LS.Trần Quốc Thuận trả lời phỏng vấn BVN

Đăng bởi bvnpost on 29/11/2010

(Phỏng vấn luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội, hiện là Ủy viên Hội đồng luật sư toàn quốc, Ủy viên Hội đồng tư vấn về dân chủ & pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó ban thường trực Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị bắt tù đày Việt Nam)

Thuận Thiên thực hiện

Trong buổi giải trình trước Quốc hội ngày 24/11 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố về dự án Bauxite như sau: Trước mắt, khẩn trương triển khai thí điểm hai dự án Tân Rai, Nhân Cơ. Nhưng cũng khẳng định: Nếu dự án bảo đảm chặt chẽ môi trường mới triển khai. Là một trong những cựu quan chức cao cấp ký tên vào bản Kiến nghị dừng khai thác Bauxite (bản thứ hai), ông có yên tâm với tuyên bố ấy của Thủ tướng?

Ông Trần Quốc Thuận (TQT): Ngay khi có kiến nghị của Bác Võ Nguyên Giáp và nhiều nhân sĩ trí thức yêu cầu dừng dự án Bauxite, tôi rất đồng tình. Tốt nhất là không triển khai việc khai thác vì có bao nhiêu tác hại rất lớn về môi trường, an ninh, xã hội, nguy cơ đến lợi ích của nhiều thế hệ. Thủ tướng nói phải có giải pháp bảo đảm không xảy ra nguy cơ thì mới tiến hành. Lời tuyên bố chưa làm tôi có niềm tin. Vì nhiều nhà khoa học đã nêu rõ những điều kiện đảm bảo an toàn hết sức khó khăn, thí dụ như xử lý hồ chứa bùn đỏ phải trải mấy tầng đất, cát, rổi xây bờ bao xung quanh đến 120 ha, tính ra hàng triệu mét khối, liệu có làm được không? Kinh phí ra sao? Rồi như thế thì hiệu quả kinh tế thế nào đây? Không ai trả lời được một cách thuyết phục. Rồi thời gian dài bùn đỏ sẽ thấm xuống sâu, thấm ngang, không thấy đặt thành vấn đề. Chưa nói chuyện vận chuyển từ Tây Nguyên xuống bờ biển Bình Thuận, Ninh Thuận…

Những kiểu đảm bảo của các vị có trách nhiệm nghe được trên Quốc hội chỉ là nói để mà nói chứ không khả thi, các vị ấy có ở cương vị của họ suốt đời để xử lý khi bể bạc hay không, thực tế thì nhiều vị cũng sắp nghỉ vi quá tuổi theo qui định? Đến lúc ấy ai chịu? Kỷ luật, bỏ tù ai? Thậm chí có tử hình ai đó thì hàng triệu con người, môi trường, nguồn nước… dưới hạ lưu cũng đã bị tử hình vì bùn đỏ.

Nhưng Thủ tướng cũng như nhiều quan chức chính phủ vẫn khẳng định: Khai thác bôxit là chủ trương nhất quán từ ĐH IX và X của Đảng. Trong hai nhiệm kỳ vừa qua đã nhiều lần báo cáo vấn đề này. Như thế nghĩa là việc không thể nào khác, có đại biểu Quốc hội dùng hình ảnh “ván đã đóng thuyền”?

TQT: Không phải cứ chủ trương của Đảng là nhất thiết phải làm. Trong lịch sử đã có những chủ trương sau đó phải thay đổi. Nếu không thế thì làm gì có Đổi mới? Như nghị quyết IV chủ trương cải tạo kinh tế tư nhân, dẫn đến bờ vực thì phải Đổi mới ở Đại hội VI. Chẳng lẽ bao giờ Trung ương thấy bùn đỏ tràn ra mới thôi? Trong khi bùn đỏ ở Hungary, mưa bão các ngày qua ở Miền Trung đã chẳng là lời cảnh báo đó sao?

Tôi không mấy thích thú theo dõi các vị trong Chính phủ trả lời Quốc hội, vì thấy nhiều kiểu trả lời “cuội”, hô khẩu hiệu, cứ bí thì đưa ra cái chiêu “làm theo chủ trương của Đảng, theo pháp luật”… Tôi nghĩ trước nhất Bộ Chính trị có trách nhiệm giao cho các cơ quan chuyên môn tập họp hết ý kiến các nhà khoa học về vụ Bauxite trình đầy đủ Ban Chấp hành Trung ương xem xét. Tôi tin rằng Trung ương không phải toàn người vô tâm, còn nhiều người có tâm, nhưng không phải ai cũng hiểu sâu về chuyên môn. Trước mắt, sao ta không tổ chức đối thoại khoa học, mời cả các chuyên gia, trí thức ở nước ngoài, để lãnh đạo ngồi nghe, và công khai truyền hình trực tiếp để nhân dân theo dõi. Hơn là một bên cứ nói, một bên cứ làm và dẫn nghị quyết. Nghị quyết đâu phải là chân lý, nghị quyết do con người làm ra, có thể đúng, cũng có thể sai, mà sai thì có thể sửa, đâu phải đinh đóng cột?

Tôi cảm thấy tiến độ làm Bauxite vội vã như là làm lấy rồi, chạy đua thời gian, để mọi người thấy đã bỏ ra mấy ngàn tỷ đồng thì xót ruột cho làm luôn. Thà chịu mất mấy ngàn tỷ bây giờ, đất nước cũng không nghèo đi, còn hơn rồi ra lại như Vinashin, cứ làm, vỡ nợ rồi phá sản, vẫn tái cơ cấu. Khi vụ Bauxite nổ ra, TPHCM có hội nghị các cán bộ cao cấp về hưu, nhiều người quyết liệt phản đối dự án. Có vị nói thẳng đã lỡ ký kết thì cũng phải bỏ hợp đồng, đền người ta, coi như học phí. Tôi đặc biệt quan tâm: Bauxite là ta cam kết với một nước lúc nào cũng tuyên bố “16 chữ vàng” mà thực tế thì luôn thù địch, nào Biển Đông, nào Hoàng Sa, Trường Sa, nào bắt bớ, phạt vạ, bắn giết ngư dân ta… Vậy sao ta phải khăng khăng làm chứ?

Vụ Bauxite cũng bộc lộ mâu thuẫn giữa lý thuyết quyền lực cao nhất thuộc về Quốc hội như hiến pháp khẳng định với thực tế là Đảng quyết định hết. Chủ trương khai thác Bauxite Tổng Bí thư ký với nước ngoài trước, rồi Đại hội Đảng đưa vào nghị quyết, trong khi Quốc hội chưa hề bàn bạc. Là một quan chức Quốc hội, ông suy nghĩ gì về cách điều hành đất nước như thế?

TQT: Người ta đã nói rất nhiều về chuyện này. Khi bàn về Hiến pháp 1992, tôi, lúc ấy là Thư ký Hội đồng Nhân dân TPHCM (chức danh hiện nay là Ủy viên Thường trực Hội đồng Nhân dân) tổng hợp đã có nhiều ý kiến: phải luật hoá sự lãnh đạo của Đảng. Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, chủ trương đúng thì dân hoan nghênh, chủ trương sai thì sao? Đồng ý là Đảng lãnh đạo, nhưng lãnh đạo tới đâu, quyền hạn tới đâu? Phải luật hóa. Quốc hội có luật Quốc hội, Chính phủ có luật Chính phủ, Tòa án Tối cao, Viện Kiểm sáy Nhân dân tối cao đều có luật, sao Đảng là cơ quan lãnh đạo lại không bị ràng buộc bởi luật, không bị quản lý bằng luật? Vấn đề phải đặt trên bàn Đại hội Đảng kỳ này.

Quốc hội khóa VIII, thời Chủ tịch Lê Quang Đạo đã đặt vấn đề này. Chủ tịch Nguyễn Văn An đã gợi ý: Quốc hội bàn trước chủ trương, rồi Đảng bàn, cuối cùng Quốc hội kết luận. Đảng quyết vấn đề gì còn Quốc hội được quyết vấn đề gì chứ không phải vấn đề gì Đảng cũng quyết hết. Nhưng trên thực tế vấn đề gì Đảng cũng quyết hết: Đảng bàn rồi, Quốc hội phải nghe theo. Như chuyện bỏ phiếu mở rộng Hà Nội, khi Quốc hội bỏ phiếu thăm dò thì số phản đối nhiều hơn, nhưng sau đó Đảng triệu tập trưởng đoàn đại biểu các tỉnh, nêu ra nghị quyết Đảng, thế là khi bỏ phiếu bấm nút, kết quả ngược lại. Kỳ đó tôi không đồng tình. Có người nói với tôi: Tôi cũng đồng ý với anh, nhưng anh phải thông cảm vì tôi còn đang làm việc (!!!). Như vậy thì Hiến pháp, Luật qui định Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất còn có ý nghĩa gì trên thực tế?

Thế đấy! Bác Hồ nói: Trước hết phải dân chủ thật rộng rãi trong Đảng, Dân chủ là để người dân mở miệng. Cán bộ cao cấp của Đảng còn không được mở miệng, không được thể hiện ý kiến của mình, thì rất nguy hiểm!

Ở đây có sự lạm dụng tập trung dân chủ. Người ta nói phải dân chủ tập trung chứ không phải tập trung dân chủ. Phải coi lại.

Cái sai lớn nhất là ở thiết kế bộ máy nhà nước, tổ chức Đảng. Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng nói: Đã đến lúc phải đưa ra Đại hội mổ xẻ bộ máy Đảng, bô máy nhà nước. Phải mổ xẻ như Đại hội VI, may ra đất nước mới khá lên được.

Trí tuệ của cả dân tộc phải hơn trí tuệ của một nhóm người, phải lấy ý kiến của nhân dân, phải trưng cầu ý kiến nhân dân những vấn đề quan trọng của đất nước. Ý nguyện của dân tộc đã thể hiện rõ qua phát biểu của Bác Hồ, qua Hiến pháp 1946. Sau Độc lập thì Tự do Dân chủ là khát vọng lớn nhất của dân tộc. Trong khi đó, qua các Đại hội Đảng, chữ Dân chủ được đưa vào nghị quyết một cách rất dè dặt, chậm chạp. Mãi đến Đại hội X mới đưa vào (xã hội công bằng, dân chủ, văn minh), bây giờ người ta đòi hỏi quá thì dân chủ mới được đưa lên trước một chút (dân chủ, công bằng, văn minh), nhưng dân chủ phải có nội hàm, cần có lộ trình rõ ràng cụ thể, thực hiện dân chủ trên mọi lĩnh vực đời sống chính trị của nhân dân,công khai để nhân dân biết, giám sát.

Đảng phải xác định là Đảng của dân tộc, Đảng phải phục vụ dân tộc, không thế đứng trên dân tộc.

Ông đã phát biểu rất thẳng thắn, rõ ràng về dự án Bauxite và hệ thống chính trị. Ngoài ra ông còn muốn gửi gắm những gì qua mạng Bauxite Việt Nam?

