HAI CÂU CHUYỆN “VUI” VỀ LẠM PHÁT

Hai câu chuyện về “siêu lạm phát” này được kể để làm vui cho những ai đang cảm thấy bất hạnh vì là công dân của những quốc gia có mức lạm phát lên đến 2 hay 3 con số.

Câu chuyện thứ nhất là về quá trình lạm phát của nước Đức trong Thế Chiến I. Trong thời gian 9 năm (1914 – 1923), mức lạm phát trung bình mỗi năm là 10 lần (1000%) và kết quả là đến cuối năm 1923 thì giá cả đã tăng lên… 1 tỉ lần (9 con số 10 nhân với nhau!). Do đó, ngân hàng trung ương nước này đã phải phát hành đồng 100 000 000 000 (một trăm tỉ) mark (xem hình 1). Trong bài viết “A look at German inflation 1914 – 1924” đăng trong joelscoins.com Joel Anderson đã ghi chú: vào ngày 15 tháng 11 năm 1923 thì 100 tỉ mark mua được hai vại bia, và giá một ổ bánh mì là 80 tỉ mark.

Nhưng đây vẫn chưa phải điều khủng khiếp nhất. Câu chuyện thứ hai ghê gớm và… hài hước hơn nhiều liên quan đến vụ lạm phát có một không hai trong lịch sử loài người và hiện vẫn còn đang diễn ra. Đó là vụ lạm phát đạt tới hai triệu phần trăm, đồng nghĩa với việc giá sinh hoạt tăng 20 ngàn lần mỗi năm, ở quốc gia châu Phi Zimbabwe. Với mức lạm phát như vậy, vào tháng 7 năm 2010 này, một tờ 100 tỉ dollar Zimbabwe chỉ mua nổi… 3 quả trứng gà chưa luộc! (Xem hình 2.) Con tờ tiền mới nhất vừa được phát hành thì có mệnh giá lên tới 100 000 000 000 000 (một trăm ngàn tỉ) dollar.

Bạn hãy hình dung như sau. Cả nước ta (kể cả các công ty nước ngoài ở VN) làm một năm không ăn gì và không trừ chi phí sản xuất được khoảng 100 tỉ dollar Mỹ (theo thống kê của chính phủ ta!). Nếu sau một đêm, số dollar Mỹ đó bỗng biến thành… dollar Zimbabwe thì cả nước sẽ chỉ mua được 3 quả trứng gà. Vẫn với kiểu “biến hóa” như vậy, toàn bộ số người lao động của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với GDP hàng năm khoảng 10 tỉ dollar phải làm 10 năm mới đủ bảo đảm cho chính phủ dám chạm tay vào một tờ giấy bạc mới được phát hành trong năm nay ở Zimbabwe!!!

NGUYỄN TRẦN SÂM

 

Advertisement

BƯỚC CHÂN NGƯỜI

Những bước chân khai phá bến bờ hồng hoang
in dấu nơi trầm tích mông muội trên mặt đá hoa cương
hằn lên sức nặng số phận
qua bể dâu tang thương.

Bước chân dò dẫm hoang vu tứa máu lả mồ hôi
từ buổi dại khờ thôi nôi
lần mò nương  theo cỏ cây chông gai sỏi cát
cùng bầy thú hoang trọ quanh truông rừng hang động núi đồi

Bàn chân dẹp vẹt gân guốc ngắn dài
miết mải đường đời
lẳn mòn đá cuội
dẻo dai di trú kiếp người.

Vuốt  nhọn rách xướt  móng nứt tà
những ngón chân túm chụm to bè
bấm bùn trơn, bấu đất lỡ, nhón với hái lượm
từ bỏ dã thú đứng thẳng phận người ta

Guốc mộc dậm mòn nương rẫy, giày da nhịp bước phố phường
móng sơn xanh đỏ  gót son hài hoa thơm hương
chân người văn minh lướt qua mặt đất hoang dã
nhấn ga tăng tốc dục vọng chạy theo lợi nhuận máu xương

Gió muôn thu vẫn thổi qua đời vi vu
con người dường như lạc mất dấu về ban sơ
quên lãng bước chân qua địa đàng ước mơ thánh thiện
chỉ còn đâu đây dăm ba tiếng thở dài lặng lẻ ngây thơ

Thủ đức, 11/2010
ĐOÀN THUẬN

Bật mí Toàn thư

Nguyễn Giang | 2010-12-08, 11:09

Nói như một đồng nghiệp trong BBC Việt ngữ thì chúng tôi là những ‘phóng viên ghế bành’, cả năm mới có đôi ba dịp đi duty trip làm phóng sự từ chỗ này chỗ khác.

Những nơi vô cùng nguy hiểm như Irag, Afghanistan thì chỉ có các phóng viên kỳ cựu của BBC News được cử đi, còn chốn độc đáo như sa mạc Sahara, Nam Cực, Trung Á hay thánh địa Jerusalem vì không liên quan đến vùng mình đưa tin nên đi công tác là chuyện hơi khó, nếu thích thì cứ tự mua vé làm du khách thôi.

Anh Quốc khó khăn kinh tế, châu Âu khủng hoảng đồng euro là những điều tác động đến tâm trí của chúng tôi hàng ngày nhưng việc chính vẫn là đưa tin Việt Nam và Trung Quốc, Bắc Hàn hay Campuchia, Miến Điện bởi đó là tiêu chí hàng đầu của Ban Tiếng Việt.

Và tin tức thì cứ hết ngày này sang tháng khác, toàn chuyện xảy ra ở chốn xa vời, khiến phóng viên ghế bành thấy cái giá trị công việc của mình sao mà khó định đoạt, tác động cũng khó đo lường.

Cho đến khi vụ Wikileaks nổ ra thì tôi mới thấy sức mạnh của ngôn từ, của văn bản, điện tín, của những chuyện do những nhà báo hoàn toàn làm việc từ văn phòng tung ra sau khi ký kết với mạng của nhân vật quái chiêu chưa từng có, ông Julian Assange.

Hiện nay các bình luận từ Anh, Mỹ sang Ý, Pháp, Trung Đông, châu Phi, châu Á đều chưa đồng ý được là tác động của Wikileaks với chính giới toàn cầu ra sao.

Bên bảo cũng chỉ ồn ào, làm xấu mặt người này người kia rồi qua đi, bên nói vụ
Wikileaks đang thay đổi các ngành tình báo, ngoại giao và cách làm báo.

Những người chỉ trích nói WikiLeaks nay không chỉ gây chuyện xấu hổ cho một số chính khác, mà đang dần trở nên nguy hiểm, vô trách nhiệm.

Lộ ra trần trụi?

Ở văn phòng, chúng tôi cũng bàn xem, đầu tiên gọi WikiLeaks là gì trong tiếng Việt.

Nói là chuyện ‘rò rỉ tin mật’ hay ‘điện tín’ (leaked cables) cũng không sai.

Mà gọi là ‘tin tình báo bị tiết lộ’ cũng đúng.

Nhưng tôi nghĩ gọi thế chỉ mô tả được hiện tượng chứ không phải bản chất và tham vọng của ông Julian Assange và những người cùng ông ta tung ra các bản tin đang làm đảo lộn chuyện thời sự quốc tế.

Gọi là Wiki, tôi nghĩ họ có ý coi đó như một bách khoa toàn thư về nội dung, và một kênh thông tin về mặt kỹ thuật, nối phần bí mật của chính giới quốc tế với phần công khai, kể cả khi sự công khai đó là cách hô to: Hoàng đế cởi truồng!

Bộ Bật mí Toàn thư này, theo tôi, đã và đang có tác động vừa mạnh mẽ, vừa lâu dài làm thay đổi hoàn toàn nghề báo quốc tế.

Về tác động gây choáng, gây chấn động tức thời, nó đã là một cơn sóng thần tsunami về tin tức.

Về lâu dài, nó lại cứ nhả ra dần, rò rỉ dần và ngấm dần vào mọi lĩnh vực, và sẽ còn lan rộng từ chính trị sang các ngành khác.

Chứng khoán ở Mỹ đã sụt một chút hôm vừa rồi sau khi WikiLeaks nói sẽ công bố cả các tin mật bị lộ về giới doanh nghiệp ở Wall Street.

Giới viết sử, các lãnh đạo đang hoặc sắp soạn hồi ký chắc chắn không thể không đọc và ‘tư vấn’ với hàng trăm nghìn tài liệu WikiLeaks tung ra.

Nghề nghiên cứu truyền thông (media studies) sẽ sản sinh ra các thạc sĩ, tiến sĩ chuyên về Wikileaks.

Nhưng chỉ nói riêng về nghề báo thì như tôi vừa nêu, vụ Wikileaks cho thấy không cần phải sang Afghanistan, Iraq hay xâm nhập vào Zimbabwe, Miến Điện và Bắc Hàn mới có được bài viết đáng giá.

Vì nếu nghề báo thực sự là nghề đưa tin, tìm ra các câu chuyện dư luận quần chúng muốn biết, và ai đó muốn che dấu đi, thì cái mỏ Wikileaks này quả là sân chơi dư sức cho nhiều BBC, CNN, New York Times, The Guardian, Le Monde, Der Spiegel v.v.

Hóa ra làm phóng viên ghế bành không nhất thiết là một công việc buồn tẻ, miễn là làm đúng thiên chức tìm tin, moi tin và công bố một cách có trách nhiệm.

Ở đây có sự khác biệt giữa việc đăng bài thô dạng tư liệu của WikiLeaks mang nhiều tính giang hồ và việc biên tập lại của các báo lớn.

Nhưng chính sự quái dị, bất chợt, phi truyền thống của Wikileaks đang là thách thức cho các cơ quan truyền thông có tên tuổi và các nhà báo gạo cội.

Vừa ẩn hiện khôn lường, các cú tiết lộ không phải là dạng trang tin xã hội, tin mạng tùy hứng, xả stress, chống phá lung tung mà có chiến lược ‘ra quân’ rất thâm sâu.

Thời điểm họ tung ra các nội dung cũng không phải là tình cờ.

WikiLeaks không phải là dạng trang ‘bất đồng chính kiến’ vì đã và sẽ còn hợp tác với nhưng tờ báo đầy uy tín ở Âu Mỹ nên các tiết lộ đến được công chúng qua cả mạng, báo in và các diễn đàn chính thống.

Vì thế, sau WikiLeaks, mọi chuyện sẽ trở nên khác hẳn.

Hiện ông Assange đã bị bắt theo cáo buộc liên quan đến tình dục, khiến một số blogger ở đùa rằng Thuỵ Điển ‘mượn điều 88 của Việt Nam’.

Chưa rõ việc xử ông ra sao nhưng nhân vật 39 tuổi này đã đi vào văn hóa dân gian châu Âu: hình bằng sứ của ông được bày bán mùa Giáng Sinh này ở Ý, bên cạnh hình Tổng thống Obama và các nhân vật lãnh đạo quốc tế.

Kể cả khi không còn Julian Assange chỉ đạo, một mạng lưới những người cộng tác hay sẵn sàng ủng hộ WikiLeaks vẫn còn đó, mà con số này có thể lên tới hàng trăm nghìn.

Chưa kể, nếu mạng này bị đóng – một điều khó xảy ra về mặt kỹ thuật – thì không có gì đảm bảo là sẽ không có các mạng khác, học theo cách lấy tin có hệ thống và tuồn ra ngoài.

Việc bảo mật sẽ được tăng cường như kể từ khi có điện tín và nhất là Internet, đảm bảo thông tin liên lạc không bị ‘bật mí’ hoàn toàn trở nên không tưởng.

Ta thử hình dùng sau WikiLeaks mà hiện chủ yếu tập trung vào Hoa Kỳ dần dần sẽ có riêng các mạng UKLeaks, VinaLeaks, ChinaLeaks, IslamLeaks thì mọi chuyện sẽ ra sao?

NGUYỄN GIANG, nguồn BBC

CHÚ THÍCH ẢNH 01: Người ủng hộ ông Julian Assange ngoài tòa án London tự bịt miệng để phản đối vụ bắt ông.

CHÚ THÍCH ẢNH 02:  tượng Thủ tướng Đức, ông Julian Assange, tổng thống Mỹ Obama  và thủ tướng Ý  bằng sứ bày bán tại Naples mùa Giáng Sinh 2010.

BÙ KHÚ TIÊN SINH 15

Đào Hiếu

15.TÊN TRỘM BÉ BỎNG

Thằng Tùng được thả về. Cái am nhỏ của nó lạnh tanh và im lặng. Nó đi kiếm con chó nhưng không thấy động tĩnh. Nó ra trước hiên nằm võng. Lúc ấy, từ xó kẹt nào đó, con chó bò ra, lấm lét, ngoắc đuôi cách yếu ớt. Khi Tùng bế nó lên, vuốt ve nó thì nó té đái và kêu ư ử.

Tùng bắc nồi cơm. Trong bếp không còn gì để ăn. Hình như có người nào đó từng ghé đây trong khi chủ vắng nhà và đã ăn hết những gì có được trong bếp.

Buổi trưa đó Tùng và con chó ăn cơm với muối.

Mấy ngày sau, Tùng hái rau trong vườn ăn độn với cơm. Nhưng gạo cũng hết. Túi không có tiền. Nó đi tìm một thằng bạn.

-Tao mới về. Có tiền cho ít đồng.

