chết cô đơn trong nhà tù như vậy, tôi luôn bảo mình rằng, phải sống đến khi ra khỏi nhà tù này, dù thời gian có dài thế nào đi chăng nữa”. 
“Bắt đầu lại cuộc đời chưa bao giờ là muộn” 
Tưởng chừng như nguyện vọng được ra khỏi nhà tù chỉ là chuyện viển vông, tuy nhiên những điều kỳ diệu của cuộc sống vẫn luôn xảy ra. Năm 1998, sau đúng 103 năm thụ án, ông Goolley đã chính thức được ra tù. Vào thời điểm đó ông tròn 120 tuổi. “Đó là một phép lạ mà chính bản thân tôi cũng chưa bao giờ dám nghĩ tới”, Goolley nói. 
Ngày Goolley được trả tự do trở thành một ngày hội lớn của nhà tù nơi ông đã gắn bó phần lớn cuộc đời mình. Nhớ lại ngày đó, ông Goolley bồi hồi: “Trước khi ra tù, tôi đã được đưa đi cắt tóc gọn gàng. Những người quản trại đã góp tiền để mua cho tôi bộ quần áo mới và tặng tôi 50 rúp để bắt đầu cuộc sống mới. Họ nói với tôi rằng, cuộc đời bắt đầu lại chưa bao giờ là muộn và tôi thấy điều đó thật đúng”. 
Khi được hỏi vì sao vẫn giữ được sức khỏe tốt mặc dù đã 120 tuổi, ông Goolley cho rằng bản thân ông đã phải làm việc chăm chỉ và đều đặn khi ở tù. “Đừng nói rằng cuộc sống trong tù không đem lại cho tôi điều gì tốt đẹp. 
Chúng tôi ở đây đều phải làm việc và ăn uống theo quy định, vì thế tôi nghĩ rằng tôi đã sống khỏe do được rèn luyện ở trong tù”. Cũng vì sức khỏe còn tốt, nên ngay sau khi ra tù, ông Goolley muốn tìm một công việc phù hợp để có thể tự kiếm tiền nuôi sống bản thân. 
Trong bữa tiệc nhỏ do chính tay tù nhân làm để chia tay người tù cao tuổi nhất và là người phải sống trong tù lâu nhất, được hỏi có mong muốn gì khi được tự do, ông Goolley đã khiến mọi người phải bật cười vì thái độ thành thật của mình: 
“Việc đầu tiên tôi muốn làm là được tắm nước nóng, uống một ngụm Vodlka và sẽ cố gắng để lấy vợ”. 
Theo ông Goolley, cuộc sống mới của ông được bắt đầu với những việc ông đã không thể làm hoặc chưa kịp làm trước khi bước chân vào tù. Ông không ngại nói mình sẽ tìm một người bạn đời ở lứa tuổi gần đất xa trời. Goolley luôn tự tin sẽ có những người phụ nữ thấu hiểu hoàn cảnh đặc biệt của ông và tìm đến ông để chia sẻ. 
“Tôi chưa từng hẹn hò hay cầm tay bất kỳ cô gái nào trong suốt 120 năm của cuộc đời. 

Vì thế khi được ra tù, tôi muốn có một người phụ nữ ở bên cạnh mình để bù đắp cho những tháng ngày tù tội của tôi. Tôi nghĩ rằng mình không quá già để có nguyện vọng như thế”, ông Goolley nói. 
Những người trong gia đình của ông Goolley như bố mẹ và anh chị em đều đã chết trong chiến tranh thế giới thứ nhất, vì thế khi ra tù, người đàn ông này phải sống một mình. Biết được hoàn cảnh đặc biệt của ông, chính quyền địa phương nơi Goolley từng sinh sống có ý định đưa ông vào trại dưỡng lão, tuy nhiên ông từ chối. 
Giải thích lý do, Goolley cho biết ông muốn một cuộc sống tự do tự tại, không theo quy định hay khuôn khổ nào nữa. 
Ông Goolley cũng bày tỏ rằng, 
chỉ sống tự do thì ông mới có thể thực hiện được những ước muốn trên của mình. 