TQT: Theo dõi chất vấn của Quốc hội trong 2 ngày rưỡi qua, tôi có cái mừng: Nhiều Đại biểu Quốc hội như Nguyễn Minh Thuyết, Phạm Thị Loan, Lê Văn Cuông, Lê Quang Bình, Dương Trung Quốc… rất trí tuệ, thẳng thắn, dũng cảm, nói được ý nguyện của dân. Đặc biệt về những vấn đề nóng bỏng như Vinashin, Bauxite. Nhưng buồn là những người đứng đầu Nhà nước không thấy trách nhiệm của mình, trả lời quanh co, hoặc dựa vào “chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước”. Chủ trương của Đảng đâu? Pháp luật đâu? Vinashin là rõ nhất. Đảng chủ trương phải có công nghiệp đóng tàu là đúng, nhưng làm sai tòe loe, tiền đổ vào như nước mà không kiểm soát, mà buông lỏng. Có những quyết định, nghị định của Thủ trong về cơ chế đặc thù này, Thủ tướng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Không thể viện dẫn luật Doanh nghiệp để biện minh sự tự tung tự tác của Vinashin. Ở đây là những văn bản đặc thù, không căn cứ theo luật Doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phần lớn là công ty cổ phần, còn Vinashin là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải… không kiểm soát được mà lại nói không chịu trách nhiệm?

Dầu sao kết luận của Thủ tướng cũng hé ra một chút hy vọng: Chính phủ, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng phải kiểm điểm đến nơi đến chốn, không làm qua loa. Tôi chờ Bộ Chính trị, BCH TƯ phản ứng thế nào cho hợp lòng dân, bảo vệ được tiền của, tài sản của nhân dân, của nhà nước. Thế giới người ta xử lý các vụ tương tự thế nào ta đều biết.

Những trả lời về Bauxite cũng không đáp ứng sự mong đợi. Không trả lời được cụ thể vào các băn khoăn của đại biểu, của dân, chỉ cam kết chung chung.

Tôi đánh giá những trả lời của thành viên Chính phủ không xứng với tầm trí tuệ của nhân dân, không thể hiện phẩm giá của một dân tộc có ngàn năm lịch sử, có nền văn hiến riêng biệt.

Nhân đây tôi cũng xin hoan nghênh mạng Bauxite Việt Nam, hoan nghênh các bài đăng tải trên mạng. Chúng ta cần công khai giới thiệu mạng Bauxite cho nhiều người đọc.

Tôi kiến nghị mạng Bauxite tổng hợp các bài viết về vấn đề Bauxite, nhất là những bài của các nhà khoa học kỹ thuật, có các số liệu khoa học chứng minh cách tính toán thiếu khoa học, không khả thi của những người chủ trương dự án; làm thành một tài liệu tổng quan, in ra để giúp các cơ quan có trách nhiệm. Nếu kịp thì gửi ngay cho kỳ họp Ban Chấp hành TƯ tới, trễ thì gửi tới Đại hội XI để các đại biểu và mọi người biết rõ.

Mạng Bauxite đã vào cuộc, đã nhảy ra nói tiếng nói của nhân dân thì xin đi đến nơi đến chốn: tổng hợp cả vấn đề Vinashin gửi các cơ quan trách nhiệm, không “để lâu cứt trâu hóa bùn”, không để chìm xuống.

Xin cảm ơn ông.

T. T.

Người phỏng vấn trực tiếp gửi cho BVN

Cớ gì bây giờ “đồng chí” sợ “đồng chí”?

Trong bài viết Kiến nghị dừng khai thác bauxite…, Luật gia Lê Hiếu Đằng nêu lên tình trạng các cán bộ, đảng viên, báo chí, đại biểu Quốc hội cứ giữ im lặng, cứ “nhân nhượng, dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc”, “không có ai lên tiếng thẳng thắn về những chuyện nghiêm trọng” như vụ khai thác bô-xít, cho thuê rừng đầu nguồn, vụ Vinashin, v.v., và ông quy nguyên nhân về nỗi SỢ.

Nỗi sợ thì không lạ, trước mắt là trăm ngàn nỗi sợ khác nhau, nhưng là một đảng viên khá cao cấp, ông LHĐ đề cập đến một nỗi SỢ rất đặc biệt, rất “nội bộ”: đảng viên trong cùng một đảng lại sợ nhau, và ông tự hỏi “cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình”? Nỗi sợ này, theo ông LHĐ là vô lý. Và để nhấn mạnh sự cực kỳ vô lý, ông khẳng định nỗi sợ này lại nằm trong những con người không hề nhút nhát, trái lại đã từng gan góc trước “kẻ thù” (lúc ấy), từng coi cái chết nhẹ như lông hồng! Vô lý nữa, tình “đồng chí” đã từng được coi là mặn nồng hơn cả tình ruột thịt, sao lại có thể sợ nhau?

Nghĩ rằng “nỗi sợ đồng chí” là vô lý, là không thể chấp nhận nên ông LHĐ nhắn nhủ và động viên tất cả các đồng chí của mình, rằng hãy mạnh dạn lên tiếng trước các vấn nạn, như ông đã lên tiếng. Quả thực so với trước đây, bây giờ đã ngày càng nhiều đảng viên (và các cán bộ của Đảng) đã dám mạnh dạn lên tiếng. Ý kiến của ông LHĐ đang có tác dụng thúc giục thêm, vậy đây là một ý kiến đáng trân trọng.

*

Song, nếu nhìn toàn cảnh thì sự im tiếng, sự sợ hãi vẫn chiếm số rất đông, số đảng viên mạnh dạn lên tiếng còn lâu mới được 1 phần trăm! Nghĩa là vượt qua “nỗi sợ đồng chí” không phải việc đơn giản, bởi nỗi sợ ấy không vô lý như ta tưởng, mà nó có lý của nó. Có lẽ vì thế mà TS Hà Sĩ Phu đã khẳng định rằng muốn giải thích được nỗi sợ ấy cần vận dụng đến 3 điều không đơn giản là “sự hiểu biết, lòng trung thực và nhân cách”! Muốn “giải đáp cho ra ngọn nguồn” như lời TS HSP thật không đơn giản chút nào. Tôi xin mạo muội đề cập đôi điều góp phần lý giải vấn đề không đơn giản ấy.

Trong chiến tranh thì toàn Đảng và dân chúng (do Đảng lãnh đạo) ở cùng một phía, phía kia là thực dân Pháp hoặc Mỹ cùng với chính quyền miền Nam. Lúc ấy quyền và lợi cơ bản chưa có, chỉ có gian khổ hy sinh. Lúc ấy có thể nói “Đảng với dân là một”, huống chi cùng là “đồng chí” trong Đảng thì sự chia sẻ gian khổ với nhau còn hơn cả người thân. Chữ “đồng chí” lúc ấy thiêng liêng, đáng yêu đến mức Tố Hữu viết: “Thương nhau, anh gọi em: Đồng chí!”, gọi “đồng chí” là âu yếm hơn cả vợ chồng. Sau này khi mô tả lại, nhà thơ Bùi Minh Quốc cũng viết “Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ”, tình đồng chí là tình máu thịt. Nếu “đồng chí” với nghĩa như vậy thì làm gì có chuyện “sợ” nhau như bây giờ? Lúc ấy, nếu cấp dưới có phải nghe lệnh cấp trên thì cũng là tự nguyện.

Nhưng chiến thắng là bước ngoặc phân ly, chấm dứt quan hệ cũ, bắt đầu quan hệ mới. Đảng lên nắm chính quyền một cách cố định không luân chuyển, lãnh đạo cả đất nước, đầy quyền uy. Dù có thương yêu nhau đến mấy, trong cấu trúc xã hội tự nhiên cũng phân thành hai cực, Đảng ở cực lãnh đạo (hay cai trị), dân ở cực bị lãnh đạo (hay bị cai trị). Không có lý thuyết xã hội học nào lại coi hai cực cai trị và bị trị “là một” cả, từ đây nếu còn nói “Đảng với dân là một” là duy ý chí. Quan hệ giữa hai cực “đối tác” ấy sẽ hài hòa hay bất ổn là phụ thuộc vào đường lối của giới cai trị có thuận lòng dân hay không, lợi ích có mâu thuẫn với lợi ích dân tộc hay không.

Song xét thực chất, quyền lực không nằm ở toàn Đảng, quyền lực chỉ nằm trong tay thiểu số Đảng viên trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương. Đa số đảng viên là “đảng viên thường” thực chất chỉ là công cụ để thực hiện những chủ trương của Bộ Chính trị và BCH Trung ương. Hơn 2 triệu “đảng viên thường” này nằm ở giữa hai cực cai trị và bị cai trị. Về danh nghĩa họ là “công dân loại 1”, được hưởng một số quyền lợi của đảng viên, nhưng vì họ là công cụ giao lưu trực tiếp với dân nên phần nào họ cũng gần dân, và về một số mặt họ bị thiệt thòi hơn cả dân thường. “Đảng viên thường”, hay đảng viên cấp dưới, có nhiệm vụ phải làm gương, vừa để cho dân trông vào, vừa làm bình phong che cho những tật xấu, những điều bất chính ở các cấp cao. Thậm chí, khi phạm tội lỗi mà bị dân phát hiện họ dễ dàng bị kỷ luật để tượng trưng cho tính nghiêm minh. Nhiều đảng viên thổ lộ rằng sự mất dân chủ trong đảng còn nặng nề hơn bên ngoài, “19 điều cấm” khiến cho “đảng viên thường” còn thua một công dân bình thường về quyền công dân.

Trong Đảng, trật tự tôn ty phân biệt rất rõ, phẩm trật trên dưới phân định quyền sinh quyền sát nghiêm khắc hơn thời phong kiến, thử hỏi các “đảng viên thường” tức đảng viên không giữ quyền lực không sợ các đồng chí” nắm quyền ở thượng cấp sao được? Không thể tự ý ra khỏi Đảng, không được nói tiếng nói của lòng mình, đa số họ cũng đầy tâm tư, bế tắc, luôn sống trong nỗi sợ.

Lại xét đến những biến động ngay trong giới nắm quyền lực. Quyền lực biến đổi con người, lúc gian khổ họ khiêm nhường, nhân ái. Quyền càng to càng mau tha hóa, trở nên ham muốn vô bờ và mưu mẹo, sẵn sàng phản bội tình “đồng chí”, sẵn sàng cướp công, vu vạ, hãm hại “đồng chí” như chơi.

Hãy so sánh hai bài thơ mô tả tình đồng chí ở hai thời kỳ chưa cầm quyền và cầm quyền thì rõ.

Năm 1948, mấy ai không thuộc bài “Đồng chí” của Chính Hữu:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay…

Nhà thơ Bùi Minh Quốc chỉ vì đòi quyền tự do sáng tác (theo đúng tinh thần nghị quyết 05 của BCT) mà bị khai trừ, năm 1988, trong bài “Những ngày thường đã cháy lên” ông viết:

Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này?
Đồng chí – dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
và mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy!

Rồi năm 1997, trong bài “Hý trường” của tập “Thơ vụt hiện trong phòng thẩm vấn” có đoạn:

Hậu trường có gì xôm không nhỉ?