Bạn nó cũng là một thằng nhóc. Nó nói:

-Hôm nay thứ Bảy, các nhà giàu thường đi chơi weekend. Mày có dám làm với tao không?

Chúng đột nhập vào ngôi biệt thự lúc chạng vạng. Từ nhánh cây, chúng chuyền qua tường nhà, nhảy vô ban-công. Chúng chỉ cần hai cọng thép: một dẹp, một có ngoéo là mở được cửa. Mẻ lưới ấy chúng chỉ kéo được mấy con cá nhỏ. Ti vi tủ lạnh thì chịu thua, điện thoại di động thì họ mang theo người. Dân giàu không bao giờ để tiền mặt trong nhà. Chúng chỉ vơ được mấy con gà đông lạnh, đùi heo, xúc xích và một chiếc laptop cũ.

Khi chúng nó chuẩn bị leo ra thì bị người giúp việc phát hiện. Đó là một cô gái Miên to con. Cô ta la hét om sòm và xách chổi rượt, nhưng hai thằng nhỏ không sợ. Chúng đứng chống nạnh, cười, rồi ngoắc cô ta lại. Cô không la nữa mà thủ thế. Hai thằng nhỏ xáp lại từng bước. Chúng nói:

-Điện thoại của bà đâu?

Người giúp việc bỏ chạy xuống hầm để xe. Một con chó berger từ dưới đó phóng lên. Tụi nhỏ bỏ chạy. Mấy con gà đông lạnh rớt vung vãi trên bãi cỏ. Tùng chậm chân bị con chó phủ lên người. Thằng thứ hai đứng trên bờ tường, lấy xúc xích ném con chó nhưng đã quá muộn. Tùng bị chó cắn lọi cánh tay vì nó dùng tay để bảo vệ mặt.

Khi đưa đến bệnh viện, bác sĩ nói:

-Gãy hở, phải phẫu thuật.

*

Mấy ngày sau Bù Khú Tiên Sinh đến. Ông không nói gì. Chỉ vuốt ve nó. Nó hỏi:

-Sao bác được thả?

-Vì lúc khám nhà bác không có mặt.

Trưa đó tiên sinh đi bán cái xe Wave Alpha của mình, đóng tiền viện phí, mua thuốc và dẫn Tùng ra căn-tin ăn trưa. Ngày hôm sau nó xuất viện. Cánh tay bị băng bột lên tới vai, treo toòng teng dưới cổ.

Khi về đến nhà, nó hỏi:

-Bác ơi, con có lỗi, sao bác không la mắng con?

-Chẳng qua là bước đường cùng. Một thằng ăn trộm vặt vào nhà thằng ăn trộm lớn, có tội gì đâu?

-Thằng ăn trộm lớn nào?

-Cái biệt thự ấy là nhà của thằng ăn trộm lớn.

-Không phải đâu. Đó là nhà của chủ tịch phường.

-Chủ tịch phường làm gì mà xây được cái biệt thự hàng chục tỉ đồng như thế? Nó cũng ăn cắp thôi con ạ. Nhưng nó ăn cắp “trình độ” hơn con nhiều.

(CÒN TIẾP)

By daohieu Posted in Chưa phân loại

BÙ KHÚ TIÊN SINH 14

Đào Hiếu

14.NHỮNG KẺ SỐNG SÓT

Trong góc tối của một cuộc vui đã tàn Đào tìm thấy người đàn bà ấy. Cơn điên đã đi qua, bỏ lại những cái xác đẫm men rượu, phiêu hốt trong ảo giác ma túy nằm la liệt trên sàn nhảy. Cuộc thảm sát của tiết tấu, ánh sáng và chất kích thích đã bày biện trên chiến trường của nó những cá thể im lặng, nằm ngồi trong nhiều tư thế. Tất cả đang chìm đắm trong cõi riêng ma quỷ, đồng bóng.

Chỉ có Ngọc là tỉnh táo. Tâm hồn cô cạn khô như đáy một con sông đã bốc hơi trong sa mạc đổ lửa. Và cô ngối bất động như cây xương rồng tàn héo.

-Em ngồi với chị được không?

-Ngồi đi. Em đến đây làm gì?

-Em đi tìm chị. Mọi người đã bị bắt hết rồi.

-Vậy tìm chị để làm gì?

-Để cứu bố.

-Thế thì ai cứu mình? Có thể cứu được một xã hội quỷ quyệt không? Có thể thoát khỏi quyền lực của bọn Mafia không?

-Vậy phải làm gì?

-Chạy trốn.

-Trốn ở đâu?

*

Hai người đàn bà trẻ bước ra khỏi vũ trường lúc gần sáng. Đường phố ngái ngủ trong cơn gió bấc nhẹ nhưng cũng đủ rải những lá khô trên cao bay nghiêng nghiêng xuống. Bầu trời xám đục, vương vấn một chút sương mù. Có lẽ họ là những bộ hành đầu tiên của con đường. Họ đi chậm, đi lẩn vào buổi sáng, đi lẩn vào những cơn gió.

Một câu hỏi bất chợt:

-Em có biết là sắp đến ngày giỗ của chị Thúy không?

-Không. Ai cho chị biết vậy?

-Ka Anh.

-Ka Anh là ai?

-Là một trong những bà vợ của Bù Khú. Đó là một cô gái người dân tộc Châu Mạ.

-Nhưng người đàn bà ấy sẽ giúp được gì cho chúng ta?

-Chị đã bảo Ka Anh mua giúp chị vài ba mẫu chè. Bây giờ chúng ta sẽ đến đó. Năm ấy có lẽ Thúy đã bỏ đời, lên rừng sống với người Mạ và đã chết ở đó. Bố thường nói với chị rằng Châu Mạ là một tộc người nghèo khó nhưng đầy huyền thoại, và Ka Anh cũng là một huyền thoại.

-Nhưng bố đã kể với chị thế nào về Ka Anh?

*

Sáng hôm đó, khi gặp Ka Anh, Bù Khú đã quyết định tách khỏi đoàn nhà báo, một mình ở lại Bảo Lộc. Trưởng đoàn hỏi:

-Để làm gì?

-Tôi cần làm việc với một người nữa.

Lúc đó Ka Anh đang đợi Bù Khú tại một góc đường. Họ dong ruổi trên chiếc xe máy, qua nhiều ngọn đồi, nhiều vườn trà, băng giữa rừng sim để đến một con suối. Họ gởi xe ở nhà một người quen của Ka Anh và leo qua chiếc cầu làm bằng cây rừng. Họ đi bộ một lúc lâu thì đến một vùng sáng lòa như lửa cháy trải dài đến chân núi.

Nắng xế đã thắp trên từng bông cỏ may ngọn lửa của nó, tạo ra một đám cháy ảo giữa thung lũng. Ngôi nhà sàn của Ka Anh nổi vật vờ giữa đám cháy ấy. Nó nhỏ như một cái tổ chim và đã cũ kỹ, xám xịt, nhưng nó lung linh như vừa mọc ra từ đám sương mỏng của núi.

Ka Anh nói:

-Tối nay chúng ta sẽ nhóm một bếp lửa. Sẽ không có muỗi và sẽ đỡ lạnh.

Họ vùi một ít củ khoai trong tro nóng và uống chè xanh. Bù Khú nói:

-Những người khác sẽ viết về trà nhưng anh sẽ viết về em.

-Em có gì quan trọng đâu mà viết. Chỉ là một cô công nhân hái chè.

-Nhưng qua em người ta sẽ biết về đời sống, về số phận của người Châu Mạ ở đây, vì thế mà em rất quan trọng.

*

Mười bốn tuổi Ka Anh đã thích sống một mình. Cô mang gùi, cầm cây xà-gạt, đi vô rừng từ sáng sớm, qua mấy ngọn đèo, rẫy bắp, đồi sim, vườn trà và cuối cùng đến một con suối. Cô bé bước qua cây cầu khỉ làm bằng thân cây rừng để đến  ngôi nhà sàn bị bỏ hoang lâu ngày bên kia suối.

Năm năm đơn độc giữa rừng. Mỗi tuần gùi củ mài ra buôn làng đổi gạo, muối. Hai mươi cây số đường rừng. Đi từ sáng và về một mình trong đêm. Đi theo ánh sáng của bầy đom đóm. Âm thầm như con nai nhỏ. Như con chim bay về tổ.

Đó là thời gian cô sống bên kia suối. Thế giới của Ka Anh là bên kia suối.

Nhưng năm mười chín tuổi cô đã đi theo tiếng gọi của trần tục mà về sống với con người bên này suối, nên bất hạnh đã vây phủ cô.

Nó đến trong đêm, khi Ka Anh đang ngủ, chợt cảm thấy có ai nằm cạnh mình, quay lại, bị hôn ngay miệng. Đó là một gã thợ rừng. Cô bỏ chạy ra suối rửa mặt, súc miệng.

Khi gã người kinh ấy ngỏ lời cầu hôn, gia đình Ka Anh hỏi : “Cha mẹ đâu ?” Anh ta nói mình lớn lên trong trại mồ côi. Không biết quê quán. Không biết cha mẹ.

Ka Anh hỏi Bù Khú:

-Sao người kinh hay nói dối vậy?

-Sao biết hắn nói dối?

-Vì em lấy được chứng minh nhân dân của anh ấy. Quê ở Thái Bình. Cha mẹ đều còn sống.

-Vậy sao em cũng lấy nó.

-Em nghĩ là nó thương em. Chị em hứa: mày lấy Ka Anh tao cho mẫu chè.

Nó chịu. Nhưng đêm tân hôn nó bỏ đi nhậu với tụi thợ rừng. Em nằm một mình buồn quá. Khóc. Nửa đêm ra ngoài tìm chồng. Đi ngang nhà thờ nghe tiếng thánh ca. Đó là lần đầu tiên em không hát cho ca đoàn trong đêm Giáng Sinh. Mà lại lang thang trong đêm tối.

Hồi ở trong rừng em vẫn hay đi một mình trong đêm tối như vậy. Chợt sống lại cảm giác ấy. Không buồn nữa. Đứng dưới bóng cây mà hát. Rồi cứ thế, đi và hát trong đêm. Không một ai trên đường. Không một ai trong buôn làng còn thức. Chỉ có Đức Chúa Trời nghe em hát như ngài vẫn thường nghe em hát trong nhiều năm dưới mái nhà của Người.

Hai mươi tuổi Ka Anh có bầu. Người chồng bán mẫu chè và bỏ đi biệt tích. Ka Anh lại vô rừng ở lần thứ hai. Không tiền bạc. Không của cải. Nhưng rừng là nhà của cô. Vẫn còn những củ mài, măng tre, lá bép và suối.

Nhà của Ka Anh ở lưng chừng đồi. Nó mảnh khảnh và tơi tả.

Buổi sáng lại gùi củ mài và măng ra buôn đổi thực phẩm. Vẫn hai mươi cây số đường rừng. Trở về trong đêm. Cọp thường ngủ trong đồi sim. Nhưng cọp cũng thích nghe Ka Anh hát. Giống như lời ru. Ru được cả thú dữ. Con đười ươi, con gấu, đến con rắn cũng thích nghe Ka Anh hát. Chúng thân thiện với cô như trong cổ tích.

Chỉ có con người là mang mầm mống của sự bất trắc. Hai thằng con trai đứng chặn đường ngay đầu cầu. Cây cầu khỉ bắc qua suối.

“Đưa trái thơm thì cho qua.”

Trong gùi của Ka Anh có gạo. Và hai trái thơm. Cô lấy một trái, cầm cái cán như cầm quả chùy.

“Có phải trái này không?”

“Hai trái mới được.”

“Vậy tôi đếm đến hai nhé. “

Và đếm : Một… Tiếng « hai » chưa kịp thốt ra thì một gã con trai đã văng xuống suối. Gã còn lại ngoan ngoãn tìm cách kéo đồng bọn lên.

*

Nhưng lại có một gã to con hơn. Râu quai nón, tóc dài. Gã không chặn đường. Không chọc ghẹo. Gã theo dõi. Lén lút. Giấu mặt. Ban đầu Ka Anh rất sợ. Lần thứ ba, lần thứ tư vẫn không ra mặt. Khi thì theo sau, khi đi song song, lẩn trong cây rừng, khi ẩn hiện phía trước, có lúc từ trên ngọn cây cao nhìn xuống.

Nhiều tuần trôi qua như vậy. Ka Anh không còn cảm thấy bị đe dọa. Gã giống như người được thần rừng sai đi bảo vệ cho cô. Ngay cả trong đêm, cô không thấy hình dáng của gã nhưng những tiếng động gã gây ra cũng rất quen thuộc. Vì không sợ nữa nên cô lại hát. Có thể gã không phải là người. Vì làm sao lại có người bỏ công theo đuổi suốt ngày đêm như vậy? Chẳng lẽ đó là một gã tình si?

Lại có khi Ka Anh rình gã. Thấy gã từ trên ngọn cây nhảy xuống, nhanh như một con vượn. Râu tóc rất dài. Nhưng mặt là mặt người. Một người đàn ông cao lớn và cũng có thể gọi là đẹp trai. Đến khi gã phát hiện mình bị theo dõi thì trốn biệt. Biến mất trong rừng dày. Suốt một tuần không hề thấy tăm hơi. Chỉ có một lần Ka Anh tắm suối. Cô để ngực trần. Và hát vang cả rừng núi. Chợt nghe tiếng động trong nhánh cây thấp. Cô ngừng hát. Nhưng vây quanh cô chỉ là những tầng tầng lớp lớp lá rừng dày đặc. Rừng cũng đang nín thở, nghe ngóng.