Theo NĐT

“BẦU CHỌN VỊNH HẠ LONG”: CẢ NƯỚC ĐANG BỊ LỪA?..

Tổ chức lừa tiền thế giới New7Wonders.com chỉ là ý tưởng “kinh doanh” của một người Canadagốc Thụy Sĩ, tên là Bernard Weber.

Đây là Website của một tổ chức tư nhân, đặt trụ sở tại Thụy Sĩ (New Open World), chứ không phải của một dự án của một Chính phủ hay Tổ chức uy tín nào trên thế giới.
Bằng khả năng quảng bá, marketing khéo léo, cộng với cách chọn tên của dự án “New 7 Wonders of Nature”, “7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới”, Bernard Weber đã đánh vào lòng tự hào dân tộc, lôi kéo và đánh lừa được rất nhiều phương tiện truyền thông, thậm chí cả các Ban ngành về tài nguyên thiên nhiên và du lịch ở nhiều nước trên thế giới (nhất là các nước nghèo, có hiểu biết và dân trí thấp).
Bên ngoài, tay lừa đảo Weber tuyên bố rằng dự án của mình “phi lợi nhuận”, nhưng cái sự “phi lợi nhuận” đó giúp hắn kiếm bộn tiền. Mỗi địa danh tham gia phải … kí hợp đồng và đóng cho tổ chức 5k USD/tháng. Các website khác muốn sử dụng các nội dung về các thắng cảnh bình chọn cũng phải trả phí 5k USD/tháng.

Ngoài ra, hắn còn có các nguồn thu từ tiền tài trợ, tiền chia từ các Cty Dich vụ viễn thông cho phí SMS và vote call, tiền bán các loại hàng hoá như áo phông, đồ lưu niệm với giá rất đắt…
Đặc biệt, bọn lừa tiền N7W còn chơi trò khốn nạn nhất trong các trò khốn nạn đó là … bán phiếu bầu. Một người có thể nhắn bao nhiêu tin tùy thích để bầu chọn.
Tức là N7W “thả cửa” cho các con mồi mua càng nhiều phiếu bầu càng tốt. Việc làm này vừa phản khoa học, vừa mang đậm tính chất lừa tiền thiên hạ.
Trả lời về khoản “lợi nhuận” khổng lồ, từ 3 năm trước, Báo Sachsen (Đức) dẫn lời N7W tuyên bố: “Chúng tôi cam kết sẽ dùng 50% tiền lãi thu được để đầu tư vào việc tu bổ 7 kỳ quan thế giới mới và một số công trình khác”. Khi được hỏi 50% số lãi còn lại sẽ được dùng vào việc gì, N7W im lặng.
Chưa kể, đã 3 năm trôi qua nhưng mình chưa thấy tăm hơi gì về khoản tiền tu bổ mà N7W mạnh miệng hứa nó nằm ở đâu cả. Bạn nào thấy rồi, thì báo cho mình 1 câu với?.

Đẳng cấp chém gió cấp Quốc tế
Ngày 27/9/2011, Bernard Weber đến làm việc tại Quảng Ninh. Hắn mạnh miệng tuyên bố: “Thông qua cuộc bầu chọn đó đã có nhiều danh thắng nhận được rất nhiều sự quan tâm với trên 1 trăm triệu phiếu bầu của người dân trên khắp thế giới, chứng tỏ sự quan trọng và tầm ảnh hưởng rất lớn của cuộc bầu chọn do Tổ chức phát động.”
Chúng ta hãy thử xem qua cái “tầm ảnh hưởng” của N7W.
Sử dụng Alexa để tìm hiểu thông tin về N7W thì ta có thể thấy như sau:
New7wonders.com xếp hạng 22,607 trên thế giới và hạng 31,656 tại Mỹ.
Trong khi đó, cùng thời điểm, trang Vnexpress được xếp hạng 386 trên thế giới và hạng 1,167 tại Mỹ.