Cuộc sát phạt vào màn hay ho

Đồng chí ăn thịt đồng chí

Nhạc hùng càng nổi to! (http://www.hasiphu.com/nhomdalat_BMQ19.html)

Dao ém nhẹm giữa lòng tay”, “mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy”, “đồng chí ăn thịt đồng chí” thì các đồng chí phải “sợ các đồng chí của mình” là lẽ đương nhiên, có gì là vô lý? Sự cạnh tranh chức quyền và “lợi ích nhóm” khiến cho cấp dưới sợ cấp trên đã đành, mà các cấp trên với nhau cũng “sợ” nhau từng giờ từng phút, nhất là trước thềm những Đại hội.

Báo chí của Đảng đang nêu bật mối lo sợ “tự diễn biến”, nhưng đây là sự tự diễn biến theo cả hai phía, một phía cấp tiến, gần lại hơn với nhân dân và thời đại dân chủ tự do, một phía bị tha hóa bởi quyền lực, miệng nói lý tưởng nhưng việc làm lại hy sinh lý tưởng cho lợi quyền riêng. Sự phân ly về hai phía không tránh khỏi ấy sẽ khiến cho tính chất “đồng chí” suy giảm dần, đến một lúc khó coi nhau là “đồng chí”, sẵn sàng quy kết nhau, thì sợ nhau là phải!

*

Lấy quá khứ làm điểm tựa, Luật gia Lê Hiếu Đằng cứ giả thiết mọi người còn đồng tâm thực thi lý tưởng Độc lập – Dân chủ nên coi hiện tượng “đồng chí sợ đồng chí” là VÔ LÝ, cần khắc phục ngay. Trái lại, TS HSP với cái nhìn khoa học lại gợi ý rằng tình trạng này rất khó khắc phục vì “đồng chí sợ đồng chí” là rất CÓ LÝ, cần vận dụng cả “sự hiểu biết, lòng trung thực và cả nhân cách” mới lý giải được, nếu thiếu một trong ba nhân tố ấy, câu trả lời sẽ “ấp úng” ngay! Theo HSP thì đa số đảng viên và cán bộ vẫn cứ “tự kiểm duyệt” để biến những mệnh lệnh không văn bản của thượng cấp thành sự đồng thuận tự nguyện, để mọi thứ vẫn êm trôi như không có gì xảy ra. Khi nỗi sợ đã ngấm vào máu, đã thành bản năng sinh tồn thì những lời động viên khích lệ chưa đủ, cần sự tháo gỡ từ gốc! Phải làm sao để đảng viên không phải sợ Đảng, “đồng chí” với nhau không phải sợ nhau nữa?

Như vậy thì cả ý kiến của hai ông đều đúng, mỗi ý kiến đáp ứng một phần của hiện thực và có tác dụng riêng, cả hai gộp lại mới thành bức tranh toàn cảnh về “nỗi sợ đồng chí”. Nỗi sợ ấy vẫn là một trở ngại vô cùng nặng nề, ngăn cản sự thực hiện lời Đảng rằng phải “dũng cảm nhìn thẳng sự thật, nói hết sự thật”, ngăn cản việc đặt lên bàn những vấn nạn công khai để mổ xẻ thật cụ thể và tìm cách khắc phục hữu hiệu.

Cùng với Luật gia LHĐ, ngày càng nhiều ý kiến đồng ý rằng “Dân chủ là giải pháp cho mọi vấn đề của đất nước, nhưng cần nói tiếp: “chưa có được dân chủ trong Đảng thì chưa thể nói gì đến dân chủ cho xã hội”!

Làm thế nào chuyển được những nhận thức này thành hiện thực, chắc chắn đây không phải bài toán dễ dàng, nhưng chừng nào chưa giải được bài toán gốc này thì những việc hệ trọng cho quốc kế dân sinh như vụ Bauxite, vụ Vinashin, vụ Tàu cao tốc, vụ cho thuê rừng đầu nguồn, dù có đưa ra Quốc hội (nơi đại đa số là đảng viên) cuối cùng cũng chỉ loanh quanh dẫm chân tại chỗ, cứ “vũ như cẫn” hoặc càng xấu hơn.

Đăng bởi bvnpost on 27/11/2010

(Suy ngẫm cùng Luật gia Lê Hiếu Đằng và TS Hà Sĩ Phu)

V. Quốc Uy

 

 

Trích đoạn ” Hoa dại lang thang”

“HOA DẠI LANG THANG” là một truyện dài của Đào Hiếu xuất bản năm 1990. Nhân vật chính là một thằng Hề và một cô gái tên Phượng con nhà giàu, ngỗ ngáo. Đó là một cặp Bonnie và Clyde thời đại mới, biểu lộ tính cách nổi loạn của những người chối bỏ xã hội hiện nay. Sau đây là vài trích đoạn mà có lẽ bạn đọc rồi nhưng đã quên.

mười

Chiếc Toyota 800 vừa rẽ sang đường Trần Hưng Ðạo thì Phượng phát hiện bị theo dõi. Kẻ đang bám theo là bốn công an hình sự mặc thường phục đi xe CD 90 màu đen. Mã Long cho xe tăng tốc hướng thẳng về phía Sài Gòn.

Ðồng hồ trên nóc chợ Bến Thành chỉ hai mươi giờ mười phút. Chiếc Toyota 800 dừng gấp trước cửa Nam. Hùng và Phượng phóng xuống xe. Phượng xách chiếc vali còn Hùng chạy theo yểm trợ. Giờ ấy chợ đã đóng cửa nhưng hai người cũng luồn lách được trong đám người đi bộ, lẩn vào bóng tối đường Phan Bội Châu. Hai chiếc CD 90 băng qua đường nhưng vì ở góc đó xe từ dưới đường Lê Lợi đổ lên quá nhiều nên bị mắc kẹt giữa lộ. Hai người trinh sát ngồi sau xe phải chạy bộ đuổi theo Phượng và Hùng lúc ấy đã lên một chiếc Cub chờ sẵn và phóng đi về hướng Tạ Thu Thâu.

Hai chiếc CD 90 cũng vừa trờ tới. Cuộc rượt đuổi diễn ra ngay trước mắt những người đi đường. Các cửa tiệm bán quần áo đang chuẩn bị đóng cửa cũng trở nên huyên náo. Người ta túa ra đường đông nghẹt.

Hùng cho xe ngoặt qua đường Nguyễn Trung Trực. Hai chiếc CD rẽ theo, bắn súng chỉ thiên mấy phát liền. Tới đường Nguyễn Du thì Hùng quẹo trái, xả hết ga.

Phượng nói:

– Ráng cho tới Cách Mạng Tháng Tám ở đó có nhiều tụ điểm ca nhạc mình bỏ xe lẩn vô đám đông.

Hùng bấm còi inh ỏi, vừa lạng vừa phóng như bay. Nhưng đến gần ngã ba Cách Mạng Tháng Tám thì xe của Hùng gặp một chiếc Cub đi ngược chiều mà không có đèn. Hùng đạp thắng, xe day đít leo lề, ngã nhào xuống đường.

Hai chiếc CD trờ tới. Hùng bị thương ở chân không chạy kịp nên bị bắt. Phượng phóng tới đám đông với chiếc vali nhỏ trên tay. Cảnh sát rượt theo, thổi còi inh ỏi. Lúc ấy xuất hát vừa tan, khán giả ra đường đông nghẹt. Phượng mất hút trong dó. Nhưng cô không dám trổ ra đường lớn, cô leo qua một hàng rào sắt, lọt vô sân tấu hài, từ đó Phượng đi bộ qua một đám đông nữa, leo qua hai cái hàng rào.

Còi cảnh sát rúc liên hồi sau lưng. Phượng quay lại, thấy đám đông trước sân tấu hài đã hỗn loạn, cô quyết định chạy thẳng vô nhà Văn Hóa Lao Ðộng. Cô nhận ra trước mặt mình là một vùng sáng rực rỡ. Ðó là rạp xiếc. Phượng chạy vội đến đó. Nhưng vì trong lều dù đoàn đang diễn nên ngoài sân vắng người. Phượng chạy ra phía sau lều vải trốn vào một bụi cây cạnh cái ghế đá ngày trước thằng hề ngồi uống nước.

Lúc ấy bốn viên cảnh sát đã vào đến sân quần vợt, ánh đèn pin quét lên các lối đi cạnh hồ bơi.

Phượng vừa định di chuyển sang chỗ khác thì trong rạp xiếc một bóng đen lù lù bước ra. Ðó là thằng Hề. Cô bước ra khỏi lùm cây một cách đột ngột làm thằng hề giật mình.

– Ai đấy? Hề hỏi.

– Phượng đây. Anh còn nhớ em không?

Hề cười làm cho cái miệng hóa trang trở nên quái đản.

– Lại mất đồng hồ à?

Phượng nắm lấy cổ tay thằng hề, nói nhanh:

– Em đang bị công an săn đuổi. Anh cứu em với.

Hề trố mắt nhìn cô gái, tưởng cô nói đùa. Ngay lúc đó súng nổ liền ba phát, ánh đèn pin lấp lóa và bốn viên cảnh sát lúc nãy chạy bọc quanh nhà dù…

– Họ tìm bắt em đấy. Phượng nói. Hãy đưa em đi.

Hề nghe ngóng một lát rồi bảo:

– Ðợi tôi một chút.

Và hắn đi lấy xe.

Chỉ ba mươi giây sau hai người đã vụt ra khỏi khuôn viên nhà văn hóa Lao Ðộng, tới đường Huyền Trân Công Chúa.

Chiếc Suzuki già nua của thằng hề chạy khục khặc mãi mới leo qua khỏi cầu Sài Gòn, lúc ấy đã gần mười giờ đêm, nhưng chiếc xe chỉ chạy thêm một đoạn nữa thì chết máy. Hề liền mở bugi ra cạo nhưng xe vẫn không nổ.

– Xe gì dỏm quá vậy. Phượng kêu lên. Ðốt đi cho rồi.

– Ðốt đi. Hề nói và đưa quẹt ga cho Phượng.

Lúc này cô mới để ý đến bộ mặt hóa trang còn y nguyên của thằng hề. Mồ hôi làm cho son phấn bột màu trên mặt hắn nhão ra trông nham nhở khủng khiếp.

– Lau mặt đi. Phượng nói.

– Không cần, hề nói, tôi phải sửa cái xe đã.

Nhưng Phượng đã lôi trong bụng ra một khẩu súng ngắn. Cô đứng ngay giữa đường chờ đợi.

Lúc ấy có một người đàn ông đứng tuổi cưỡi một chiếc Honda sáu bảy từ phía Sài Gòn chạy ra. Phượng giăng hai tay chận lại.

– Xuống xe! Phượng chĩa súng vô ngực người đàn ông, ra lệnh. Ông la tôi bắn liền.

Người đàn ông định phản ứng nhưng chợt thấy thằng hề lù lù xuất hiện với bộ mặt gớm ghiếc ông ta sợ quá bỏ chạy.

Dường như điều đó làm hề thích thú, hắn cười ha hả rồi bật quẹt ga, giựt ống dẫn xăng chiếc Suzuki cổ lỗ sĩ của mình ra, châm lửa đốt.

Họ lại lên chiếc xe vừa cướp được. Nhưng Phượng bỗng nói:

– Ðuổi theo người đàn ông.

– Em định giết ông ta à?

– Ðừng hỏi.