Cô nghĩ rằng gã đã bỏ đi nơi khác rồi. Và từ đó cô không bận tâm đến gã nữa.

*

Có một ngày Ka Anh thấy thèm chua. Mà ổi thì mới ra hoa. Trong rừng không có quả gì. Cô đi lang thang bên suối tìm lá giang nhưng không có. Chỉ gặp một bụi lá bứa chua chua chát chát. Nhưng rất là ngon. Ăn một bụng, còn để dành cho ngày hôm sau.

Nhưng hôm sau đến thì thấy một con bò rừng đang ăn khóm lá bứa của mình. Nó to quá. Không đuổi đi được. Đành phải chạy đến tranh ăn với nó.

Và hôm sau nữa thì không còn gì để ăn.

Cơn thèm chua lại đến. Cô vuốt ve cái bụng bầu của mình. Con ơi. Mẹ đói như thế này thì làm sao con no được?

Ngày kia có một chàng trai lạ bơi qua suối.

Anh ta nhìn thấy một cô gái hai mươi tuổi, mang bầu và ở một mình trong rừng. Lễ vật của chàng là một nửa gùi sim chín. Chàng hái sim trên đồi cù.

“Cô ở đây có một mình sao?”

“Tôi thích ở một mình.”

“Chồng đâu ?”

“Không có chồng.”

“Sao có bầu ?”

“Con của rừng đấy.”

Hôm sau chàng trai lại đem đến một nửa gùi bắp. Lần thứ ba là muối. Chàng trai rủ Ka Anh đi hái sim. Họ đi từ sáng và đến đồi cù vào giữa trưa. Sim dày đặc, trái chín đen cả một vạt rừng. Gió mát quá. Ka Anh len lỏi giữa những bụi sim cao ngang mặt. Hai người tung tăng như hai con nai nhỏ hồn nhiên.

Chợt nghe tiếng thở của con thú lớn. Một con cọp đang ngủ say. Chàng trai cầm cái xà-gạt thủ thế. Ka Anh lùi lại. Nhưng không sợ. Cô thấy con cọp cũng hiền lành khi nó ngủ. Chàng trai nói:

“Cô giữ cái đuôi đi. Tôi sẽ cho nó một nhát.”

Ka Anh thích trò chơi đó. Cô chụp lấy cái đuôi con cọp. Nó giật mình thức dậy. Gầm lên một tiếng. Nanh vuốt giương ra hết cỡ. Chàng trai ném cây xà-gạt bỏ chạy.

Ka Anh không còn sự chọn lựa nào ngoài việc giữ chặt cái đuôi khủng khiếp của con mãnh thú. Người và thú xoay vòng tròn. Cô gồng mình, mười ngón chân cày xới mặt đất tóe máu. Mặt đất cũng rách nát.

Quần áo Ka Anh thì tả tơi, tóc bê bết mồ hôi, sợi dây chuyền bằng hạt cườm đứt tung, vung vãi trong cỏ gai. Cô bắt đầu đuối sức nhưng không dám buông tay vì buông tay là chết. Trong giây phút tuyệt vọng ấy một đám thợ rừng xuất hiện, la hét. Ka Anh buông cái đuôi ra, ngã quỵ trên vòng tròn nham nhở đất cát.

Cọp phóng vào rừng.

Cô lại trở về căn nhà sàn tả tơi của mình.

Một đêm trăng mờ, chàng trai hôm trước lại bơi qua suối. Lần này anh ta không đem theo quà. Lặng lẽ bước lên cầu thang, ngồi xuống bên bếp lửa. Ka Anh đang khâu lại cái xà rông rách nát do quần nhau với cọp hôm trước. Hai ngưòi đều không nói lời nào. Cuối cùng chàng trai mở lời.

“Anh có lỗi với em.”

Im lặng.

“Hãy cho anh ở lại đây đêm nay để giữ lửa cho em.”

“Về đi!”

“Hãy cho anh ở lại.”

“Tôi bảo anh về!”

“Nếu không về thì sao?”

Ka Anh ném cái xà rông xuống sàn nhà. Hỏi:

“Anh nghĩ gì về một cô gái dám sống một mình trong rừng?”

“Anh thương em.“

“Bây giờ anh có đi về không?”

“Hãy cho anh ở lại.”

Ka Anh bước lại phía vách lá, đẩy cánh cửa sổ.

Không phải ánh trăng lùa vào. Không phải gió lùa vào. Mà một đàn dơi rừng như cơn bão đen từ địa ngục lùa vào.

Chàng trai biến mất trong chớp mắt. Chỉ còn là một khối đen có cánh, lúc nhúc và rối rít. Cái khối đen ấy lăn tròn xuống cầu thang.

Đàn dơi tung mình lên. Lấp lánh ngàn đôi cánh của bóng tối.

Chàng trai nằm bất động. Ka Anh lại ngồi bên bếp lửa, tiếp tục vá cái xà rông. Một lúc sau, cô nghe tiếng bước chân dẫm trên lá khô. Và tiếng một con chim tu hú kêu trong rừng sâu.

*

Cái thai vẫn tồn tại sau trận ác chiến với con cọp nhỏ. Đến ngày, Ka Anh về buôn ở với mẹ. Nửa đêm bụng đau thắt. Mẹ bảo cô ngồi xổm, hai tay nắm chặt thành giường. Đứa con ra đời, được cắt nhau bằng một sợi chỉ.

Ba tháng sau Ka Anh lại đưa con vào ở trong rừng. Ở được một tháng thì có cơn bão đến. Rừng núi chuyển động. Đồi chè chuyển động. Ngôi nhà sàn lắc lay như cái tổ chim. Mưa trút xuống giận dữ. Trời gầm thét. Và núi cũng  đáp lại bằng những tiếng rú.

Căn nhà sàn bay xuống đồi như một chiếc lá khô. Vừa bay vừa xoay vòng. Ka Anh gùi con sau lưng, ôm lấy cột nhà. Và bay đi như đang cưỡi lên một cánh diều. Cô nghĩ rằng hai mẹ con sẽ bị ném xuống hẻm núi và sẽ chết. Cuối cùng cô quyết định mở cánh cửa. Ôm con trước ngực. Và lao ra ngoài.

Hai mẹ con lăn lóc trên sườn đồi. Tấp vào những bụi chè. Và sống sót.

Sau cơn bão, những người hái chè quanh đấy xúm lại dựng tạm cho cô một túp lều. Lều cất xong, các chàng trai trong buôn săn được một con đỏ, làm tiệc. Ka Anh đi hái mồng tơi được một rổ đầy, đem rửa bên bờ suối. Bọn thanh niên xúm lại vừa nhặt rau vừa chơi trò bóp trái mồng tơi quẹt lên mặt, đùa giỡn náo động cả một góc rừng.

Bỗng nhiên nghe tiếng khóc. Già Làng hỏi:

“Đứa nào khóc?”

Ông chạy ngược lên đầu suối, thấy hoa mồng tơi trôi đầy trên mặt nước. Trên hòn đá chỉ còn mình Ka Anh ngồi khóc, xòe hai bàn tay che lấy ngực. Già Làng hỏi:

“Ai làm gì?”

“K’ Đùng bôi mồng tơi lên ngực con.”

Già Làng chỉ cười, lội xuống suối vớt cái rổ rau lên.

“Nín đi.“

Nhưng Ka Anh tức quá không nín được.

Buổi tối khi mọi người đã về hết, còn lại một mình với rừng đêm, cô thấy mình sống lại, thanh thản, tự do giữa trời và đất, giữa mây và núi. Đứa con đã ngủ yên bên bếp lửa. Ka Anh đi chân đất, bước xuống các bậc thang. Bàn chân dẫm trên những lá cỏ ướt. Mặt đất phẳng lặng.

Ban sáng bông cỏ may có màu tím đỏ, xế chiều nó cháy rực lên như lửa. Còn bây giờ dưới ánh trăng mờ đục, bông cỏ may tỏa ra một vùng sáng bạc hư ảo, chập chờn, lãng đãng như sương khói. Đó là thế giới của cô. Lặng thinh, tĩnh mịch, thầm kín, riêng tư. Nhưng mà không phải riêng tư. Vì cô đang sống với rừng, với bông cỏ may, với tiếng suối thủ thỉ bên cạnh. Cho nên riêng tư mà cũng giống như là hòa nhập, kết nối, ôm ấp, trao gửi. Như cô đang ngã người vào vòng tay của cỏ may để đón nhận sự vuốt ve của những cánh lá mỏng, để hít cái bồng bềnh của sóng gió trắng đục, để nghe lời ru vụng về mà âu yếm của con nước vô danh dưới lũng thấp.

*

Phía dưới thung lũng có tiếng con nít la lối. Hình như đoàn văn công ở tỉnh về. Ka Anh đang hái chè, bỏ gùi chạy ra xem, mới biết là có bốn người Fulro bị bắt, đem từ trong rừng về. Một đàn ông, một đàn bà và hai đứa con nít. Bọn họ và mấy người dân quân xã ngồi nghỉ mệt bên những gốc mít.

Ka Anh rẽ đám đông, thò đầu vô xem. Tức thì chạm phải một khuôn mặt râu tóc dài như người rừng. Và một đôi mắt buồn, khắc khoải. Đó là đôi mắt đã từng theo dõi cô trong rừng, phía sau, phía trước, trên ngọn cây…bất kể ngày đêm, bất kể mưa nắng. Đôi mắt ấy đang nhìn cô trân trối. Một đôi mắt đẹp. Một cái nhìn tuyệt vọng.

Người đàn bà ngồi cạnh ông thì ốm yếu và thất thần. Chỉ có hai đứa con nít thì lanh chanh như hai con khỉ nhỏ. Chúng đứng nhăn răng cười, chỉ tay vô bụng. Có người đưa cho chúng mấy viên kẹo, chúng đưa lên mũi ngửi, xé viên kẹo ra nếm rồi nhăn mặt vứt đi. Người nọ lại đưa một ổ bánh mì. Một đứa chụp lấy, nhảy tót lên cành cây, đu mấy cái đã ở tít trên ngọn mít. Đứa còn lại phóng theo, chuyền cành nhanh như vượn, tiếng kêu “khẹt khẹt” phát ra từ cổ họng chúng. Hai đứa đuổi nhau trên ngọn cây, giành ổ bánh mì. Cuối cùng đứa nhỏ thua. Nó ngồi trên cành cây, nhìn đứa lớn gặm ổ bánh, rồi chợt nó bẻ một cành mít nhỏ đưa lên miệng, gặm lớp vỏ cây, ăn ngấu nghiến.

Hai đứa trẻ đã được sinh ra, lớn lên trong rừng. Và đây là lần đầu tiên chúng biết đến xã hội loài người.

*

Ngày nọ Bù Khú chở Ka Anh trên xe máy đi về phía thác Đam-ri. Họ phải vượt qua một con dốc rất cao mới tới được làng Tul. Trên đỉnh dốc là một vùng đất bằng phẳng vàng cháy và trơ trụi. Bù Khú không thể tưởng tượng được rằng giữa vùng rừng núi bạt ngàn này lại có một ngôi làng cằn khô như thế. Như ốc đảo trong sa mạc. Như một thị trấn hoang sơ của miền viễn tây Hoa Kỳ cách đây 200 năm.

Hai bên con đường đất bụi mù là những ngôi nhà gỗ lụp xụp ủ rũ dưới nắng cháy. Những ngõ cụt màu nâu đỏ mất hút sau các vách ván so le, vỡ nát, thủng lỗ. Không một bóng người. Không tiếng chim. Không tiếng heo gà. Làng Tul lạnh lẽo dưới nắng chói.

Rồi đột nhiên hàng chục đứa trẻ từ trong các ngõ ngách hiện ra. Đứng như trời trồng, Không nói. Không cười. Không cử động. Chỉ thấy những cái bụng ỏng và những cặp mắt đầy ghèn.

Mình đang lạc vào thế giới nào vậy?

Những đứa trẻ như vừa mọc ra từ đất. Chúng như những bụi xương rồng lùn tịt, khẳng khiu trên cát nóng. Chúng đang thủ thế với mình hay đang chào đón?

Dường như sắp xảy ra một cuộc đấu súng.

Những chàng cao bồi nhỏ áo quần rách rưới, ruồi đậu quanh mép. Còn Bù Khú thì toát mồ hôi. Không ai có súng cả. Dường như đó là một sự căng thẳng giả tạo. Cũng có thể đó chỉ là một sự ngạc nhiên kéo dài.

Ka Anh nói một câu gì đó bằng tiếng dân tộc.

Ngay tức khắc đám trẻ con chạy ùa đến vây lấy Bù Khú. Tiên sinh ngồi thụp xuống, mở cái bao vải to tướng ra. Ông vội quá, nên quà không có gì ngoài những bao xì-nách. Một trăm bao cũng không thấm tháp gì.

Mấy con gà mái không biết từ đâu cũng chạy đến. Năm ba con chó vàng và heo mọi ốm nhách.