Thậm chí đến cả diễn đàn vn-zoom.com còn được xếp hạng 3,357 trên thế giới và 18,285 tại Mỹ.
Cả 2 trang viết bằng Tiếng Việt đều có “tầm ảnh hưởng” vượt xa N7W trên thế giới.
Một đều hết sức bất ngờ, trong các nước sở hữu địa danh lọt vào “chung kết”, New7wonders được xếp hạng 1,061 tại Việt Nam, chỉ thua 2 nước IQ thấp đó là Lebanon (240) và Tanzania (265).
Tại một số nước IQ cao như Đức, Pháp, Hàn Quốc, xếp hạng của N7W khá … lẹt đẹt, 50,446 ở Đức, 77,133 ở Pháp, Hàn Quốc thậm chí còn không thấy bóng dáng đâu
Công nhận tầm ảnh hưởng của N7W là vô cùng to lớn đối với nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới…
(Số liệu của Alexa được thống kê ngày 4/10/2011).
Phản ứng của nhân dân tiến bộ trước thảm họa N7W
Khi được hỏi về N7W, Tổ chức UNESCO tuyên bố rằng
“Mặc dù nhiều lần được mời ủng hộ N7W, nhưng UNESCO quyết định không hợp tác với ông Weber. Mục tiêu của UNESCO là giúp các nước xác định, bảo vệ và bảo tồn các di sản thế giới. Cần xác định các tiêu chuẩn khoa học, xác định giá trị của các ứng viên”.
Như vậy, theo UNESCO kết quả bầu chọn của N7W không chính xác và không có khoa học. Cũng phải, bán phiếu bầu thì lấy đâu ra khoa với chả học?…

Nagib Amin – Một Chuyên gia Ai Cập về Di sản thế giới phát biểu: “Ngoài khía cạnh thương mại, lá phiếu không có cơ sở khoa học”. Tại Ai Cập, Bộ trưởng Văn hóa Farouq Hosni gọi cuộc bầu chọn này là “ngớ ngẩn” và mô tả Weber (nhà sáng lập NOWC), chỉ có mục đích duy nhất là “tự quảng cáo”.

Tại Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Thắng, Tổng Thư ký Hiệp hội UNESCO VN và nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội UNESCO thế giới, cho rằng việc “mua phiếu bầu và nhà tổ chức thu tiền” này khiến cuộc bình chọn 7 kỳ quan thế giới mới của N7W: “Không khác gì một cuộc thi Manhunt (Người đàn ông quyến rũ) Quốc tế, khi một cá nhân bỏ ra vài nghìn USD để mua hàng trăm lá phiếu”.
Chính phủ Maldives đã sớm tỉnh ngộ, nhận ra trò lừa đảo của N7W và đã rút lui từ tháng 5/2011
http://maldivesresortworkers.wordpre…-wonders-scam/
http://www.mymaldives.com/blog/maldi…7wonders-scam/
Chắc Chính phủ Maldives bị thần kinh mới rút khỏi N7W, nếu bọn đó không phải bọn lừa đảo
Vịnh Hạ Long bá đạo trên bảng xếp hạng N7W

Tại Việt Nam, từ năm 2007, Chính phủ phát động cả 1 Chiến dịch cấp Quốc gia về bầu chọn cho vịnh Hạ Long trên trang web lừa tiền Quốc tế. Các tờ báo liên tục tung hô N7W, thằng lừa đảo Bernard Weber, hô hào nhân dân Việt Nam hãy bình chọn cho vịnh Hạ Long để “bày tỏ lòng yêu nước”…
Cụ thể:

Từ ngày 22/2/2008, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã được phía New Open World (NOW) đồng ý là cơ quan bảo trợ chính thức và đã đại diện ký thỏa thuận với NOW.
Ngày 25 tháng 2 năm 2008, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức lễ phát động bình chọn Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Nhiều báo, như báo Tuổi Trẻ đã lập hẳn 1 chuyên mục để thông tin (với khẩu hiệu “Bầu chọn Việt Nam: Lá phiếu của lòng yêu nước”), thường xuyên và tuyên truyền cổ động cho cuộc bình chọn này.
Tại Tiền Giang, từ ngày 25/3/2008, lãnh đạo Tỉnh đoàn, Sở Văn hóa Thông tin và Sở Bưu chính viễn thông cùng hàng trăm Đoàn viên Thanh niên (ĐVTN) Đoàn Khối Dân Chính Đảng tỉnh Tiền Giang, đã khởi động chiến dịch 10 tháng bầu chọn cho 3 danh thắng của Việt Nam vào danh sách kỳ quan thế giới mới (trong đó có cả việc hỗ trợ đường truyền Internet tốc độ cao miễn phí cho 35 trường Trung học Phổ thông trong tỉnh để giáo viên và học sinh tham gia bầu chọn).
Và chỉ trong tuần lễ phát động đầu tiên, đã có gần 10.000 lượt ĐVTN TP. Mỹ Tho đã tham gia bầu chọn.
Ngày 14/3, UBND tỉnh Quảng Ninh, Báo Thanh Niên, Đài Truyền hình Việt Nam và EVNTelecom đã ký hợp tác và phát động chương trình vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên của thế giới cho đến 31 tháng 12 năm 2008, trong đó có 1 “Cuộc tuần hành vòng quanh đất nước bằng xe đạp và thiết lập các điểm bầu chọn cho vịnh Hạ Long ở các tỉnh, thành phố”.

Ngày 19/8/2008, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh đã chỉ đạo Cục Hợp tác Quốc tế đưa ra 9 chương trình hành động từ nay đến cuối năm cho cuộc vận động bầu chọn cho Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan thiên nhiên thế giới.
Do chiến dịch bầu chọn quá hoành tráng này, 3 địa danh của VN (Vịnh Hạ Long, Phong Nha – Kẻ Bàng, Phan-xi-păng), “bá đạo” trên bảng xếp hạng nhiều tuần liền.
Gần đây, vòng chung kết của cuộc bầu chọn N7W diễn ra cực kì “sôi động”. Thằng lừa đảo Bernard Weber đến thăm Việt Nam vào cuối tháng 9/2011 để PR cho N7W.
Lợi dụng lòng tự hào dân tộc và suy nghĩ thiếu chin chắn của người Việt, hắn liên mồm tâng bốc Vịnh Hạ Long lên tận trời xanh. Được “tiếp thêm đạn”, các tay thợ báo bồi bút ngu si IQ thấp, liền liên tục khua môi múa mép, tâng bốc N7W và thằng khốn nạn Bernard Weber, tiếp tục kêu gọi các con mồi tự chui đầu vào rọ vì … tình yêu nước.
Báo chí Ttruyền hình thì phần đông ngu si dốt nát là đúng rồi, vấn đề ở đây là tại sao Chính phủ Việt Nam lại “gà mờ” như thế?.
Chính phủ 1 nước nhỏ như Maldives còn nhận ra trò lừa đảo của N7W, vậy tại sao Chính phủ 1 nước lớn như Việt Nam lại không?.
Phải chăng, Chính phủ biết thừa cái trò lừa đảo này nhưng các cấp chính quyền vẫn dấn thân vào để “lấy thành tích” báo cáo lên trên?.

Phỏng đoán này là có cơ sở, vì căn bệnh thành tích từ lâu đã thâm nhập vào mỗi người dân Việt Nam…
Kết luận về N7W:

Các bạn nên nhắn tin Góp đá xây Trường Sa (soạn tin TRUONGSA gửi 1408) thì thiết thực hơn nhiều việc nhắn tin ủng hộ bọn lừa đảo N7W. Vịnh Hạ Long có nhất bảng, thì cũng chả có bố con thằng Tây nào để ý đâu.
Còn Trường Sa được xây dựng kiên cố, thì chúng ta sẽ giữ được mảnh đất hương hoả cha ông…
Blog Phọt Phẹt (Bài trên dienddanlichsuvn của thành viên Champion).