Hề cho xe quay lại, ép người đàn ông vô lề.

Thấy con quỷ có cái mũi cà chua đuổi theo, ông ta sợ quá chắp tay lạy.

– Xin tha cho tôi.

Phượng nói:

– Bác đừng sợ. Hãy giữ lấy cái vali này. Bán đi, bác cũng đủ tiền mua một chiếc xe mới.

Phượng thảy chiếc va li trước mặt người đàn ông run rẩy rồi lên xe.

Họ lại phóng đi về hướng Biên Hòa.

Hề chạy xe rất nhanh và cười ha hả. Hắn nói:

– Tôi thích mẫu người như em lắm.

Phượng thở phào. Gió mát làm cô thấy dễ chịu

– Anh cũng thuộc loại liều đấy. Thế bây giờ đi đâu đây?

– Tôi cũng đang định hỏi em câu đó.

– Em không biết.

– Tôi cũng không biết. Nhưng mà cứ đi, khi nào hết xăng thì dừng lại.

Phượng nói:

– Anh có người quen nào làm rẫy không?

– Có. Nhưng mà xa lắm. Ở Long Khánh lận.

– Mở nắp bình xăng coi.

Hề thọc ngón tay vô bình xăng, thấy xăng còn đầy, hắn nói:

– Nếu em thích mình có đủ xăng đến đó.

– Em rất thích.

– Thế em bỏ nhà đi luôn à?

– Bỏ.

– Nhưng em làm gì mà bị săn đuổi vậy?

– Ăn cướp.

– Em cần tiền đến vậy à?

– Không.

– Sao lại ăn cướp?

Phượng cười:

– Anh có biết cái va li đựng gì không?

– Ðôla chứ gì?

– Thuốc phiện. Em buôn lậu mà. Băng tụi em có ba người, một người bị bắt lúc chạy với em. Trong vali có năm ký thuốc phiện.

– Sao em bỏ lại?

– Vì em không cần tiền. Em chỉ ham vui. Nhưng mấy người bạn em họ rất ham làm giàu. Thế còn anh, anh có ham làm giàu không?

Thằng hề:

– Rất tiếc là nghề của anh không thể làm giàu được. Anh làm thẳng hề cũng để cho vui vậy thôi.

– Thế bây giờ anh cũng bỏ đoàn để đi với em à?

– Nếu không gặp em đêm nay thì một ngày nào đó anh cũng bỏ đoàn mà đi. Anh đã thay đổi cuộc sống cả chục lần rồi.

– Người ta nói trước đây anh có đi kháng chiến phải không?

– Ai nói?

– Ông chủ tịch quận. Ông ta là bạn của ba em. Ông ta nói có lần ông ta và anh qua sông bị phục kích chìm xuồng.

– Có lẽ vậy.

– Thế còn nhà văn và nhà sư? Họ kể rằng có gặp anh trong một chuyến đi biên giới Tây Nam gì đó. Ðúng không?

Hề bật cười, xe đi chậm lại một chút:

– Té ra em quen hết mấy tay đó à. Ba em làm gì vậy?

– Ðại khái ba em là một người làm kinh tế. Nhưng không phải cán bộ. Ông chơi với những người ấy vì cùng ở trong hội đánh quần vợt. Hình như những người ấy họ không ưa anh?

– Họ sống giả. Sống giả trong một xã hội giả. Em chơi với họ em có thấy như vậy không?

– Có những lúc em cảm thấy gần như tất cả quanh em mọi người đều sống giả anh ạ. Vậy mà cả đời họ cứ cam chịu. Họ còn hãnh diện nữa là đàng khác. Như cái tay giám đốc phát hành sách, cũng là bạn của ba em. Ông ta liên kết với ông nhà văn gợi ý cho ông này viết đủ thứ chuyện: Chuyện chống tiêu cực, chuyện đổi mới, chuyện kiếm hiệp… rồi ông ta bỏ vốn ra in làm giàu. Có nhiều tiền không biết làm gì, tối nào cũng đi đánh bạc, chơi gái hoặc nhậu nhẹt. Mới đây ông xin từ chức Giám đốc và tuyên bố: Tớ sẽ ra đảng, sẽ gia nhập đảng mới. Sẽ làm lãnh tụ. Anh có tin rằng ông ta sẽ thành công không?

– Tại sao không? Trước nay những người như thế thường thành công.

Xe vượt qua một rừng cao su âm u dày đặc và đến một thôn xóm còn leo lét ánh đèn. Phượng coi đồng hồ:

– Gần mười hai giờ rồi. Có lẽ phải kiếm một chỗ nào đó nghỉ chân mai đi tiếp. Ði thế này em sợ.

Hề nói:

– Không sao. Sắp tới nơi rồi. Còn chừng bảy cây số nữa thôi.

– Nhưng anh đừng chạy nhanh quá, em thấy lạnh.

Hề giữ tốc độ ở mức ba mươi cây số giờ, vượt qua hai khu rừng cao su nữa và rẽ vào một lối mòn bên trái. Cũng may mà đèn xe rất sáng nên hề vượt qua được những vùng cây cối âm u không mấy khó khăn. Lát sau đã nghe có tiếng chó sủa và một điểm sáng leo lét xuất hiện sau những chòm lá thấp.

Hề cho xe dừng lại trước một túp lều tranh. Chó sủa dữ dội. Hề đứng thủ sau chiếc xe còn Phượng thì núp sau lưng anh. Một lát có tiếng lục đục trong nhà và cánh cửa nhỏ mở ra.

– Ai đó?

Lúc này con chó đã nhận ra hơi người quen nên chạy lại mừng. Hề hỏi:

– Anh Hai đó hả?

– Tôi đây. Ai vậy?

– Thằng hề đây, anh Hai.

– Ủa, sao chú mày đến khua khoắc vầy nè. Bộ bị lính rượt hả.

Hề cười ha hả:

– Có khi đúng vậy đó anh. Ðây là cô bạn của em.

Phượng bước ra ngoài sáng, chào người đàn ông, hỏi:

– Chắc anh ngạc nhiên lắm.

Người đàn ông cười, tiếng cười khô, rời rạc, bình thản:

– Không đâu cô. Lâu nay nó vẫn ẩn hiện như ma quỷ vậy đó.

Ông nói xong đặt cái đèn dầu lên bàn. Cánh tay ông to khỏe, đen và đầy lông lá như tay của một con vượn. Ông chỉ cái võng gai bảo:

– Cô nằm đây nghỉ. Sáng mai nói chuyện.

Rồi ông kéo tay thằng hề ra phía sau.

mười một

Ðó là lần đầu tiên trong đời, Phượng thức dậy trong sự im lặng lạ lùng của một buổi sáng rực rỡ, cô mở mắt và thấy ngay sự im lặng ấy, nó mênh mông, xa tắp, nó mơn man đâu đây, lúc xa lúc gần, được nhắc nhở bởi tiếng xào xạc nhẹ nhàng của gió, tiếng cái lá khô rơi xuống mái tranh, tiếng con chim nhỏ kêu lẻ loi góc vườn.

Nắng mới mẻ như vừa bay qua một cơn mưa để đến đây. Sự im lặng làm Phượng thức mà vẫn mơ màng như đang ở trong một giấc chiêm bao huyền hoặc.

Khi có con nhện từ trên xà nhà buông mình xuống ngay trước mặt, Phượng mới giật mình ngồi dậy. Ðôi dép vẫn để nguyên dưới đất. Phượng xuống bếp không thấy ai, dường như ngoài vườn cũng không có tiếng người.

Phượng ra sân trước ngồi dưới một gốc mít. Ðó là một cây mít còn trẻ trung cành lá um tùm, trái bám đầy trên những cành thấp. Phượng ngửa cổ nhìn tán lá, nó xòe rộng trên đầu như cái nhà dù. Trái mít tròn to ngay trước mặt, trong tầm tay. Ðột nhiên có tiếng chim hót rồi im bặt. Cô ngồi xuống chiếc giường tre kê bên cạnh một bếp lửa đã tàn.

Con chó đốm ngoài vườn đi vào ngoe nguẩy đuôi lấy lệ. Phượng vuốt đầu nó, nó nghểnh mỏ lên rồi nằm xuống cạnh đôi dép da. Vườn cây um tùm trước mặt Phượng là cả một thế giới mới lạ. Những cây lớn, tàn rộng rợp bóng cả mặt đất. Lối đi giữa những hàng cây râm mát lấm chấm bóng nắng tạo cho khu vườn cái vẻ hút sâu, bí ẩn và quyến rũ.

Phượng ngồi quan sát khu vườn, không biết nó sẽ dẫn đi đến đâu. Cô thấy nó mênh mông như rừng và túp lều mà cô đang ngồi chỉ là cái tổ chim bé nhỏ hoàn toàn cô độc. Phượng nhìn quanh cố xác định lối mòn tối qua thằng Hề đã chở mình tới đây nhưng mù tịt. Cô có cảm tưởng rằng chỉ còn mình ở lại trong xó vườn này. Thằng Hề và người anh của hắn đã để cô ở lại đây với ma quỷ, thú dữ và rắn rít.

Nhưng cái cảm giác sợ hãi ấy thoáng qua rất nhanh và Phượng nghe thoảng mùi hương ngọt ngào của trái cây chín. Ðó là một mùi pha trộn khác thường, lúc ẩn, lúc hiện.

Phượng đứng dậy, vừa đi vừa nhìn quanh, rón rén như cô bé lạc trong rừng. Hương thơm lúc nãy lại đến dẫn dụ cô. Càng lúc mùi thơm càng đậm đà hơn và khi cô nghe tiếng nước chảy róc rách thì nó trở nên ngào ngạt. Phượng bị vây quanh bởi một rừng mít tố nữ trĩu quả. Cô sờ tay vào một quả ngay trước mặt và nó rơi trên tay cô làm cô ngơ ngẩn.

Lúc ấy có tiếng chân xào xạc trên lá.

Một người đàn ông hiện ra trên lối đi, tay xách một chùm quả chín đỏ.

Lúc đầu cô tưởng là thằng hề nhưng khi đến gần thì đó là một người đàn ông trạc ngoài ba mươi có đôi lông mày rậm, cái nhìn trầm, phảng phất nét u hoài. Cái nhìn ấy gợi lên điều gì đó trong Phượng.

Cô nhìn sững người đàn ông nhưng thái độ của cô không làm ông ta ngạc nhiên. Ông đưa cho cô chùm quả chín đỏ. Phượng cầm lấy một cách máy móc, không rời mắt khỏi khuôn mặt ông ta. Tóc cắt ngắn, mày rậm, cái nhìn thẳng, vui tươi, hàng ria mép thưa nhưng đều, nụ cười tự tin và có chút gì chế diễu. Ðây là bộ mặt thật của thằng hề sao? Phượng nghĩ như vậy và lập tức đánh tan ý nghĩ đó. Vì cô nhớ là mình đã gặp anh ta, đã gặp cái khuôn mặt này ở đâu đó, có lẽ lâu lắm rồi.

– Em có thích chùm quả này không?

– Quả gì vậy? Phượng hỏi nhỏ.

– Tôi cũng không biết. Ðó là loại quả dại trong rừng không ăn được nhưng tôi thấy đẹp nên hái chơi.