Dưới gầm ngôi nhà sàn thường là để nhốt trâu bò nhưng dường như đã lâu lắm người ta không dùng đến cái khoảng trống đó. Mặt đất trong chuồng nham nhở. Không có cỏ, cũng không có rơm khô. Cả phân bò cũng không có. Sự sống đang tàn lụi, đang co rúm lại, quắt queo như một trái cây chưa kịp chín đã khô héo.

Ngôi nhà sàn này khá dài và có một cầu thang đi lên. Tỏa ra hai bên là những khoảng trống u ám của những vách lá mục nát đen nhẻm bị hun khói hàng chục năm bởi những bếp lửa phân chia từng gia đình một.

Bếp lửa cũng đã tắt ngấm. Đặt bàn tay lên tro than thấy lạnh tanh. Những que củi cháy dở nằm ngổn ngang như xác chết nám đen trên chiến địa.

Nhìn lên mái thấy hàng trăm cái lỗ thủng. Thấy có đám mây dửng dưng bay ngang qua. Thấy gió phe phẩy những lá mục. Vách ngăn giữa các gia đình làm bằng bao bố kết lại. Cũng đã tả tơi.

Nhưng đây không phải là cái nhà sàn bỏ hoang. Vẫn có mấy bộ quần áo treo trên vách. Mấy cái bầu khô. Xà gạt và gùi. Những cư dân này đang ở trong rừng. Họ không có chè để hái, không có cà phê để hái, không có bắp để hái. Họ hái củi. Bó từng bó lớn, mang trên vai, gùi trên lưng. Đi bộ mấy chục cây số. Hai bàn chân bè ra. Nứt nẻ. Chai cứng. Băng rừng ra đến chợ. Kiếm được hạt gạo sao mà khốn cùng vậy!

*

Trưa đó Ka Anh chở Bù Khú về khách sạn của ông. Bù Khú nói:

-Em lên phòng chơi một lát không?

-Em phải đi.

-OK. Vậy thì cám ơn em nhé. Sáng sớm mai anh về Sài Gòn. Tạm biệt.

Ka Anh quay xe đi, nhưng dừng lại.

-Thôi được, em lên chơi một lát.

Bù Khú nói:

-Em tắm đi. Mình đã chạy suốt buổi sáng ngoài nắng và bụi.

Ka Anh tắm rất nhanh và khi trở ra cô chỉ quàng một chiếc khăn tắm. Bù Khú nói:

-Em nằm nghỉ đi. Đến lượt anh.

Nhưng khi Ka Anh nằm xuống thì Bù Khú ngồi xuống mép giường. Tiên Sinh hỏi:

-Đã nhiều năm rồi em không quan hệ tình dục phải không?

Ka Anh gật đâu. Bù Khú nằm xuống bên cạnh nhưng Ka Anh quay lưng lại ông.

-Chỉ nằm chơi thôi. Không được làm gì.

Nhưng trưa hôm đó họ đã làm tất cả những gì mà Ka Anh gần như quên lãng trong suốt mười năm trời.

*

Ngọc tìm thấy số điện của Ka Anh trong máy của Bù Khú nhưng cô không liên lạc được. Về sau này cô mới biết là Ka Anh thường vào rừng nên máy của cô ở ngoài vùng phủ sóng.

Đào nói:

-Để em gọi thử.

Chuông reo.

-A lô! Em là người nhà của Bù Khú đây. Tụi em đang ở khách sạn Bảo Lộc, muốn gặp chị.

Một tiếng đồng hồ sau Ka Anh đến bằng xe máy.

-Các bạn lên chơi hay có chuyện gì?

-Tụi em đi thăm mộ chị Thúy.

-Bù Khú đâu?

-Đã bị bắt.

-Sao các bạn lại bỏ đi?

-Vì chán đời. Người kinh không tốt đâu chị ạ. Họ thường làm hại nhau nên tụi này không muốn ở với họ nữa. Hãy dẫn tụi này vô rừng đi.

Ba người ra chợ, mua các thứ cần thiết cho một cuộc sống đơn giản rồi vô rừng.

*

Buổi tối ba người đàn bà lại ngồi bên bếp lửa. Ngọn lửa đó đã có từ lâu lắm, nó đi theo gót chân người Mạ, vượt những cánh rừng, những ngọn đồi, những nương rẫy để về nằm ngoan trong ngôi nhà sàn. Người Mạ đã thuần hóa lửa, nuôi nấng nó, dạy cho nó nhảy múa, reo vui và giận dữ. Lửa ấm áp và thân thiện. Lửa là người bạn của Ka Anh trong suốt thời thơ ấu, nó hiền lành, nhỏ bé như khóm hoa của đêm với những cánh mỏng rạng rỡ tỏa sáng giữa bóng tối của rừng và lộng lẫy trong sự nghèo khó.

-Đó là một buổi sáng lạnh lẽo. Ka Anh nói. Khi tôi ngồi may áo bên bếp lửa thì nghe có tiếng bước chân người. Tôi ra đứng đầu cầu thang, nhìn thấy Bú Khú và một người nữ mảnh khảnh đang hiện dần ra trong sương mù. Đó là Thúy. Chị mặc quần jeans và một cái áo gió màu khói, cổ quấn chiếc khăn len trắng. Tôi đã được báo trước nên không bất ngờ. Tôi bước nhanh xuống những bậc thang, đi qua đám cỏ may. Thúy đưa tay cho tôi nắm, bàn tay trắng xanh, mảnh khảnh như một cành lau nhỏ. Nhưng Thúy rất đẹp. Thúy tràn ngập cả buổi sáng tĩnh lặng, làm ửng hồng cả một vầng sương sớm đang la đà trên mặt cỏ ướt. Nhưng hôm đó Thúy rất buồn, vẻ đẹp của chị ấy nhạt nhòa trong hoa cỏ, thấm đẫm vào những ngọn gió se thắt. Tôi cảm nhận được sự mong manh thảng thốt trong vẻ đẹp ấy, nó như đang ở trong ranh giới của sự hòa nhập vào cây cỏ, vào mây núi, vào tĩnh mịch. Cho nên Thúy bước đi như một cái bóng lãng đãng, phiêu hốt. Tôi không dám hỏi, không dám chào, không dám kinh động. Ba người chúng tôi đi rất chậm như thế trong sương mù, băng qua đám cỏ may, đến sát những bậc thang. Tôi hỏi:

“Chị lên được không?”

“Được, Thúy nói, chị không sao đâu.”

Nhưng Bù Khú đã ngồi xuống và ra hiệu cho Thúy ôm cổ. Bố cõng Thúy bước từng bước lên những bậc cấp đẽo từ một thân cây rừng to lớn. Rồi ba chúng tôi cũng ngồi quanh bếp lửa giống như bây giờ ba chị em mình đang ngồi.

Bố treo hộp đựng thuốc trên vách lá và xếp những đồ dùng cá nhân của hai người trên sàn ván. Tôi hỏi:

“Sao lại chọn nơi này?”

“Chị đã nằm mấy tháng ở Trung Tâm, sau đó bố đi tìm chị và đưa về nhà nhưng chị chỉ muốn gần thiên nhiên. Bố muốn đưa chị về quê nhưng chị sợ gia đình bị tai tiếng. Bố nói: thôi lên ở với Ka Anh.”

Tôi rất vui vì được gần bố và được chăm sóc chị. Tôi đã xây cho chị một phòng tắm ở ngay trên nhà sàn nhưng Thúy nói chị có thể theo tôi ra suối tắm được. Khí hậu ở đây trong lành mát mẻ sẽ thích hợp cho chị. Chúng tôi có những vườn chè xanh và một ngọn đồi thấp ở sau nhà có nhiều hoa dại. Biết đâu chị có thể hồi phục.

Thúy nói:

“Chị không hồi phục được đâu. Chị sẽ chết nhưng sẽ được chết bên cạnh bố và em, và cỏ cây, mây núi, và suối rừng. Có thể linh hồn của chị sẽ được thanh thản.”

*

Mộ Thúy chỉ là một nấm đất nhỏ mọc đầy cỏ dại. Nó nằm trên một trái đồi thấp phía sau căn nhà sàn của Ka Anh. Ngôi mộ đang nhìn về đâu, nhìn lên núi hay nhìn xuống căn nhà sàn nơi Bù Khú đã từng ở, hay đang ngước lên bầu trời dày đặc mây?

Trời sáng nhưng không có một chút nắng, mây cuồn cuộn giăng im lìm trên những đỉnh núi, trên những hàng cây xanh sậm và đầy bóng tối. Những đám mây không bay đi, chúng đã ở lại khoảng trời này trong nhiều năm nay kể từ khi Thúy chết, kể từ khi Bù Khú rải nắm đất cuối cùng trên mộ người tình xót xa của mình. Những đám mây chứng kiến cuộc chia tay ấy và đã khô héo, đã không còn sức để bay đi.

Thúy có thanh thản không trong chuyến ly biệt dài ấy? Đời cô bạc mệnh như đóa hoa lan tinh khiết rơi rụng giữa dòng đời khắc nghiệt. Chỉ có một chút tình ngắn ngủi với người đàn ông khinh bạc ấy, không đầy hai năm, với chút hạnh phúc mong manh, thoi thóp giữa gió bụi. Những ngày cuối cùng Thúy không cho Bù Khú gặp mặt. Ông phải đứng bên ngoài cái mành tre. Thúy đưa cánh tay ra ngoài và ông cầm lấy. Ông hôn hít, ông nhỏ những giọt nước mắt cuối cùng của đời mình lên bàn tay ấy. Những ngón tay còn rất đẹp, lòng bàn tay còn mềm mại. Đó là bộ phận duy nhất mà Thúy còn đủ can đảm đưa ra trước mặt Bù Khú. Ông van xin: “Thúy ơi, anh không ngại thấy em xấu xí đâu. Anh muốn ôm em. Anh muốn ôm em.” Rồi ông khóc thút thít, sụt sùi, nức nở. Thúy hỏi: “Bàn tay của em có còn đẹp không?” “Đẹp lắm. Em là cô tiên đi lạc xuống trần gian, sao em có thể chết được.”

Nhưng tối hôm đó Thúy đã qua đời. Qua đời để đi đến đâu? Hay em vẫn ở lại chốn rừng núi bao la này? Em đã tan rã hay em vẫn nằm ngủ yên trên ngọn đồi đầy cỏ may rực rỡ?

*

Ngọc quỳ trước mộ Thúy, khấn vái:

-Đời em cũng bất hạnh như chị vậy Thúy ạ. Em sợ hãi cuộc đời. Cả Đào, tuy mới ngoài hai mươi tuổi mà cũng đã nếm trải nhiều cay đắng, và Bù Khú nữa. Chúng ta là những kẻ sống sót và đang chạy trốn khỏi cơn lũ man rợ của xã hội ngoài kia. Và Ka Anh nữa. Chị ấy là hòn đá lăn xuống triền dốc, vượt qua gai góc, cát bụi để đến đây cùng chúng ta quây quần dưới mái nhà sàn nghèo nàn này. Có phải đó là định mệnh không? Có phải chúng ta là những tàn binh của một cuộc chiến không cân sức, từng ói máu tươi trong cuộc tàn sát, bị vùi dập khốc liệt, đi xiêu đổ trong tro than để sống sót?

Ngọc ngước lên trời, gởi lời nhắn vào những đám mây.

-Bù Khú ơi! Bao giờ thì anh về lại chốn này?

(còn tiếp)

By daohieu Posted in Chưa phân loại

BÙ KHÚ TIÊN SINH 13

Đào Hiếu

13.HÔN LỄ MAN RỢ

Ngôi biệt thự cũ được sơn lại màu trắng, trang hoàng đơn giản. Dàn nhạc chỉ có một cây piano và một vĩ cầm. Tiếng nhạc cất lên lúc mười giờ sáng.

Chủ hôn là Giám Đốc và Bù Khú Tiên Sinh, không có phù dâu và phù rể, chỉ có đám con nít gồm hai đứa con của Ngọc, Nhung và bé Đào cùng mấy đứa bạn của chúng nó đi lại tung tăng, đùa giỡn. Nhạc cũng tùy hứng: nhạc Xuân, nhạc  Giáng sinh, Mozart hoặc nhạc Country.

Có vài người khách mời là quan chức trên ủy ban quận, công an, tổ dân phố.

Giám Đốc không muốn giới thiệu mình nhưng nhìn cái cách cung kính của đám hầu cận ai cũng biết ông là người có địa vị cao. Ông ngồi cùng bàn với Bù Khú Tiên Sinh và mấy quan chức trên thành ủy mới đến.

Bỗng nhiên nhạc nổi lên tưng bừng, một điệu rock vui nhộn, hình thành giữa sân là một đám nhảy náo nhiệt.

Cô dâu chú rể còn mai phục trong buồng kín để nghe kịch bản và dợt lại vài nghi thức. Ngọc đẹp, Bảo cũng đẹp. Tối qua Bù Khú dặn Đào:

“Con cũng phải diện thật đẹp. Chú không muốn con thua sút cô dâu.”

“Nhưng để làm gì?”

“Để tặng vẻ đẹp ấy cho bạn trai của con.”

“Con không có bạn trai.”

“Vậy hãy tặng cho con gái của con.”

“Nó mới được bảy tháng tuổi, nó chỉ biết bú mẹ thôi.”

”Vậy hãy tặng nhan sắc ấy cho người con thương yêu.”

“Người đó là chú.”