Hai người bước trên lối mòn đầy bóng nắng lấm tấm. Phượng hỏi:

– Khu vườn này của anh?

– Không. Của bạn tôi.

– Anh không ngạc nhiên về sự có mặt của tôi ở đây sao?

– Không. Vì tôi đã biết em từ lâu lắm.

– Từ lúc nào?

Hai người lại nhìn nhau.

– Từ lâu.

Phượng ngẫm nghĩ. Rồi đột nhiên cô chụp lấy tay người đàn ông.

– Nhớ rồi! Ðã mấy lần em định đi Duyên Hải tìm anh.

– Ðể làm gì?

– Ðể cho anh ít tiền. Sau cái lần gặp anh ở đó về, em cứ nghĩ tại sao một người như anh lại phải làm một tay bí thư xã. Em thấy anh tội nghiệp.

– Em nghĩ vậy à?

– Ừ. Anh có vẻ là một chàng hippy nghèo hơn là một bí thư xã. Cái cách anh đối đáp với ông lớn nọ rất là lừng khừng. Em rất thích. Gần như suốt thời gian ấy em chỉ nhìn thấy có anh giữa đám đông quan chức nhốn nháo.

– Tôi cũng định nói với em như vậy. Tôi biết em ngồi trong góc nhỏ hẹp của Ủy ban, đầu tựa vô tấm phên tre.

Phượng buông tay người đàn ông ra, không hề ngượng nghịu, cô đưa chùm quả lên mũi ngửi nhưng nó không có mùi gì cả. Họ cứ đi lang thang như thế một lúc lâu mà vẫn chưa tới tận cùng của khu vườn trái cây, hay có thể là họ đang đi vòng vòng các lối mòn.

– Anh hết làm bí thư rồi sao?

– Hết. Người ta đuổi tôi.

– Ai? Có phải ông lớn ấy không?

– Cũng có thể.

– Anh đến lập nghiệp ở đây hồi nào vậy?

– Ðêm qua.

Phượng lại chụp lấy cổ tay người đàn ông, lần này cô nắm chặt như đang vặn hỏi, tra tấn.

– Ðêm qua?

– Ừ. Hồi khuya. Tôi đến đây với một cô gái trên chiếc xe ăn cướp.

– Khỉ ơi là khỉ! Phượng cười rũ. Anh đúng là thằng hề. Nhưng như thế là lên chức hay xuống chức?

– Không lên không xuống mà là chuyển ngành.

– Xạo. Nhưng không sao. Ít ra khi nhìn anh làm hề trên sân khấu em vẫn thấy đỡ tội nghiệp hơn cái hôm anh tiếp ông lớn nọ.

– Hôm đó có gì mà tội nghiệp?

– Chính ra hôm đó anh cư xử rất hay. Nhưng vì nó hay quá nên em mới thấy tội nghiệp cho một người như anh mà phải chịu dưới quyền người khác.

Hề cười:

– Nên em định cho tiền?

– Ừ. Nhưng thôi em hỏi cái này: Tại sao anh chọn làm thằng hề?

– Vì nó dễ. Chỉ cần vẽ mặt hề, mặc một cái váy là người ta cười.

– Thế bây giờ bỏ nghề đi bụi đời với em anh có tiếc không?

– Tiếc.

– Tiếc gì? Phượng hỏi.

– Tiếc số tiền em định cho tôi.

Phượng cười quá trời, họ trở lại túp lều tranh. Hề nói:

– Tôi rất mừng khi thấy em vui.

– Nhưng nếu ở đây hoài thì em cũng chán.

Hề hỏi:

– Vậy nếu bị quẳng ra đời em sẽ làm gì để sống?

– Lâu nay em không hề bận tâm đến chuyện tiền bạc. Rất nhiều lần em muốn bỏ nhà đi bụi đời nhưng trong túi phải có tiền. Vậy làm cách nào để có tiền?

Hề đáp:

– Ví dụ như làm những trò ảo thuật.

– Anh học ở đâu vậy?

– Hồi ở trong rừng bạn bè dạy.

– Thế còn nghề ăn cắp đồng hồ?

– Tôi tự nghĩ ra.

– Anh dạy cho em đi.

Hề nói một cách chân thành:

– Nếu vậy thì phải từ từ. Bây giờ mình kiếm cái gì ăn.

Hai người xuống bếp. Chiếc Honda 67 dựng ở đó.

– Cái xe tốt quá. Phượng nói. Nhưng mình phải thay bảng số.

– Chừng nào mình đi thì thay.

Họ lục cơm nguội ăn. Trong cũi còn một mớ xoài chín cây nhưng hãy còn cứng. Hề chọn một trái đưa cho Phượng và hỏi:

– Khẩu súng của em đâu rồi?

Lúc ấy Phượng mới nhớ ra. Cô đến cái hốc cây đầu võng lôi khẩu Colt 45 ra đưa cho hề. Hề nói:

– Ðể tôi cất. Có lúc mình sẽ dùng đến.

*

Chợ xổm được nhóm ngay lối đi trong làng, hề dựng xe đầu chợ. Phượng nói:

– Anh đứng đây đợi em.

Chợ thưa thớt. Những rổ trái cây, những thúng đậu phộng, đậu xanh, những sạp bán thịt rừng bày hai bên đường. Dân cư ở đây ăn mặc lôi thôi lếch thếch theo lối những người làm rẫy. Ða số mặc áo lính, áo bảo hộ lao động cũ sờn bạc màu. Phượng đến cuối chợ vẫn không tìm thấy thứ mình muốn mua. Lúc quay lại đã thấy thằng hề ôm một con khỉ nhỏ.

– Nó có cắn không? Phượng hỏi.

– Làm thân với nó đi.

Phượng bế con khỉ nhỏ lên và nhớ tới con gấu nhà mình.

Hề hỏi:

– Có mua được không?

Phượng lắc đầu. Hề chở cô gái đi sâu vào trong thị trấn. Những hàng quán mọc lên lô nhô không hàng lối. Mái tranh và mái tôn xen lẫn nhau, những cây rừng thấp được chừa lại, lá cây bám đầy đất đỏ, những tiệm phở mở nhạc xập xình. Dân làm rẫy ngồi trong quán đều quay ra nhìn hai người. Ðàn dê đi qua, ngáng trước đầu xe, hề phải dừng lại đợi. Phượng nói:

– Em thích những thị trấn đơn độc như thế này. Nó hoang dã và man rợ. Em thích tiếp xúc với những cư dân tạp chủng từ các nơi hội tụ lại. Anh nhìn họ uống cà phê kìa.

Họ phì phèo thuốc lá, quần jean rách te tua, vá nhiều miếng. Râu cá chốt, tóc bồng bềnh và cháy nắng.

– Trông như dân Digan. Phượng nói.

– Họ cũng giống như mình. Những người chạy loạn. Những tội phạm hình sự. Bọn buôn lậu ma túy như em vậy.

– Rất tiếc, Phượng nói, em chỉ là kẻ buôn lậu tài tử.

Hề nói:

– Em là một trái bom, muốn nổ để thể hiện mình.

Phượng đập vào vai hề, bảo dừng lại, cô chạy vô một tiệm tạp hóa mua một bộ đồ ngủ và mấy món đồ lót rẻ tiền.

– Em chưa muốn về. Phượng nói. Ðến vùng đồi phía đằng kia xem nó là cái gì?

Chiếc xe chạy đi. Trời sáng nhưng nhiều mây. Con dốc đất đỏ đổ thoai thoải xuống một vùng hoa màu xanh. Phượng hỏi:

– Hồi nhỏ anh sống ở thôn quê hay thành thị?

– Anh sống ở làng này.

– Ủa, vậy à? Thế ở đây có những thắng cảnh gì?

– Anh sẽ đưa em đến một ngôi chùa cổ. Ở đó phong cảnh rất u tịch.

Hề rẽ vào con đường đất đỏ chạy giữa nương rẫy. Ngôi chùa cách thị trấn không xa lắm, nó nằm lọt thỏm giữa một vùng cây cối rậm rạp. Ngôi chùa nằm ẩn trong một hang đá lớn, cả cái mái cong cong của nó dường như cũng do trời đất tạo nên bằng sự sắp xếp ngẫu nhiên của đá. Tuy nhiên nó không tối tăm ẩm thấp. Sự xuất hiện của các lỗ hổng trên vách núi đem lại cho ngôi chùa sự chan hòa ánh sáng và những luồng gió mát.

Hai người vừa bước vào chùa đã nghe tiếng gõ mõ đều đặn buồn buồn. Nhà sư ngồi quay lưng ra cửa, cái đầu trọc hơi cúi xuống.

Hề huýt sáo miệng, tiếng vang trong vách đá. Phượng nói:

– Sao anh làm ồn vậy?

Hề cười:

– Ðừng lo. Ông ta điếc.

Và hắn móc trong túi ra một cái pháo, châm lửa, thảy ngay sau lưng nhà sư. Pháo phát nổ. Lúc này nhà sư mới quay lại. Ðó là Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử. Nhưng sư phụ lại vuốt hàm râu lởm chởm, nhướng mày lên rồi chắp tay vái thằng hề.

– Sư thúc! Lỗ Trí Thâm nói. Ðã chán cảnh hồng trần sao tới đây?

– Sao lại chán, hề nói, đời rất vui.

– Ðời có gì mà vui?

– Ðời bát nháo cả. Thế cậu không nghe đài à?

– Không. Báo cũng không đọc.

– Thế cậu không nghe người ta nói về tình hình Ðông Âu à?

– Tình hình Ðông Âu ra làm sao?

– Người ta xử bắn tay Ceaucescu rồi.

Lỗ Trí Thâm xoa xoa bàn tay hộ pháp lên cái đầu trọc:

– Ðó là tay nào vậy? Buôn lậu ma túy hả?

Hề lại móc một cái pháo chuột và đốt nó bằng lửa trên điếu thuốc. Sau tiếng nổ hề nói:

– Cậu không biết thì ta đếch nói. Thế cậu có biết tay nào tên là Nguyễn Văn Mười Ba không?

Lỗ Trí Thâm cười ha hả:

– Tay đó thì bần tăng biết.

Câu nói ấy làm Phượng bất ngờ thú vị. Cô hỏi:

– Thầy bị kẹt bao nhiêu?

– Bần tăng là người tu, không biết đến tiền bạc.

– Sao thầy biết tay đó?

Lỗ Trí Thâm chỉ cười, sờ râu mà không đáp. Lúc ấy từ phía sau chùa, năm sáu bà vãi già có trẻ có, sồn sồn có vừa chạy ra.

– Cái gì nổ vậy, bạch thầy?

– Khách quý của ta. Lỗ Trí Thâm nói. Ðốt pháo mừng. Các bà hãy dọn cơm chay đãi khách.

Các ni sư vâng dạ rồi lui ra, mắt lấm lét nhìn Phượng.

Thằng hề ngăn các bà vãi lại:

– Thôi, chúng tôi đi ngay bây giờ.

Nhà sư hỏi:

– Sao lại vội vàng vậy?

– Bạch thầy, chúng con còn nhiều việc lắm.