Hai người lại nằm trên võng. Đó là cõi riêng của họ. Một già một trẻ. Một cõi vô thanh, tĩnh mịch.

“Tại sao con lại yêu một người già như chú?”

“Vậy tại sao chú lại yêu một đứa con nít như con?”.

Vì đó là hạnh phúc. Vì đó là trời và đất, là sự giao phối giữa gió và biển cả, giữa mây và núi.

Lúc ấy điện thoại của Đào reo lên.

“Cho chị nói chuyện với bố.”

“Sao chị không gọi vào máy bố?”

“Vì chị biết bố đang ở bên em.”

Bù Khú tiếp lấy điện thoại.

“Anh nghe”

“Em xin lỗi.”

“Vì sao?”

“Vì em đã hứa sẽ lấy anh.”

“Không sao. Em chưa nghe hết chuyện của hai mươi bảy bà mà.”

“Dạ. Nhưng em biết là anh nói đùa. Anh không còn bà nào nữa đâu. Có nghĩa là em đã nghe hết chuyện các bà vợ của anh rồi nhưng em biết anh rất yêu bé Đào, em không có chỗ để xen vào.”

“Thì sao?”

“Thì chúc anh hạnh phúc.”

“Anh cũng chúc em hạnh phúc.”

Bù Khú đưa điện thoại cho Đào.

“Ngọc chúc chú và con hạnh phúc. Chú cũng chúc Ngọc như thế.”

*

Nhạc dứt. Và đám khiêu vũ cũng dừng lại. Giám Đốc không muốn phát biểu nên nhường cho Bù Khú.

-Thưa bà con hai họ…

Tiên Sinh không quen nói, ấp úng một lúc rồi mới giới thiệu khách mời và tuyên bố hôn lễ bắt đầu. Tiên Sinh và Giám Đốc, hai người đứng hai đầu bàn thờ.

Cô dâu và chú rể từ phía trong bước ra. Cô dâu mặc áo soirée trắng, khép nép nhưng thanh thoát.

Họ là một cặp rất đẹp. Sang trọng, trang nhã và rực rỡ. Họ đứng bên nhau, làm lễ bàn thờ gia tiên rồi quay sang làm lễ thân sinh. Bảo vái Bù Khú, Ngọc vái Giám Đốc. Nhưng khi cô cúi xuống thì cô nhìn thấy hai bàn tay của Giám Đốc đang run rẩy. Ngạc nhiên, Ngọc ngước lên và chạm phải một gương mặt.

Đó là gương mặt của Nghiệp Chướng. Nó không xương xẩu như mặt thần chết, nó không nanh ác như mặt quỷ Sa Tăng, không trắng bệt như Ngạ Quỷ…Nó tái mét, thất thần, hoảng sợ. Ngọc cũng hoảng sợ. Cô quỵ xuống. Mọi người ai cũng nghĩ rằng cô đang sụp lạy bố chồng nhưng không thấy cô đứng dậy. Cho đến lúc Bảo đến đỡ vợ dậy thì cô ngửa mặt lên trời, bật cười.

-Oan nghiệt! Sao không giết tôi đi!

Rồi Ngọc bỏ chạy vào trong. Tất cả im lặng. Không ai biết chuyện gì. Bảo cũng ngơ ngác. Anh chạy theo vợ. Ngọc đang cởi bỏ áo cưới, mặc bộ đồ jeans thường lệ. Cô đang ngồi tại bàn trang điểm. Cô đang tẩy trang. Bình tĩnh, chậm rãi và lì lợm.

-Chuyện gì vậy?

-Không có gì.

-Anh có lỗi gì sao?

-Anh không có lỗi gì. Anh và em đều đáng thương như nhau. Anh đã có một người cha khốn nạn. Hắn chính là Sếp Lớn của em khi em còn làm nhân viên mát-xa. Hắn đã cưỡng hiếp em ngay trong phòng của hắn.

Bảo hét lên:

-Im đi!

Tiếng thét làm vỡ tung hôn lễ. Tiếng thét xô dạt mọi người ra khỏi khuôn viên ngôi biệt thự màu trắng. Tiếng thét làm đứt phực bốn sợi dây của chiếc vĩ cầm. Nắp thùng piano đóng sập xuống. Những đứa trẻ ăn mặc như thiên thần bắt đầu khóc.

Giám Đốc biến mất như một kẻ trộm. Ông lái xe ra cổng sau, suýt tông vào cánh cửa cổng. Nhưng vừa ra đến đường thì một giọng nói đã vang lên từ sau lưng:

-Tấp vô lề!

Giám Đốc ngoái lại, chạm phải hai ngọn lửa từ tròng mắt của một chàng trai.

-Đừng nóng. Ba sẽ giải thích.

Nhưng cú đấm đã đi trước lời giải thích khiến ông phải thắng gấp. Giám đốc bị bể trán, máu rịn xuống mí mắt.

-Mày muốn gì? Tao sẽ nhốt mày bây giờ.

-Ông dám không? Tại sao ông cưỡng hiếp vợ tôi?

-Lúc đó nó chỉ là nhân viên của tao.

-Nhưng ông đã gây ra bao nghiệp chướng. Tại sao ông bỏ mẹ tôi? Ông có biết vì sao mà bé Nhung nghiện ma túy không? Nó là con nghiện trong khi cha nó buôn bán ma túy, cha nó là chủ vũ trường, chủ khách sạn, chủ bia ôm. Ông vừa là cán bộ cao cấp vừa là chủ chứa. Ông dám nhốt tôi không?

Giám Đốc lấy khăn tay thấm máu.

-Ba xin lỗi. Để ba đưa con về.

-Không cần. Tôi gặp ông lần này chỉ để nói: ông vĩnh viễn không bao giờ là cha tôi. Ông là một thằng đê tiện!

*

Trong tiệc cưới chỉ còn lại Bù Khú ngồi tiếp tục uống rượu một mình nơi chiếc bàn lẻ loi.

Đêm đến, chỉ có một ngọn đèn nhỏ dưới bếp, le lói như con đom đóm lạc bầy. Những cái bàn trống, không có thức ăn. Những ngọn nến trên bàn thờ gia tiên đã cháy hết, đã tàn lụi. Rượu trong bình cũng cạn. Nhưng Bù Khú không dậy nổi. Ông gục mặt trên bàn và chìm vào cơn say nặng nề.

Ông không biết, ở một góc tối của khu vườn, có một người con gái đang ngồi bất động. Khi sương khuya bắt đầu xuống cô mới đứng dậy, đến bên Bù Khú.

-Chú ơi. Về nhà. Đã khuya lắm rồi.

Bù Khú gượng đứng dậy.

-Đào hả con? Hãy đi tìm Ngọc. Cổ sẽ chết đấy.

Đào hoảng hốt chạy vô buồng trong tìm kiếm nhưng tất cả đều trống trơn, lạnh ngắt. Cô gái chạy ra cổng.

*

Nửa đêm Bù Khú về đến cái am nhỏ của mình và rất ngạc nhiên khi thấy đèn trong nhà vẫn thắp sáng.

Ông xuống xe và nhìn thấy một chiếc ghe nhỏ chở dừa đậu sát mé nước. Trong ghe thắp một ngọn đèn dầu leo lét nhưng không có ai cả.

Bù Khú dựng xe ngoài hiên, đẩy cửa bước vô. Bên trong là một sân khấu bi kịch. Nhung, bé Tùng và một người đàn bà xa lạ đang bị còng tay ngồi dưới đất. Bốn người đàn ông có vũ trang ngồi rải rác trên những chiếc ghế gỗ. Bù Khú đứng im quan sát sân khấu, chưa kịp mở lời thì chiếc còng số 8 đã khóa chặt hai cổ tay.

-Chuyện gì đây?

Một người công an mặc sắc phục chỉ những gói giấy đang để trên bàn:

-Đây là số ma túy chúng tôi tìm được trong nhà ông.

-Vô lý. Làm gì trong nhà tôi có ma túy. Hơn nữa các ông không có quyền khám nhà khi tôi vắng mặt.

-Chuyện đó ông sẽ nói ở cơ quan điều tra. Ông có thấy chiếc ghe nhỏ đậu ở bến sông không? Chúng tôi đã theo dõi nó trong nhiều ngày và nó đã đem số ma túy đó đến đây. Những người này quan hệ thế nào với ông?

-Hai cô cậu này là người giúp việc cho tôi còn người đàn bà này là ai tôi không biết.

-Cô Nhung và cậu Tùng ở trong nhà ông đã sáu tháng nay nhưng ông không đăng ký tạm trú. Nhung có tiền án là buôn bán ma túy, vượt ngục về đây. Tùng là thằng nhỏ móc túi, giựt đồ chuyên nghiệp cũng dùng nơi này làm chỗ xuất phát. Ông đã chứa chấp tội phạm trong một thời gian dài và không loại trừ khả năng ông là đồng phạm.

Bù Khú cười lớn:

-Thật đơn giản! Có lẽ tôi là người có nhiều danh hiệu nhất thế giới: cán bộ kháng chiến, trí thức yêu nước, nhà báo, kẻ sát nhân, kẻ buôn bán ma túy, chứa chấp trộm cướp và gái điếm… vậy rốt cuộc tôi là ai?

(còn tiếp)

By daohieu Posted in Chưa phân loại

BÙ KHÚ TIÊN SINH 12

Đào Hiếu

12.BẢO VÀ NGỌC

-Anh về chuyến này để cưới em.

-Bộ ở bên Mỹ không có đàn bà sao?

-Có, nhưng rất hiếm.

-Ở Việt Nam thì đầy dẫy, việc gì phải vô trong xó kẹt này mà tìm vợ?

-Vì anh thích em. Có cá tính mạnh và thông minh.

-Em mà thông minh á? Chẳng phải bị đàn ông nó lừa hoài sao?

-Ai lừa được em?

-Bộ anh quên cái chàng sinh viên tên Toàn sao? Em bỏ tiền ra nuôi anh ta ăn học mấy năm trời. Đến khi tốt nghiệp thì quất ngựa truy phong. Có nhớ không?

-Nhớ. Nhưng liên quan gì tới anh?

-Một người chịu ơn mình, một người mà mình đã cưu mang trong nhiều năm vậy mà khi thành tài họ còn bỏ mình, huống chi anh với em chỉ mới quen biết một thời gian. Sao có thể bền vững được?

-Nhưng anh với em ở cách xa nhau nửa vòng trái đất, và chúng ta đều đã ngoài ba mươi.

-Vậy thì cưới đi, Ngọc vừa nói vừa cười. Ở Việt Nam anh còn một người cha phải không?

-Phải. Nhưng anh rất ghét. Lúc mới ở trên rừng về gặp ngay một cô ca sĩ, ổng trở mặt bỏ vợ con liền. Cho nên anh sẽ không mời ông ta đâu.

-Nhưng hãy cho em một chút thể diện. Thây kệ, cứ mời ổng đi anh à. Đám cưới của em không thể không có ba anh được.

Bảo im lặng. Rồi hỏi:

-Còn phía em thì sao?

-Em có Bù Khú Tiên Sinh.

-Đó là tay nào vậy?

-Một ông già sáu mươi tuổi, rất chịu chơi. Hiện ổng đang nuôi bé Nhung.

-Quan hệ giữa ông ta và em như thế nào?

-Bạn bè. Cả hai người đều là dân homeless. Đã có lúc em muốn lấy ổng.

-Sao không lấy?

-Ông có tới hai mươi bảy bà vợ. Sao có thể lấy được.

-Tay đó thật đáng ngờ.

-Nhưng anh phải gặp ông ta một lần mới được.

(còn tiếp)

By daohieu Posted in Chưa phân loại

BÙ KHÚ TIÊN SINH 11

Đào Hiếu

11.NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CỦA BÙ KHÚ TIÊN SINH

Một nhà sư trẻ, cao lớn, đầu cạo trọc lởm chởm, chạy xe từ ngoài cổng thẳng tới chỗ Bù Khú đang ngồi.

-Mẹ mất rồi.

Bù Khú chỉ kịp xỏ chân vô đôi xăng-đan rồi hai cha con chạy xe ra cổng.

Đó là một đám tang im lặng, không kèn không trống, không tụng kinh gõ mõ, chỉ lan tỏa một dòng nhạc êm dịu của dân ca Nga, giai điệu buồn, trầm ấm mà lúc sinh thời người chết rất ưa thích. Bà nói: em đã bỏ đạo để về với trần tục thì sẽ chết như một người trần tục. Ảnh trên bàn thờ chụp khi Bắc sinh con được 8 tháng, mặc đồng phục tiếp viên hàng không. Khi Bù Khú thắp nhang trước linh cữu, ông thấy đôi mắt Bắc ngước lên nhìn ông, mày rậm, mắt một mí.

Tòa cao ốc đứng sừng sững trong một khu đất khuất tịch, cảnh trí chung quanh như một tiểu thiên địa, có cây có đá, có dòng suối nhân tạo róc rách. Một đám tang thanh bình, một khoảng sân rộng và mát. Không ai khóc.

Hôm cuối cùng, Bù Khú đến viếng Bắc ở bệnh viện Chợ Rẫy. Một cơn hấp hối kéo dài trong đau đớn, nhọc nhằn. Mê và tỉnh xen kẽ nhau. Cứ mỗi lần tỉnh lại, Bắc hỏi:

“Anh còn nhớ hôm đó trời mưa không?” Rồi không nói được nữa. Lại rơi vào mê sảng. Khi tỉnh dậy lại hỏi: “Anh còn nhớ hôm đó trời mưa không?”

*

Chỉ là một cơn mưa nhỏ, nhưng vì Bắc không mang áo mưa nên ướt tóc. Cô giấu cái túi xách trong áo gió.

-Em chạy thẳng từ phi trường về đây.

Bù Khú ngồi vào máy tính, cô nhân viên bán hàng nhận số mỹ phẩm Bắc đem về, bóc tờ hướng dẫn ra đưa cho Bù Khú. Anh dịch. Trời tối hẳn, mưa càng lúc càng dữ dội, từ trong cửa kính nhìn ra thấy mặt đường trắng xóa. Lá phượng rụng, trôi theo những dòng nước nhỏ.

Bù Khú hoàn tất công việc dịch thuật rất nhanh và Bắc cũng đã sấy khô tóc. Bù Khú nói:

-Mưa không trói buộc, nhưng cũng giữ được khách ở lại rồi.

Bắc hỏi:

-Hình như đó là ý của một câu thơ, đúng không?

-Đúng. Cổ thi hay nhắc đến mưa. Nổi tiếng nhất là bài “Dạ vũ ký Bắc” của Lý Thương Ẩn.

-Tên bài thơ đó có nghĩa là gì?

-Tạm dịch là: Mưa đêm nhớ đến cô Bắc.

Bắc cười khúc khích:

-Em và Lý Thương Ẩn sống cách nhau cả ngàn năm sao ông ta nhớ em được?

-Anh không biết. Có khi ổng yêu em từ kiếp trước thì sao? “Quân vấn quy kỳ, vị hữu kỳ. Ba Sơn dạ vũ trướng thu trì. Hà đương cộng tiễn tây song chúc. Bất thuyết Ba Sơn dạ vũ thì”.

-Anh dịch đi.

-Tạm dịch: Anh hỏi em, máy bay từ Paris về lúc nào? Em đáp chưa biết. Mưa đêm trên núi Ba Sơn đầy tràn mặt ao. Biết bao giờ chúng ta mới được cùng nhau ngồi chong đèn bên cửa sổ. Cùng trò chuyện về những đêm mưa?

Cô tiếp viên hàng không lại cười:

-Dịch xạo quá ông ơi. Nhưng đó là một bản dịch hay. Em sẽ nhớ cái tên Lý Thương Ẩn này. Ông ta là ai vậy?

-Một thi sĩ đời Đường, ông ta là người Hà Nội.

-Hà Nội? Anh lại lái sang em nữa rồi! Em là người Hà Nội nè.

-Ở bên Tàu cũng có “Hà Nội”, thuộc tỉnh Hà Nam.

-Sao anh quan tâm đến Lý Thương Ẩn quá vậy?

-Anh quan tâm đến những gì có liên quan tới Bắc.

–Tại sao?

-Trong bốn hướng Đông Tây Nam Bắc thì hướng Bắc là quan trọng nhất

-Gì nữa?

-Và kim la-bàn lúc nào cũng chỉ hướng Bắc.

Đại khái đó là những câu mà Bù Khú dùng để tán tỉnh cô tiếp viên hàng không.

Một tháng sau ông chủ shop mỹ phẩm gọi Bù Khú đến:

-Tôi cho anh đi Pháp, anh đi không?

-Đi liền, nhưng để làm gì?

-Mua mỹ phẩm.

-Có biết đường sá đâu mà đi.

-Anh quên cô Bắc rồi sao?

-Nhưng cổ có rảnh đâu.

-Cổ có thể mua mỹ phẩm cho mình thì cũng có thể dẫn anh đi được.

Rồi ông đưa cho Bù Khú một danh sách toàn kem dưỡng da, kem tẩy trắng, trị nám, kem trẻ hóa da…Những sản phẩm ấy Bù Khú đã dịch hàng trăm lần, thuộc lòng.

Anh gọi điện cho Bắc. Bắc nói sẵn lòng giúp. Nhưng…

-Có vẻ như anh sẽ cạnh tranh với em.

-Đừng quan tâm. Lâu nay em chỉ mua giúp cho shop mấy hộp thôi mà, còn bây giờ anh mua nhiều.

Chuyến ấy cửa hàng giao cho Bù Khú mười lăm ngàn đô.

-Mua nhiều quá làm sao đem qua cửa khẩu?

-Chuyện đó để tiếp viên hàng không lo.

Thật chu đáo. Good! Anh bắt tay Bắc và hôn nhẹ lên má.

Đó là những ngày rất hạnh phúc ở Paris. Tuyết rơi đầy trời. Quảng trường Trocadéro, Champs Élysées, thánh đường Sacré-Coeur trắng xóa trên đồi, những khu rừng rụng hết lá và những vòi nước phun đông cứng ở điện Versailles, vòng xoay Périphérique ngập trong hơi nước và gió lạnh… Hai người ủ tay nhau nơi ghế đá khuôn viên nhà trờ Notre Dame, những con chim bồ câu bay lên như đám mây, chim sẻ đậu trên những ngón tay của Bắc đòi ăn…

Buổi chiều họ đem mỹ phẩm về một khách sạn bình dân gần phi trường Charles De Gaulle.

Tối đó lạnh quá, lò sưởi không đủ ấm. Bù Khú uống Cognac liên tục và ép Bắc uống bằng những chai échantillons lấy trên máy bay nhưng hai người vẫn lạnh run. Tuyết cứ rơi hững hờ, trôi dạt lấp lánh bên ngoài khung cửa trắng xóa, bất tận.

Bắc nói:

-Lý Thương Ẩn thường mơ ước được cùng người yêu chong đèn bên cửa sổ để nhắc lại những kỷ niệm về những đêm mưa trên núi Ba Sơn. Còn ở Paris là mưa tuyết đầy trời chẳng lẽ Bù Khú Tiên Sinh không có hứng thú chong một ngọn đèn bên cửa sổ hay sao?

-Chong đèn thì được nhưng nhắc lại những kỷ niệm xưa thì không, vì lạnh quá, run lập cập, hai hàm răng va vào nhau, sao có thể tâm sự được.

Bù Khú xé những thùng mỹ phẩm thừa ném vô lò sưởi mà vẫn lạnh run. Chỉ còn cách ôm nhau. Ôm lỏng tay cũng lạnh. Phải ôm chặt, phải siết lại. Hai môi gắn chặt. Và một mầm sống đã xuất hiện trong căn phòng lạnh lẽo đó.

Khi biết tin ấy, ba của Bắc nổi giận:

-Không chấp nhận. Nó là một thằng Việt cộng.

-Ảnh là một trí thức. Không phải Việt cộng.

-Ba không cần biết. Ba không thích Việt cộng. Ngày trước chúng nó đấu tố ông nội con đến chết chỉ vì ông là địa chủ. Địa chủ cái nỗi gì! So với một thằng chủ tịch xã bây giờ tài sản đất đai của nó gấp trăm lần!

-Thưa ba, ảnh rất nghèo. Đi xe đạp, ở trong một chung cư tồi tàn.

-Con là tiếp viên hàng không trẻ đẹp như thế, sao phải lấy một thằng Việt cộng nghèo? Hãy bỏ cái thai ấy đi!

Nhưng hai người vẫn sống chung với nhau trong bảy năm, và cái thai đã trở thành một thằng bé lanh lợi, khỏe mạnh. Không ai biết sau này nó là nhà sư.

Hai người đã chia tay vì cái gì?  Vì nghèo khó hay vì tính cách ngông cuồng của Bù Khú?  Đứa con trai ở với mẹ một thời gian thì Bắc gởi nó lên chùa. Rồi đến lượt Bắc. Nghe nói đường tình duyên lại trắc trở nên cô xuất gia vào sống trong chùa với con.

Mấy năm sau có người bạn đến báo tin: Bắc đang nằm ở Chợ Rẫy. Bù Khú đến một mình. Phòng đông nghẹt bệnh nhân. Hai người phải gặp nhau ngoài hành lang. Hành lang cũng đông người. Bắc mặc đồng phúc trắng của bệnh viên, xanh xao, hiu hắt. Bù Khú hỏi:

“Chồng em đâu?”

Bắc chỉ lắc đầu. Anh cầm bàn tay nhỏ nhắn của Bắc, áp mặt mình lên đó. Nước mắt rớt trong lòng bàn tay gầy yếu trắng xanh của cô gái Hà Nội.

“Em có còn nhớ bài Dạ Vũ Ký Bắc không?”

“Em chỉ nhớ bản dịch của anh. Anh hỏi em, máy bay từ Paris về lúc nào? Em đáp chưa biết. Mưa đêm trên núi Ba Sơn đầy tràn mặt ao. Biết bao giờ chúng ta mới được cùng nhau ngồi chong đèn bên cửa sổ. Cùng trò chuyện về những đêm mưa?

Bù Khú xoa đầu ngón tay lên vết đỏ có hình cánh bướm trên má của Bắc, hỏi:

“Bệnh lupus là bệnh gì vậy?”

“Bệnh đó không chữa được anh ạ. Người ta tính đưa em sang Mỹ để thử nghiệm một loại thuốc mới.”

Và cuộc thí nghiệm đó đã không thành công.

*

Hai cha con ngồi đối diện nhau. Bù Khú hỏi:

-Ở trong chùa con có ổn định không?

-Con vẫn bình thường. Còn cha, cha có còn uống nhiều rượu không?

-Vẫn uống. Đời chẳng có gì vui con ạ. Hôm nay “bố dượng” có đến không?

-Ông ta đang ngồi ở ngay trước quan tài đó.

Bù Khú nhìn về hướng ấy, bắt gặp đôi mắt đỏ hoe cũng đang nhìn về phía mình. Rồi người đó đứng lên, đi lại phía hai cha con Bù Khú. Đứa con gái của ông cũng đến chào. Bù Khú hỏi:

-Con đã thắp hương cho mẹ chưa?

-Dạ.

Con bé cũng cận thị như ba nó. Việc chào hỏi xảy ra trong vài phút. Nhẹ nhàng và cũng không có gì khách sáo. Người đàn ông đó, cho đến giờ Bù Khú cũng không biết tên là gì, làm nghề gì, mười mấy năm trước chỉ nghe một người bạn nói: tao gặp một thằng cha đeo kính cận chở con vợ mày đi chơi  ở vùng quê tận Nhà Bè. Tối đó Bù Khú hỏi: có đúng vậy không? Bắc đáp “có”. Và từ đó Tiên sinh không nói gì nữa. Ngôn ngữ bị loại bỏ khỏi căn phòng tồi tàn mà người ta đã cấp cho Bù Khú khi mới giải phóng. Một năm sau hai người ly hôn. Một năm sau nữa cậu con trai đi tu. Rồi đến lượt Bắc cũng vô chùa. Game over! Chấm dứt kết nối.

Nhưng Bù Khú không trách cứ, cũng không buồn. Vì đó là lỗi của ông. Ông đã tự thổi tắt ánh hào quang của mình: người trí thức đi kháng chiến, một chàng hiệp sĩ.

Tắt hào quang rồi ông trở thành một anh đồ gàn khó tính. Và thất nghiệp.

Nhiều năm sau, Bù Khú lên chùa thăm, Bắc nói:

“Phải chi Lý Thương Ẩn không có bài Dạ Vũ Ký Bắc. Phải chi chúng ta không đi Paris với nhau.”

Rồi bà lấy cây bút lông và một tờ giấy. Bà ngồi lại bàn, sửa thế ngồi cho ngay ngắn. Bà nói:

“Em có học một ít chữ Hán. Hôm nay em sẽ chép tặng anh hai câu của Giả Đảo để làm kỷ niệm”.

Rồi Bắc cầm cây bút lông, nét chữ thảo rất khoáng hoạt.

Quái cầm đề khoáng dã
Lạc nhật khủng hành nhân
(Chim lạ kêu giữa đồng trống. Nắng tắt làm kinh sợ người đi )

Bà đưa hai câu thơ cho Bú Khú. Từ đó họ không gặp lại nhau nữa. Lúc ấy Bù Khú nghĩ: chắc có lời nhắn nào trong hai câu cổ thi đó, nhưng bây giờ thì nó đã mất rồi, lời nhắn, dẫu có, cũng chỉ là mây khói.

*

Người đàn bà thứ hai bước vào cuộc đời Bù Khú rất tình cờ. Bù Khú vẫn còn sống trong cái ổ chuột trên tầng bảy của cái chung cư rách nát ấy nhưng hắn đã xin được một chân cộng tác viên cho báo phụ nữ. Hắn giữ mục Hướng Dẫn Làm Đẹp. Ngày nọ hắn nhận được một thư độc giả hỏi về cách trị mụn. Hắn trả lời rất chi tiết về nguyên nhân mụn, cách chữa trị, cách ăn uống phù hợp và còn giới thiệu những mỹ phẩm hiệu quả.

Một tháng sau Bù Khú nhận được thư của cô độc giả nọ mời đi uống cà-phê. Hôm đó hắn gặp hai cô gái. Hai cô ở chung nhà, cô độc giả là thợ may tên Kim còn cô bạn tên Thúy, không rõ làm nghề gì.

Hắn đến nhà Kim chơi vài lần, có ý muốn gặp lại Thúy nhưng cứ vắng mặt hoài. Ngày nọ Kim mời hắn đến ăn trưa và hắn đã gặp Thúy.