Và hắn kéo Phượng đi ra khỏi chùa. Có tiếng cười khúc khích trong số những ni cô đứng lấp ló sau vách đá.

Ra tới ngoài, Phượng hỏi:

– Họ ở đâu tới vậy?

– Trong thị trấn. Ðó là những bà vợ của thầy.

– Tại sao lạ vậy?

– Anh cho rằng điều đó bình thường. Chính anh là người phát hiện ra thiên tài ấy.

– Thiên tài nào?

– Nhà sư Lỗ Trí Thâm chứ còn ai nữa. Hồi mới giải phóng, trước khi về Duyên Hải anh làm chủ tịch ở đây. Một đêm kia anh đi họp về ngang qua rẫy mì, nghe có tiếng người rên rỉ liền rút súng ngắn cầm tay, len lỏi trong những lùm mì tối đen để tới gần tiếng rên ấy. Thì ra đó là hai người đang làm tình với nhau.

Phượng hỏi:

– Tại sao anh lại phá ngang cuộc vui của người ta như vậy?

– Anh có phá đâu. Lúc ấy anh tưởng có người bị thương vì tình hình an ninh hồi mới giải phóng ở đây phức tạp lắm. Khi biết ra đó là một cặp đang làm tình thì anh cười, hỏi: Có cần tôi giúp đỡ gì không? Anh cũng hỏi chơi vậy thôi. Ai dè gã đàn ông bật cười, nói: Không, tụi này xong rồi. Có phải chủ tịch xã đấy không? Lâu nay nghe đồn chủ tịch xã chịu chơi, quả không sai. Lúc ấy anh lấy làm lạ là tại sao lại có kẻ ăn vụng mà còn dám đối đáp một cách ngon lành như vậy. Anh bèn hỏi: Ôâng bạn ở đâu đến đây đấy? Gã đàn ông và người đàn bà chắc đã mặc quần áo xong nên đứng dậy, gã bật quẹt đốt thuốc lá. Ánh diêm lóe lên soi rõ một khuôn mặt đầy râu và một cái đầu nhẵn bóng. Cái miệng cười của nhà sư làm anh khoái quá, nó tự tin và hồn nhiên một cách dễ thương vô cùng. Anh nói, gần như kêu lên: Ồ, sư phụ! Không ngờ sư phụ lại khá như thế, hồi ở trong rừng tôi đã nghe tiếng sư phụ rồi. Quả là danh bất hư truyền. Thế là tụi anh trở thành bạn thân với nhau. Về sau trong những buổi nhậu nhẹt trong chùa, sư phụ khai với anh là có tất cả mười hai bà vợ toàn là các ni cô, các bà vãi sồn sồn phục dịch trong chùa.

Phượng nói:

– Sao ổng khôn quá vậy?

Hề nói:

– Không phải khôn đâu. Chẳng qua ông ta làm phúc cho đời mà thôi. Anh lại rất yêu những con người như thế. Còn hơn là những người miệng nói đạo đức mà lòng dạ đen tối, chẳng hạn như những ông bạn của ba em, trong đó cũng có nhà sư. Em không thể ngờ rằng trong quá khứ anh đã từng tiếp xúc, từng chọc phá những con người ấy.

Hề dẫn chiếc Honda 67 xuống lối mòn và đạp máy nổ.

Phượng lên ngồi phía sau xe. Cô hỏi:

– Tại sao anh thích chọc phá thiên hạ?

– Vì anh là một thằng hề.

– Nhưng anh chỉ là thằng hề trên sân khấu thôi.

Hề cười ha hả:

– Trời sinh anh ra để làm thằng hề cũng như người ta làm nhà sư, bác sĩ, nhà văn, nhà chính trị.

Phượng hỏi:

– Thế lúc còn ở trong bụng mẹ anh đã là thằng hề rồi à?

– Có thể. Mẹ anh bảo lúc sanh anh, hai chân ra trước. Ðó là trò hề còn gì.

– Chưa chắc, Phượng nói, có thể do nhát gan, sợ ló đầu ra trước bị chuột cắn nên hai chân ra trước để thăm dò.

Hề cười, bóp mạnh đầu gối của Phượng:

– Thôi, đúng là vậy rồi. Ðúng là vì sợ chuột cắn. Cho đến bây giờ anh ba mươi bốn tuổi vẫn còn sợ chuột.

– Nhưng thời đi học chắc anh phải ngoan lắm?

– Không ngoan vì học rất tồi, ít khi thuộc bài.

– Ham đá gà phải không?

– Không. Mười tuổi mới học A.B.C. Mười hai tuổi bắt đầu một cơn khủng hoảng đáng sợ.

– Mê gái chớ gì?

– Không phải. Cơn khủng hoảng ấy bắt đầu từ cái chết của một ông hàng xóm. Ông ta già lắm rồi. Thường ngày ông ta đi lấy đất sét ngoài đồng về nặn thành những con chim nhỏ, cắt giấy làm cánh làm đuôi, lấy hạt cườm làm hai mắt. Những con két của ông thì làm toàn bằng đất và rỗng ruột, dưới bụng khoét một cái lỗ để đặt cái còi bằng ống trúc. Ông ta treo những món đồ chơi ấy trên cây rơm nhỏ cầm tay, đi lang thang trong xóm, vừa đi vừa thổi vào cái bụng con két như thổi tù và. Năm mười hai tuổi anh mê những món đồ chơi ấy. Anh với ông già rất thân nhau. Bỗng nhiên một hôm ông ta lăn ra chết. Trời ơi, cái gương mặt người chết khủng khiếp lắm em ạ. Hai hố mắt, hai má hóp lại, trũng xuống, da vàng như nghệ, hai chân thì cứng đờ. Cái chết ấy gieo vào lòng anh không chỉ là nỗi sợ hãi mà còn là một sự ngỡ ngàng tuyệt vọng. Mới ngày hôm qua ông còn nói cười với mình, còn phùng má thổi vào cái bụng con két, rồi bỗng nhiên trở thành vô tri vô giác như đất đá, như cát bụi, như củi khô. Anh khóc, hỏi ba:

“Ba ơi, ông già chết rồi đi về đâu? ”

Ba đáp một cách dửng dưng:

“Chết là hết. còn đi về đâu nữa”.

“Thế con có chết không? ”

Ba ấp úng, nhìn thằng bé mười hai tuổi bằng con mắt ngạc nhiên. Lát sau ông nói:

“Ðã là người ai cũng phải chết con ạ”.

Thế là anh òa lên khóc. Anh còn nhớ rất rõ cảm giác cô đơn khủng khiếp khi nghe câu trả lời ấy. Và nỗi tuyệt vọng quặn thắt trong lòng anh như vết dao cắt lìa anh ra khỏi sự hồn nhiên, khỏi những niềm vui thơ ấu. Ðó là đòn đau nhất và bất ngờ nhất mà cái chêt đánh vào mặt anh. Cái tát phũ phàng ấy đến quá sớm, nó đã tạo ra một vết thương không thể phai mờ, một nỗi ám ảnh vĩnh cửu lẩn quẩn trong đời anh suốt từ đó đến nay, ngay cả trong những lúc vui, những lúc hạnh phúc nhất.

Phượng hỏi:

– Nhưng anh đã vượt qua tâm trạng u ám ấy từ lúc nào?

– Từ tuổi dậy thì. Có lẽ là như vậy. (Hề cười, day ra sau và nhìn thấy đôi môi đỏ của Phượng). Lúc bắt đầu mê gái thì mọi thứ đều bị xô dạt đi.

– Mê cô nào mà dữ vậy?

– Không phải cô mà là một bà sồn sồn đáng tuổi chị hai của mình. Năm đó anh mười tám tuổi, học lớp đệ nhị tức là lớp mười một bây giờ. Hàng ngày anh tới học chung với một thằng bạn cùng lớp. Nó là con út trong nhà nên bà chị hai của nó đã sồn sồn rồi. Bà ta có chồng con hẳn hoi và anh lúc đó chỉ là thằng nhóc còm nhom chẳng có gì hấp dẫn, nhưng hễ cứ anh ngồi đâu, đứng đâu là bà ta sấn tới tìm cách kề cận. Ban đầu anh không để ý đâu nhưng những cử chỉ ấy cứ lập lại nhiều lần làm anh nghi hoặc. Càng về sau bà ta càng táo bạo hơn, lúc nói chuyện bà thường để tay lên đùi anh, có khi tát nhẹ lên má anh, có khi vuốt tóc. Bà ta cứ nhử lần, dụ khị, ve vãn, hứa hẹn âm thầm. Người đàn bà đồ sộ ấy trở thành cõi thiên đường, thành niềm khao khát, mong nhớ. Nhưng tất cả đều âm thầm. Ðó là cuộc chiến tranh âm thầm. Chiến tranh nóng nhưng rất âm thầm. Tới một bữa kia anh đến thì thấy chỉ có một mình bà ta ở nhà. Bà ta đưa cho anh xem một tấm ảnh bà mới chụp. Một tấm ảnh bình thường thôi. Anh nghĩ: già mà điệu. Anh không thích tấm ảnh ấy. Ở ngoài bà cũng không đẹp hơn gì nhưng nó bằng xương bằng thịt, có hơi nóng, có sự mềm mại, có hơi thở dồn dập. Ở ngoài khác hơn nhiều. Giữa lúc anh ngắm tấm ảnh thì bà bước đến, đứng sát sau lưng anh, đưa hai cánh tay tròn ra phía trước làm bộ chỉ chỏ trên tấm ảnh nhưng lưỡi bà như líu lại, anh cũng bủn rủn tay chân. Bỗng nhiên người đàn bà dán sát vào anh. Bộ ngực to và mềm của bà ép mạnh, nghiến vào lưng anh, anh cảm thấy sữa xịt ra ướt đẫm áo. Còn phần dưới của bà thì làm cho hai mông anh nóng rực lên. Lúc ấy anh muốn nổ tung như một quả bóng cao su đang căng cứng. Tấm ảnh trên tay anh rớt xuống nền nhà.Cái miệng nóng hổi của bà đã chạm vào vành tai anh. Bà bảo bằng một giọng thầm thì chết người: Quay lại đi!  Anh xoay người lại. Ở trên ở dưới đều vừa khít. Bà ghì chặt lấy anh. Bốc cháy. Hối hả. Anh bị đè bẹp, bị dày xéo, bị dìm chết mất xác trên nền gạch bông. Và tất cả những điều ấy, của lần ấy, đều đã xảy ra trong thiên đường.

Phượng đột ngột rời khỏi xe, lảo đảo ngã xuống một vạt cỏ bên đường. Hề dừng xe lại, chạy đến:

– Chuyện gì vậy?

– Anh kể chuyện ghê quá. Em bủn rủn tay chân.

Hề đỡ Phượng dậy, và nhận ra một vệt máu đỏ tươi vừa ứa trên trán cô gái. Dòng máu như con giun bò xuống sống mũi. Hề rút khăn tay ra lau nhưng Phượng gạt đi.

– Mặc kệ nó.

– Em có đau không? Hề hỏi.

– Không. Nó làm em bình tĩnh trở lại. Thôi, anh kể tiếp đi, dường như chuyện này có liên quan tới nhà sư bạn của ba em phải không?