Thúy nói:

-Chắc bữa đó em đi duỗi tóc nên anh không gặp. Hôm nào ba anh em mình đi bowling.

Nhưng tốc độ thân mật giữa Bù Khú và Thúy còn nhanh hơn trái banh bô-linh nhiều. Thức ăn đang nấu thì phát hiện còn thiếu vài món gia vị. Kim nói:

-Thúy ở nhà bắc dùm nồi nước, mình đi chợ.

Kim ra khỏi nhà chừng ba mươi giây thì Thúy đi tắm. Bù Khú ngồi trong bếp gọt dưa chuột. Tự nhiên nghe tiếng gọi:

-Kim ơi! Đưa giùm mình cái khăn tắm.

Bù Khú nói:

-Kim đi chợ rồi. Chỉ còn mình anh thôi.

-Vậy sao? Xin lỗi nha!

Nhưng Bù Khú đã đem khăn lại cửa phòng tắm.

-Em có nhờ anh đâu.

-Nhưng em đang cần khăn mà.

Bù Khú đẩy nhẹ cánh cửa. Nó không cài chốt bên trong. Hắn nhìn thấy một vầng hào quang sáng rực. Hắn bước vô. Thúy hỏi:

-Vô đây làm gì?

-Lau mình cho em.

Rồi hắn quỳ xuống, thấm nước giữa hai đùi của Thúy. Thúy cười khúc khích.

-Không được đâu. Anh ra đi. Kim nó về bây giờ.

-Chưa về đâu. Kim đi bộ ra chợ mà.

-Nhưng em không thích chụp giựt. Hẹn ngày mai ở một nơi khác. Hôm nay em chỉ muốn khoe với anh một chút thôi.

*

Vậy đó. Nhưng hắn yêu Thúy. Thúy ơi, dù em có làm gái điếm một ngàn năm anh vẫn tôn thờ em. Em luôn rực rỡ, cao quý và thần thánh. Tại sao không? Thế ai mới là thần thánh? Người vợ trước của anh là một tiếp viên hàng không, một trí thức, một nữ tu sĩ, những người vợ sau này của anh có người là bác sĩ, có người là nhà văn, họ có thể cư xử lịch thiệp hơn em nhưng để làm gì?

Trong một xã hội mà guồng máy toàn là bọn ăn chặn, bọn móc ngoặc, bọn đầu trộm đuôi cướp thì gái điếm vẫn là một nghề trong sạch và cao quý hơn nhiều.

Nếu đem em ra so sánh với bọn họ thì em là một thiên thần. Em đáng được dựng tượng trên quãng trường thành phố.

Bù Khú và Thúy thường gần gũi nhau vào buổi trưa. Thúy làm việc ở vũ trường đến một hai giờ sáng, có đêm đi khách xong trở về mệt rã rời nhưng không dám ngủ. Cứ nằm lơ mơ một lúc thì trong đầu lại vang lên: Đi tắm! Phải dậy tắm rồi mới được ngủ! Và Thúy vùng dậy. Tắm xong, ngủ đắm đuối tới trưa. Lúc đó Bú Khú đến và hai người đi ăn, xong vô khách sạn nằm với nhau đến chiều thì chở nhau dạo phố, đi ăn chiều. Tối lại đến vũ trường.

Có lần trong khách sạn, Bù Khú nằm ngắm Thúy. Anh nói:

-Thật giống như cái pháo bông.

-Cái gì giống?

Bù Khú xòe hai bàn tay ra, vẽ trong khoảng không giữa hai người:

-Từ phía dưới mọc lên thật rậm, rồi xòe ra hai bên, ép sát vào da thịt, tỏa ra nhiều nhánh đen nháy như huyền ngọc, lấp lánh. Giống hệt cái pháo bông em ạ. Anh chưa từng thấy có người đàn bà nào lại tỏa ra như pháo bông vậy. Chùm pháo bông ấy là một kỳ quan của nhân loại.

Thúy cười ngặt nghẽo:

-Khùng quá ông ơi!

-Không khùng đâu. Phải là một thiên tài mới nhìn thấy cái pháo bông của em.

Thúy hôn để cám ơn “thiên tài” của mình. Khi mọi thứ đã lắng xuống, Bù Khú cứ cầm bàn tay của Thúy mà hôn hoài. Anh nói:

-Có lẽ em phải bỏ nghề này thôi Thúy ạ. Anh không coi thường nó nhưng nó làm em mất sức. Em sẽ ngã bệnh.

Nhưng Thúy không thể bỏ nghề. Vì cô đã quyết tâm đưa gia đình ra khỏi kiếp lầm than. Bù Khú cũng quyết tâm làm một cái gì đó cho Thúy. Ngày Tết anh đưa Thúy về Hậu Giang. Thúy nói:

-Nhà nghèo lắm. Anh không thể tưởng tượng được đâu. Thân lắm em mới đưa anh về, không thì mắc cỡ chết được.

Về làng. Không phải làng mà là một cái xó. Và ở miền Tây có hàng ngàn cái xó như vậy. Chúng nằm trong kẹt của đất nước. Chỉ là thứ bãi bồi, những rẻo đất bùn lầy, lởm chởm, hầm hố… rải rác giữa vùng sông rạch chằng chịt. Những mái lá thấp bé lẩn khuất trong cây lá trong ruộng đồng, trong cỏ lát. Những con người sạm đen tối ngày ngây ngất trong men rượu gạo đục ngầu, không gian lạch bạch tiếng ghe máy, tiếng vịt kêu. Mái lá trống, rách nát. Nền đất đen, mấp mô, bếp lửa đen kịt khói và bồ hóng. Những chiếc võng rách vá víu, những chiếc giường tre và manh chiếu cũ mòn.

Thúy hỏi:

-Thấy nhà đẹp không?

Bù Khú ngậm ngùi, ông chỉ nói:

-Anh thương em lắm.

Có chiếc ghe máy đậu lại bến sông. Ba người đàn ông dìu nhau lên bờ. Hình như họ đang nhậu dở dang ở đâu đó. Ông già của Thúy vỗ vai Bù Khú:

-Này chú em. Vô đây.

Các thứ được bày ra trên bộ ván. Cuộc sống đơn giản hóa, thành một tập tính của động vật. Mỗi ngày họ tìm đến nhau, ngồi trên bộ ván, mấy con khô, một dĩa xoài, bình rượu. Không quan tâm đến quần áo, giày dép. Họ đi chân đất, ở trần. Họ nói những câu chuyện giống nhau, họ lập lại những điều đã nói, họ la hét, cười khóc và hỉ mũi. Họ không biết gì đến những cuộc sống khác, những thế giới khác, những loài người khác. Họ không quan tâm đến nhà cửa, những tiện nghi vật chất. Những mái lá cứ xơ xác, xiêu đổ. Gió xô sập rồi lại mọc lên, đơn giản như cái ổ gà.

Sáng sớm Thúy thức dậy trên chiếc giường tre ọp ẹp, mùng màn treo toòng teng, quần jean, áo sơ-mi mắc lộn xộn. Bù Khú biết cô đã thức dậy nhưng còn đang nằm trong cái đống bùi nhùi đó. Anh lòn qua mấy cái quần, vén mùng lên. Thúy uốn mình như con báo cái uyển chuyển. Thúy vẫn đẹp rực rỡ trong đống giẻ rách ấy nhưng anh không dám ôm hôn. Và Thúy cũng không vít đầu anh xuống như những lần ở khách sạn. Bù Khú chần chừ, ngại ngùng. Thúy hỏi:

-Có gì vậy?

-Toa-lét đâu?

Thúy cười khúc khích. Gọi:

-Út ơi! Út! Dẫn anh Hai mày đi ra thăm mấy con cá tra kìa!

Bú Khú giật mình. Đó là lần đầu tiên anh tiếp xúc với “nền văn minh cá tra”, một thứ chu kỳ sinh học khép kín đơn giản hiệu quả và vệ sinh nhất.

Khi trở vào Thúy hỏi:

-Sao? Chúng nó có lịch sự không?

-Hơi mất trật tự. Nếu như ở thành phố thì chúng nó phải xếp hàng.

Thúy cầm cái bàn chải răng, mở nắp lu nước. Một con rít to bằng ngón tay bò lên miệng, cô dùng cán bàn chải đè đầu nó, nó rớt xuống đất, giãy giụa. Thúy vít nó cho lũ gà đứng bên cạnh.

-Rít ở đâu mà to thế?

-Nhiều lắm. Nó ở trên mái nhà. Nó theo nước mưa xuống nằm trong lu.

Cô máng khăn mặt lên nhánh cây chùm ruột. Bọt kem đánh răng dính quanh miệng. Bù Khú nói:

-Đánh răng kỹ quá, mòn hết. Bắt đền!

Thúy xua tay đuổi Bù Khú đi. Cậu em trai của Thúy bưng cai rổ đi ra bờ sông, Bù Khú ngoắc lại:

-Sơn ơi! Đi mua cho ba thùng bia.

-Ba không uống bia. Ở đây không ai uống bia đâu anh ơi.

-Thôi, mua con vịt quay.

Sơn nhận tiền, bỏ đi.

Nhưng tối đó không có cuộc nhậu. Ba của Thúy lên cơn đau bụng. Ông cong người, rên rỉ, rồi ói ra máu. Cả nhà thức dậy. Bù Khú xuống võng, mặc quần áo. Anh bảo Thúy:

-Xuất huyết bao tử. Phải đem bệnh viện gấp.

Chiếc ghe máy chạy giữa đêm. Ra tới huyện Vị Thanh. Xa mút chỉ. Cũng may còn giường trống. Chuyền nước biển. Bù Khú và Thúy ngồi hai đầu giường, bé Sơn ra hành lang ngủ. Đêm đó hai người không nói chuyện gì. Thúy chỉ khóc còn Bù Khú thì chỉ nói đi nói lại một câu: Anh thương em. Anh thương em. Nói lai rai cho tới sáng. Nói mỏi miệng rồi thiếp đi.

*

Trở lại Sài Gòn, Thúy trở về với thế giới của đêm. Với cõi âm. Trở về với địa ngục sang trọng, hào nhoáng, rực rỡ.

Còn với Bù Khú, nó là những đêm trắng. Hắn nhận làm thêm nhiều tờ báo khác. Báo của quận cũng làm, của phường cũng không từ chối. Hắn thiết kế đủ loại mẫu mã, giải đáp làm đẹp. Và… làm thơ. Thơ kiểu gì hắn cũng làm được: thơ Đường, thơ Mới, thơ Tự do, thơ Ấn tượng… hắn sản xuất hàng loạt. Lúc rảnh rỗi hắn chạy xe ôm nữa.

Nhiều buổi trưa gặp Thúy ở khách sạn hắn ngủ đắm đuối. Thúy cũng ngủ. Thức dậy phờ phạc. Hai người đều quên làm tình. Thực ra, cả hai cùng mệt lả. Bù Khú đề nghị:

-Ngày mai em dọn về ở với anh. Đỡ bớt chi phí.

*

Nhưng khuya đó Thúy không về. Cúp máy. Mấy ngày sau, có lần Bù Khú nghe chuông reo nhưng không ai bắt máy, gởi tin nhắn cũng không trả lời.

Bóng tối và sự hoảng loạn trùm xuống. Như một cơn địa chấn. Bỗng nhiên thấy trái núi trước mặt biến mất, dòng sông cũng cạn khô, thấy mình đứng giữa ngổn ngang gò đống. Con chim lạ kêu giữa đồng trống. Nắng tắt làm kinh sợ người ở lại. Thúy biệt mù, không tăm tích. Như con thuyền thất lạc trong cơn bão, không về bến. Hắn đứng ngóng trên biển. Chân trời thẳng tắp, không một bóng dáng, không một cánh chim, chỉ có sương khói và tiếng sóng.

Chiếc điện thoại di động đã chết, lạnh ngắt như một tử thi. Con thuyền không về. Mất liên lạc. Mất tích. Không rõ nguyên cớ. Hắn kêu gào trong căn phòng đóng kín. Hắn đi suốt đêm quanh căn phòng trọ của Thúy. Hắn ngồi rình trong bóng tối của con hẻm chật hẹp. Cửa đóng, khóa bên ngoài. Những người hàng xóm nói: cả tuần nay không thấy cổ về. Không có bờ biển nào để mà ra ngồi ngóng. Không có con thuyền, chỉ có tiếng xe máy, nhưng trong một đêm có rất nhiều xe máy đi qua con hẻm đó. Hắn đói khát, tàn tạ, gầy đét như con cá khô bị bỏ quên trên hè phố.

Ngày thứ mười hắn leo lên một chiếc xe khách về Cần Thơ. Người cha nói:

-Không thấy nó liên lạc. Ở nhà gọi điện thoại cũng không được.

Chỗ bám cuối cùng cũng sụp đổ. Bù Khú nằm khóc trên chiếc giường tre của Thúy. Và không dậy nữa. Ngày thứ ba lúc nửa đêm, điện thoại reo. Một số điện thoại lạ hiện lên màn hình.

-Cho tôi gặp anh Mười Bù.

-Mười Bù đây.

-Thúy nhờ tôi nhắn với anh là cô ấy bị bắt cóc hiện bị giam trong một căn phòng ở Chợ Lớn. Điện thoại bị lấy mất rồi.