Hề nói:

– Ðúng vậy. Ðể anh kể tiếp về mối tình đầu quái đản của anh đã. Khoảng một tuần sau bà ta hẹn anh đến. Anh bảo là anh sợ lắm vì chồng của bà ta là một đại úy cảnh sát dã chiến nhưng bà ta báo cho anh biết là hôm đó không có ai ở nhà cả. Anh trốn học lẻn đến. Bà ta kéo anh vô phòng tắm mở vòi hoa sen cho nước phun xuống thật mạnh rồi bà vờn anh như mèo vờn chuột. Lần này thì anh rất táo bạo nhưng bà còn táo bạo hơn anh gấp mười lần. Bà cắn xé, cào cấu, ăn tươi nuốt sống anh như chó sói. Nước phun như mưa rào. Anh quỳ xuống mặt ngửa lên. Bộ ngực dài và nhão nhẹt của bà ta vung vẩy trước mặt anh, tán vô má anh, đè lên mặt anh. Nước chảy ròng ròng xuống hai cái núm rót vô miệng anh. Ngay lúc ấy có tiếng đập cửa phòng tắm. Chưa ai kịp phản ứng gì thì cánh cửa đã bị đá tung ra và viên đại úy cảnh sát dã chiến, người chồng, đứng sừng sững trước mặt hai kẻ trần truồng. Nếu em là bà ta thì em phản ứng như thế nào?

Phượng nói:

– Nếu em thực sự thích anh và chán người chồng thì em sẽ nói điều đó cho viên đại úy biết.

– Hoặc giả em sẽ quỳ xuống xin ông chồng tha tội?

– Cũng có thể người ta sẽ làm như thế nếu họ chỉ coi anh như một trò giải trí.

Hề cười một cách thoải mái, hắn ném hòn sỏi vô bụi cây và nói:

– Tất cả những giả thuyết nãy giờ chúng ta nêu ra đều hoàn toàn sai đối với người đàn bà ấy. Bà ta đã hành động hoàn toàn khác.

Phượng hỏi:

– Bà ta đã hành động như thế nào?

– Bà ta quỵ xuống, gục đầu trên bồn tắm và kêu khóc:  “Anh ơi, thằng khốn nạn nó cưỡng hiếp em! ” Viên đại úy rất bình tĩnh, anh ta hỏi: “Nhưng sao nó vào phòng tắm được? ” Bà ta kể lể: “Vì hôm nay nhà không có ai cả nên em tắm mà không cài chốt cửa, không ngờ nó đã lẻn vào nhà lúc nào. Nó ập vô, cài cửa phòng lại rồi xô em vào bồn nước”. Những lời kể của bà ta làm anh sững sờ. Cảm giác giống hệt lúc anh nhìn thấy khuôn mặt vàng ệch của lão già bán chim nằm chết trên chiếc giường tre. Kinh ngạc và sợ hãi. Vừa mới nói cười ấy, vừa mới thân mật ấy bỗng biến thành một cái gì hoàn toàn khác. Sao cái chết nó lại giống sự tráo trở đến như vậy?

Anh nổi tiếng khắp thành phố vì cái màn “hiếp dâm” kỳ quái ấy. Anh bị đuổi học kèm với hai năm tù giam. Ðó là quà tặng của mối tình đầu. Có lẽ đó là mối tình đầu đểu cáng nhất trên hành tinh này, nó làm cho anh hoàn toàn thất vọng về con người.

Sau hai năm, anh ra tù thì được biết bà ta đã bỏ viên đại úy để lấy một thằng Mỹ lai đen. Người ta đồn rằng anh chàng đại úy nọ bị bệnh bất lực. Mà hình như đó là sự thực. Anh thấy thương hại cho hắn, bữa kia anh quyết định đến thăm hắn để nói cho hắn biết rõ sự thực về vụ hiếp dâm ngày nọ đồng thời để an ủi hắn, khuyên hắn hãy quên người đàn bà ấy đi. Nhưng hắn lại tự ái. Hắn không tin anh và cũng không thừa nhận sự bất lực của mình. Hắn rút súng ra bắn anh một phát, đạn xuyên qua hông nhưng rất may chỉ làm gãy có một cái xương sườn. Ở bệnh viện ra, anh chán nản bỏ về quê. Ở đó không ai biết những vụ xì căng đan của anh. Anh đi làm rẫy và gặp gỡ những người du kích.

ĐÀO HIẾU

 

By daohieu Posted in Chưa phân loại

Thai nhi không tên

[trong chùa Wat Phai Ngern]

Hàng ngàn thai nhi nằm yên trong túm giấy bọc vải bao ny-lông
ngủ quên bao lâu dưới lớp tro muối trong chùa Wat Phai Ngern
chờ phút hoả thiêu trở về cát bụi
đầu thai vào cỏ cây  mai sau, vào mây nước gió sương.
.

Chưa kịp chào đời những thai nhi không tuổi
tượng hình một giọt bào thai không chân dung không tên
hiện thân của tình yêu rẻ dại tuyệt vọng
dấu vết của hoan lạc chiếm đoạt, của khát vọng bồng bềnh.
.

Hàng vạn mầm sống lăn lóc theo đường nạo cùng viên thuốc huỷ diệt
tuột khỏi cửa đời vội vã lìa xa bầu tử cung
hàng triệu sinh linh chưa kịp chọn nơi yên nghỉ
vất vưởng nơi nhà cầu thùng rác góc khuất ven đường.
.

Bao người dìu nhau về chân trời hoa mộng,
bao người quay cuồng mê đắm giữa cuộc truy hoan,
bao người buồn đau nuối tiêc mối tinh tan vỡ,
còn ai nhớ chăng giọt máu rơi chốn địa đàng ?
.

Thủ Đức, 11/2010

ĐOÀN THUẬN

 

Dân chủ: vài chuyện nhỏ chung quanh một vấn đề lớn

Đăng bởi bvnpost on 22/11/2010

Tôi rất tâm đắc với bài viết của ông Lê Hiếu Đằng đăng trên mạng BVN ngày 15 tháng 11. Phải nói là, ngoại trừ một vài điều tiểu dị, từ lâu tôi đã chia sẻ quan điểm của bài viết.

Vụ Cù Huy Hà Vũ, đáng buồn thay, chứng tỏ các cơ quan an ninh theo dõi rất kỹ các trang mạng Bauxite Việt Nam và sử dụng những trang mạng để quy chụp nhân danh điều thứ 88 Bộ luật hình sự. Vì thế, trước khi vào đề, tôi xin nói rõ vài điều. Tôi không có ý khiêu khích các thế lực đáng ngại của “lề phải” chính trị – xã hội, song tôi cũng không muốn các vị ấy không biết tôi nhận định ra sao về tình hình Việt Nam như tôi đang trải nghiệm. Nói lên những lo âu của mình, tôi nghĩ đó là một bổn phận. Tôi xin làm điều đó, một cách an nhiên, trong tư thế độc lập về chính trị, tinh thần và tài chính. Tôi không nằm trong một mạng lưới quan hệ nào, cũng không nuôi dưỡng tham vọng gì trong một việc làm chỉ có thể gây ra phiền nhiễu, làm sứt mẻ tình cảm của những nhà lãnh đạo mà riêng tôi rất quý mến, thậm chí có thể nguy hại cho tôi và bạn bè của tôi. Giữ im lặng, tôi có thể giữ được sự đánh giá tốt của giới quan phương, có lẽ cả những tiện nghi vật chất nữa. Nhưng nhìn lại quá khứ, tôi không thể không lên tiếng.

Một điều bức thiết

Tôi xin nói thẳng: ở thời điểm hiện nay, đất nước Việt Nam không thể phát triển mà vẫn đóng cửa đối với dân chủ, khóa chặt các quyền tự do tập thể và cá nhân. Làm sao có thể đổi mới một xã hội nếu ta bóp nghẹt mọi động thái, mọi sáng kiến chủ động không xuất phát từ nhóm lãnh đạo, nếu ta trấn áp mọi phê bình, làm như đó là âm mưu của kẻ địch (một kẻ địch hơi khó xác định)? Đi theo định hướng đó là tự dành cho riêng mình quyền quyết định mà không có sự kiểm soát của người khác trên những sự chọn lựa quan yếu nhất, ảnh hưởng tới nhân dân trong hiện tại và các thế hệ tương lai. Nói không ngoa, điều đó khác nào chiếm đoạt di sản của toàn dân, biến nhân dân thành một thứ con tin. Thậm chí có thể dẫn tới bán rẻ nền độc lập, hơn thế nữa hủy hoại cả bản sắc dân tộc. Chắc chắn như vậy sẽ đưa đất nước vào một tình thế khốn đốn, một thảm họa văn hóa và tinh thần ghê gớm hơn cả sự cùng khổ vật chất. Vâng, tình hình hiện nay thật khẩn cấp: sự vận hành của chính thể Việt Nam cần phải mở cửa cho dân chủ chính trị, xã hội và kinh tế.

Không ngại đi ra ngoài đề, vấn đề dân chủ cốt tử mà nhiều khía cạnh đã được nêu ra ngày càng thường xuyên và thẳng thắn ở Quốc hội, cũng như trong giới trí thức, tại các xí nghiệp cũng như trên đồng ruộng, ngoài đường phố cũng như trong nội bộ hàng ngũ ĐCSVN làm cho tôi nghĩ tới một trải nghiệm cá nhân, khiến cho tôi càng tâm đắc với câu nói của ông Lê Hiếu Đằng: “Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước”.

Cái xô nước

Tháng mười năm 1973, vừa mới thoát khỏi ngục tù của chế độ Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tôi được mời làm đại biểu tham gia Đại hội hòa bình thế giới ở Moskva. Nhiệm vụ của tôi là làm chứng tại Tiểu ban các quyền con người về số phận các đồng chí Việt Nam vẫn còn bị cầm tù, vi phạm Hiệp định Paris về Việt Nam. Đó là thời kỳ mà ở Moskva cũng như ở mọi nơi trên đất nước Liên Xô rộng lớn mênh mông, người ta hay phát tán những chuyện tiếu lâm, ngay các đảng viên cũng ưa kể:

“Một cậu bé trở về nhà sau tiết học chính trị ở trường. Cậu hỏi cha mình: “Ba ơi, Tập trung dân chủ là gì, Ba giải thích giùm con đi Ba.” Người cha bối rối không biết nói thế nào cho con hiểu, vì thế ông phải nhờ đến tiết mục giáo dục trực quan. Ông trả lời con trai: “Con à, tập trung dân chủ có nghĩa là Tập trung và Dân chủ. Trước hết, Ba sẽ giải thích cho con hiểu thế nào là Tập trung nhé ”. Ông bảo con đi múc một xô nước đầy. “Nào, con đứng ngay dưới chân cầu thang và nhìn Ba nhé”. Rồi ông xách xô nước bước lên cầu thang. Khi đến tầng một, ông gọi con: “Nhìn Ba cho kỹ nè, không được nhúc nhích nghe chưa!”. “Vâng, thưa Ba”. Rồi ông bố ụp cả xô nước xuống đầu thằng bé và nói: “Đó, tập trung là như vậy đó con!”. Thằng bé vừa ướt từ đầu đến chân vừa bị sốc. Vài giây sau hoàn hồn trở lại, nó hỏi cha: “Còn Dân chủ thì như thế nào hả Ba?”. Cha nó đáp: “Lấy cái xô xách cho Ba xô nước nữa, rồi đứng dưới chân cầu thang chờ Ba. Con sẵn sàng chưa? Đã hứng nước đầy xô chưa?”- “Rồi, thưa Ba”. “Nhìn Ba cho kỹ nè. Con có thấy Ba đứng trên cao không?” “Dạ có, thưa Ba”.- “Nào, bây giờ thì con xối nước lên người Ba đi!”. Thằng bé cố hắt nước lên cao bằng mọi cách, nhưng bao nhiêu nước hắt lên đều rơi ngược xuống người nó. Nó lại ướt như chuột lột, nhưng giờ thì nó đã hiểu rất thấu suốt bài học chính trị ở trường. Tập trung dân chủ là như vậy đó: người ở dưới bao giờ cũng lãnh đủ!”.