-A lô! A lô!. Tôi gặp chị ở đâu?

*

Một quán cà phê tồi tàn. Một người đàn bà tàn héo như món trang sức đã rỉ sét.

-Thúy đâu?

Người đàn bà chỉ lên cái gác gỗ phía bên kia con hẻm. Bù Khú hỏi:

-Làm sao lên đó?

-Không lên được đâu. Phải bước qua xác của thằng ghiền đó. Nó cầm con dao phay, chờ ở cầu thang. Nó chờ cậu đấy.

-Nhưng nó có quan hệ gì với Thúy?

-Nó là chồng của cổ. Trước nay cổ đi làm về đưa tiền cho nó xài. Đưa không đủ, nó đánh, chửi. Cổ phải trốn đi cả năm nay. Nó không có tiền xài phải đi ăn cướp, bị bắt đưa đi cải tạo. Nay nó trốn về, đến vũ trường tìm con nhỏ.

-Nhưng hai người có cưới nhau không?

-Cưới gì. Nó chỉ là một thằng bảo kê.

-Thế thì nó chẳng có quyền gì cả. Tôi sẽ giành lại. Tôi sẽ cưới. Bây giờ tôi đi báo công an.

-Công an cũng không dám đụng đến nó đâu. Nó có nguyên một băng.

-Thế chị không sợ tụi nó sao?

-Tụi nó là hàng xóm của tui. Hôm qua tui tình cờ đi ngang dưới cửa sổ. Thúy thả cho tui mảnh giấy, có ghi số điện thoại của cậu.

Bù Khú nói cảm ơn rồi bước ra khỏi quán. Anh băng qua bên kia hẻm, đến sát dưới cửa sổ phòng giam của Thúy. Anh gọi:

-Thúy ơi! Thúy!

Không ai trả lời. Lại gọi:

-Thúy ơi!

Liền có một mặt người hiện ra, nhợt nhạt, tóc sổ tung. Thúy đưa tay vẫy. Nhưng gã đàn ông đã xuất hiện, hét lên:

-Đ.m. Đứng im đó đi. Tao sẽ xuống giết mày!

Tình huống ấy không bất ngờ với Bù Khú. Anh có một khẩu K59 đem từ trên rừng về. Anh quyết định xông vào nhà, leo lên gác. Hai người gặp nhau ở cầu thang.

-Mày muốn gì?

-Muốn đưa Thúy đi. Tao sẽ đóng tiền chuộc cho mày.

-Không được. Thúy là vợ tao.

-Mày nói láo! Thúy chưa có chồng.

-Được rồi. Mày có bao nhiêu?

-Năm chục triệu.

Gã xì ke cười hô hố.

-Một hoa hậu mà rẻ như vậy sao? Một trăm triệu!

-Tao là công chức nghèo. Tao không có tiền.

-Vậy thì cút!

Hắn đạp vô ngực Bù Khú khiến anh lộn mấy vòng xuống thang gác, trán đập xuống nền nhà tóe máu. Thúy nghe động, chạy ra đầu cầu thang.

-Đừng đánh!

Nhưng gã ghiền đã cầm con dao phay, hùng hổ chạy xuống cầu thang. Hắn không biết đối phương có súng nên khi nghe thấy tiếng nổ thì đã quá muộn. Hắn trượt chân, đà chạy làm hắn ngã chúi, đập mặt vào những bậc cấp nham nhở.

Bù Khú cất khẩu súng vô túi, ôm Thúy vào lòng. Anh nói:

-Chúng ta không thể cất được nhà cho ba rồi em ơi!

Thúy bật khóc.

*

Nhưng nghe đến đó Ngọc lại cười. Bù Khú ném mẩu thuốc lá xuống đất.

-Em thật tàn nhẫn. Tại sao em lại có thể cười được. Em có biết rằng anh đã phải ngồi tù suốt năm năm trời không? Và tụi anh đã không bao giờ lấy nhau được.

-Tại sao?

-Thúy đã nuôi anh suốt năm năm đó. Tiền hết, nhà không cất được. Nhưng đau đớn nhất là khi anh ra tù thì Thúy lâm bệnh. Đó là một thứ bệnh không chữa được. Thúy sụp đổ. Tan nát. Anh nói: chúng ta sẽ cưới nhau, bất chấp căn bệnh khốn kiếp ấy. Nhưng Thúy đã bỏ đi.

Ngọc nói:

-Một mối tình lớn như vậy. Một cô gái đáng yêu và đáng phục như vậy. Sao anh không chung thủy với cô ta? Sao anh bồ bịch tùm lum vậy?

Bù Khú thở dài.

-Em ngồi dịch ra một chút đi. OK. Nhìn kỹ anh đi! Không có gì đặc biệt cả. Không đẹp trai. Không cường tráng, không trẻ, không giàu. Thế tại sao đàn bà con gái họ yêu anh? Cả em nữa, phải không?

-Em không yêu anh.

-Sao lúc nãy em nói em sẽ tìm hiểu cho hết hai mươi bảy bà vợ của anh rồi sẽ lấy anh?

-Em xạo.

-Cũng được. Nhưng anh không xạo. Không yêu giả. Vả lại, anh chỉ có một dịp để sống trên cõi đời này. Thúy ra đi, nhưng anh vẫn còn ở lại. Anh phải sống cho hết cái kiếp người bạc bẽo này. Hãy nghĩ lại đi, hãy ôn lại những gì anh đã kể cho em trong những ngày qua. Đó là cuộc đời của anh. Nào có gì vinh quang, có gì sung sướng? Hạnh phúc thì ít mà đau khổ, đày đọa thì nhiều. Khi đã về già, không còn lại gì ngoài những mối tình cho dù là tuyệt vọng, cho dù là tan vỡ.

(còn tiếp)

By daohieu Posted in Chưa phân loại

BÙ KHÚ TIÊN SINH 10

Đào Hiếu

10.KẺ ĐỨNG BÊN LỀ

Ngọc hỏi:

-Có phải đó là lần đầu tiên sau ngày thống nhất anh gặp lại tay Thủ Trưởng đó không?

-Không. Vì những ngày đầu giải phóng anh ở chung với hắn. Đó là thời gian rất bận rộn của nhiều người nhưng lại rất trì trệ với anh. Tối ngày ngủ. Chiếc võng anh cột trong góc phòng. Hai đầu cột vào hai thanh sắt cửa sổ. Nhắm mắt chập chờn rồi bị đánh thức dậy bởi những tiếng cãi vả.

-Căn nhà ấy phải ở bốn người.

-Ô, thiếu chi nhà mà phải chung chạ. Tôi còn đem vợ con tôi về nữa.

Lại ngủ chập chờn rồi bị đánh thức dậy.

-Đồng chí nào độc thân thì ở khách sạn. Mỗi người một phòng.

-Tại sao gia đình tôi lại phải ở trong một căn nhà nhỏ xíu vậy? Tại sao gia đình Thủ Trưởng lại chiếm nguyên cái biệt thự đường Phùng Khắc Khoan?

-Vì ổng là Thủ Trưởng.

-Thật mắc cười! Chúng ta đi làm cách mạng đâu phải để hôm nay về hôi của!

-Tôi không ở khách sạn đâu. Tôi phải có nhà cửa đàng hoàng như mọi người.

Bù Khú day trở sột soạt trên chiếc võng ny-lông. Hắn nói lè nhè, ngái ngủ:

-Ồn quá. Các đồng chí làm ồn quá.

Mọi người tản đi khi Thủ Trưởng bước vào.

-Này Bù Khú, không lo đi kiếm nhà. Chỗ này là cơ quan nhà nước, đâu phải nhà ở.

-Ối giời! Tớ chỉ cần một chỗ để treo võng.

-Có ba bốn cái khách sạn bỏ trống. Đồng chí về đó mà ở đi.

-Người ta đang bát nháo. Tớ không thích giành giựt. Tớ ở chỗ nào cũng được.

Ngay hôm sau, bảo vệ cơ quan gặp Bù Khú.

-Anh Năm ơi, chuẩn bị dọn đồ đi. Xe đang đợi dưới nhà.

-Tao có gì để dọn. Cuốn cái võng lại là xong.

Người ta thảy Bù Khú vào một căn phòng ở lầu bảy một cao ốc cũ kỹ bỏ hoang từ lâu lắm.

Bù Khú ở đó được hai năm thì ngày kia có cán bộ Nhà Đất đến hỏi:

-Quyết định cấp nhà của đồng chí đâu?

-Không có.

-Giấy tờ tùy thân?

-Giấy gì?

-Thẻ căn cước của chế độ cũ cũng được.

Bù Khú tìm trong ba lô con cóc, thấy có tờ giấy vàng ố.

-Cái này được không?

Đó chỉ là một giấy chứng nhận Huân chương kháng chiến hạng hai.

Cán bộ nhà đất nói:

-Cái này không có ảnh.

-Ối giời. Sao mày đòi hỏi nhiều thứ quá vậy?

-Đồng chí không được gọi tôi bằng mày nhé.

-Lại còn bắt bẻ, nhóc ạ. Tao chỉ có bấy nhiêu đó. Không nhận thì cút!

Tay cán bộ trẻ một đi không trở lại. Cho nên năm năm sau Bù Khú vẫn ở căn phòng ấy mà không có miếng giấy lộn nào.

Thêm năm năm nữa. Cán bộ nhà đất lại đến.

-Đồng chí phải làm thủ tục thuê nhà.

-Tại sao?

-Vì nhà nước không bao cấp nữa.

-Nhưng tớ không có tiền. Ra đi hai bàn tay trắng, trở về cũng trên răng dưới dái. Lương thì không đủ ăn. Tiền đâu thuê nhà?

-Hồ sơ nhà của đồng chí chỉ có một cái bìa cứng. Quyết định cấp nhà của đồng chí đâu?

-Không có. Nhưng cái nhà này cũng sắp sập rồi. Cửa nẻo mục nát. Gạch bông lở lói, trần nhà dột tùm lum.

-Vậy đồng chí làm đơn xin cấp nhà khác đi. Phải có chứng từ gì chúng tôi mới làm việc được. Chứng minh nhân dân đâu?

-Làm gì có. Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói thứ giấy tờ ấy. Có phải đó là thẻ căn cước không?

-Phải. Người ta đi làm chứng minh nhân dân từ mấy năm trước rồi, sao đồng chí không làm?

-Có nghe ai nói gì đâu.

Anh cán bộ nhà đất thở hắt ra như sắp lìa đời.

-Thôi được, anh ta lấy một tờ giấy học trò, đồng chí khai đi. Tôi sẽ giúp.

Cuộc phỏng vấn kéo dài chừng mười lăm phút thì xong.

-Tôi sẽ làm giúp đồng chí một bộ hồ sơ nhà, đồng chí chỉ việc nhờ cơ quan chứng nhận là đã khai báo sự thật rồi đưa lại cho tôi.

Thế rồi anh ta đi. Mười năm không thấy quay lại. Trong mấy thập niên, Thủ Trưởng đã lên tới chức giám đốc Sở, quyền lực bao trùm, còn Bù Khú thì ra bờ sông cất một cái am nhỏ, ở với một con chó.

Ngọc vỗ tay cười ngặt nghẽo.

-Hảo a! Hảo a! Nhưng vì đâu mà bỏ nhà nước ra làm phó thường dân?

-Khu chung cư của anh bị đập phá để xây khách sạn năm sao. Mọi người ai cũng được bồi thường hoặc đổi cho một căn hộ mới nhưng anh thì không có gì.

-Tại sao?

-Vì anh không có giấy tờ nhà, không có chứng minh nhân dân. Nói chung là anh ở lậu. Ở lậu tại khu chung cư ấy và ở lậu ngay trên đất nước Việt Nam. Không có gì chứng minh anh là một công dân, một người Việt Nam.

-Thế cái huân chương kháng chiến chống Mỹ của anh đâu?

-Chuột gặm. Mà nó cũng không có ảnh. Người ta có thể hiểu đó là tờ giấy anh lượm mót được ở đâu đó, ai đánh rơi.

-Thế còn Thủ Trưởng? Và các đồng chí cũ của anh đâu?

-Khó gặp họ lắm. Có lần anh đến nhà một thằng bạn làm chủ tịch quận. Vợ nó bảo anh chờ vì nó đang đi toa-lét. Anh ngồi chờ một tiếng đồng hồ không thấy nó ra. Chắc hôm đó nó bị táo bón. Từ đó anh không gặp ai nữa.

Ngọc đốt thuốc liên tục.

-Thế thì em hiểu rồi.

-Hiểu cái gì?

-Hiểu tại sao đàn bà nó bỏ anh.

-Ý em muốn nói vì anh đã nghèo lại gàn chứ gì? Không phải đâu. Mà vì anh bất lực sinh lý.

-Thôi đừng xạo. Cứ đem chuyện bất lực sinh lý ra khoe hoài. Thế 27 bà vợ để đâu?

-Nói dóc chơi thôi, làm gì có.

-Không có hả? Thế con bé Đào là gì? Nó yêu ông lúc ông đã năm mươi lăm tuổi, đã già chát. Chẳng lẽ thời trai trẻ không có ai yêu ông sao?

-Thôi, không nói chuyện đó nữa.

-Nhưng em muốn biết chuyện anh có hai mươi bảy bà vợ rồi em mới chịu lấy anh.

(còn tiếp)

By daohieu Posted in Chưa phân loại