Câu chuyện tiếu lâm ấy, người phiên dịch hồi ấy đã kể lại cho tôi nghe, nửa cười nửa mếu, một hình thức mỉa mai đề kháng làm cho tôi nhớ tới thái độ tương tự của một số nhà báo Sài Gòn đối lập với chế độ độc tài tàn ác của Nguyễn Văn Thiệu: chế nhạo thân phận hẩm hiu của mình, lên án chế độ mà không phải gọi tên chỉ mặt ai cả.

Tập trung hóa dân chủ hay dân chủ hóa tập trung?

Tất nhiên, tình hình Việt Nam hiện nay khác lắm. Tôi không có ý so sánh, mặc dầu tôi bắt đầu nghe kể những chuyện tiếu lâm tương tự. Bởi vì nội dung dân chủ vẫn là vấn đề đặt ra, và nước “Việt Nam ở dưới” đã “lãnh đủ” quá nhiều rồi, hất hết xô nước này đến xô nước khác, mà vẫn “vũ như cẫn”, trong khi giếng nước đang cạn dần. Tình hình bức xúc đến mức mà ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương, Trưởng ban Tuyên giáo, đã giải thích như sau cho một nhà báo Sài Gòn giải phóng (ngày 03.11.2010) về khái niệm dân chủ tập trung: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ công tác tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng, là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của Đảng, là căn cứ phân biệt Đảng Cộng sản chân chính với các đảng khác.” Ông còn nói thêm: “Trong hoạt động tư tưởng – lý luận của Đảng, có lúc, có nơi thực hiện chưa đúng giữa tự do tư tưởng với nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm nguyên tắc này. Những biểu hiện đó trái với bản chất của Đảng.”

Vai trò lãnh đạo của Đảng

Đôi khi phép biện chứng cũng là một nguyên lí nhờ đó những con mèo chính trị ở mọi nước khi rơi từ trên cao xuống, bao giờ cũng chạm chân vào mặt đất. Báo Quân đội Nhân dân (07.11.2010) giải thích bằng một câu xanh rờn: “… đảng tiến bộ và cách mạng lãnh đạo thì xã hội ổn định, đất nước phát triển, trong khó khăn vẫn tìm được lối thoát cho cả dân tộc; ngược lại, nếu đảng hỏng, đảng sai lầm thì đất nước lầm than, tao loạn.” (Có nên xét kỹ cái tình huống “ngược lại” này không khi ta nghiên cứu những dự án hoành tráng như bauxite, đường sắt cao tốc, và những cuộc phá sản hoành tráng không kém như vụ Vinashin, với những hệ luận không thể trốn tránh về trách nhiệm cá nhân ở cấp cao nhất?).

Bất luận thế nào, sơ đồ “tập trung dân chủ” dựa trên trí tuệ vô cùng và quyền hành vô hạn của một nhóm nhỏ: nhân dân (như người ta vẫn thường nói, “rất tốt”) đầy tin tưởng hay chưa đủ trưởng thành (“dân trí ta còn thấp” mà), đặt số phận của mình trong bàn tay của Đảng, với hi vọng là đảng sẽ là người lãnh đạo anh minh, nếu không thì mình tiếp tục lãnh đủ xô nước, và lãnh đạo vẫn khô ráo, yên tâm tiếp tục lãnh đạo. Song gần đây, một hiện tượng mới đã xuất hiện trong xã hội Việt Nam: những cán bộ cộng sản có tinh thần trách nhiệm và sáng suốt đến “gõ” vào cánh cửa bụi bặm của chủ nghĩa tập trung với những phản biện dân chủ cơ bản và thực chất. Thí dụ như đại biểu Quốc hội Vũ Quang Hải (Hưng Yên) đề nghị nên chăng áp dụng nguyên tắc “dân chủ tập trung” thay vì “tập trung dân chủ”, và nói thêm: “… chỉ dựa vào cái tập trung thì không sáng tạo, rất dễ dẫn đến áp đặt, và thực tế đã chứng minh nhiều sự áp đặt thất bại”. Đại biểu Nguyễn Ngọc Đào (Hà Nội) và đại biểu Nguyễn Văn Thuận (Quảng Nam) gián tiếp đụng tới điều 4 Hiến pháp về ưu quyền tuyệt đối của ĐCS trên đời sống của toàn bộ xã hội: “Đến bao giờ Đảng thôi làm thay nhà nước?”. Ông mô tả cơ chế ấy như sau: “… đã là ý tưởng do bí thư đưa ra thì cứ thế mà thực hiện, dẫn đến tình trạng lãnh đạo theo kiểu “cầm tay chỉ việc”. Vai trò lãnh đạo là cái gì phải tạo dựng, thử thách, xác định qua công việc, từng ngày. Trong suốt cuộc đấu tranh cam go chống lại chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, rõ ràng là ĐCS đã tỏ ra xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình. Thế thì tại sao, ba mươi lăm năm sau ngày giải phóng và thống nhất đất nước, lại phải sắc dụ vai trò lãnh đạo ấy như một thứ ưu quyền thừa hưởng từ quá khứ, cho dù đó là quá khứ vinh quang tới đâu?

Bóng ma âm mưu kẻ địch bên ngoài

Trong cuộc vận động xã hội đang rõ nét, xu hướng bảo thủ co cụm thường mang bóng ma âm mưu kẻ địch bên ngoài lợi dụng dân chủ ra hù dọa. Lời hù dọa ấy ngày càng mất hiệu quả thuyết phục nếu muốn nói tới các nước tư bản vì một khi hội nhập vào kinh tế thị trường, Việt Nam ngày càng gắn kết với các nước ấy. Nhất là khi giới kinh doanh bản địa đôi khi còn “hăng hái” hơn cả những nước tư bản. Mặt khác, hàng tỉ đô la viện trợ quốc tế hàng năm được mời gọi và được đưa tới Việt Nam cho thấy con đường tiền bạc thường rất lãnh cảm đối với những quan tâm về dân chủ. Đứng trước lợi nhuận, tư bản không biết phức tâm, bứt rứt là gì. Lô gic của nó là tích lũy cho nhanh cho nhiều. Mục đích của nó không phải là lật đổ những chế độ chấp nhận lô gic ấy. Cũng như mafia, nó cần có sự ổn định, bất luận với giá nào: “Business, do not disturb” (Chúng tôi đang bận làm ăn, xin đừng quấy rầy).

Nếu có âm mưu từ bên ngoài, phải nói là nguy cơ thực sự là từ phương Bắc, với sức ép chạy đua trong cuộc đàn áp dân chủ. Những sự việc diễn ra gần đây cho thấy Bắc Kinh muốn dạy cho lãnh đạo Việt Nam những bài học về việc kiểm soát chặt chẽ cái mà một nhật báo Trung Quốc gọi là “đám phản biện”. Đi theo con đường Bắc Kinh thúc ép là tự cô lập và cách nhanh nhất để tạo ra mất ổn định. Con đường ấy sẽ gây ra sự phân hóa, chia rẽ, tạo thời cơ thuận lợi cho những cuộc xâm lược. Không! Những tiếng nói dân chủ hiện nay – phần nổi của tảng băng sơn xã hội – không xuất phát từ bên ngoài, mà chủ yếu từ bên trong. Đó là tiếng nói dân tộc và yêu nước. Có thể những người lên tiếng đã biết nắm bắt những mâu thuẫn và tranh đua nhân dịp chuẩn bị Đại hội XI của Đảng, lợi dụng những kẽ hở mà nhóm này hé mở để làm suy yếu nhóm kia, nhưng những kiến nghị và quan tâm của họ là trung thực. Xuất phát từ ngòi bút của giới trí thức, của những nhà cách mạng lão thành hay những nhân vật quen biết khác, tiếng nói ấy thực ra là đòi hỏi dân chủ của nhân dân đã trưởng thành, là khát vọng được thông cảm, thông tin và tham gia. Của cả một tuổi trẻ đang vươn lên, không gì ngăn cản được bước tiến.

Khẩu hiệu không che khuất được hiện thực nghiệm sinh

Đối với đại đa số dân chúng, những diễn từ xào đi nấu lại và những biểu ngữ phất phới trên đường phố xen kẽ với bảng quảng cáo om sòm của các ngân hàng và thương hiệu đã từ lâu trở thành vô nghĩa. Sáng ngày mồng một tháng 11 này, tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi còn trong thấy một băng-rôn quảng cáo xe hơi cao ngạo giăng ngang mặt tiền của Cung Thống Nhất! Đối với nhiều người, những từ ngữ cũ rích, biết rồi khổ lắm nói mãi, đôi khi đã trở thành trò cười vì nó tương phản với hiện thực nhãn tiền. Chế độ mang tên gọi là gì, điều đó không mấy quan trọng: người dân đánh giá chế độ trên thành quả của nó, trên cách hành xử hàng ngày của nó. Họ đánh giá cụ thể, căn cứ vào cuộc sống hiện thực của mình. Người nghèo thì ngày càng khó khăn, hố sâu ngăn cách người nghèo với những người giàu sang cứ giàu sang thêm mãi ngày càng sâu rộng. Nhu cầu thông thoáng về mặt trí tuệ, sáng kiến, sáng tạo ngày càng trở nên bức thiết trong một xã hội dễ thẩm thấu và biến đổi, được mở cửa ra thế giới kinh doanh, nhưng vẫn bị nhốt trong hộp kín đối với thời đại và tiến bộ con người.

Đàn áp không thể xóa bỏ nhu cầu về dân chủ

Chọn lá bài bạo lực và khiếp sợ để đẩy lùi thời hiệu dân chủ chỉ làm tăng cao áp lực, gây thêm đau khổ và củng cố khát vọng thay đổi bằng mọi giá. Kể cả cái giá có lợi cho những nhà độc tài ngụy trang thành đấng cứu tinh. Bắt bớ những người viết blog, dùng tin tặc để phá hoại trang mạng, ép buộc nhà báo làm văn nô cho Đảng, hà hiếp những luật sư đòi hỏi Nhà nước pháp quyền, ngăn cản không cho sinh viên đứng lên phản đối Trung Quốc cưỡng đoạt hải đảo Biển Đông, tất cả những việc ấy không làm ai quên những đất đai đã chiếm dụng phi pháp của nông dân và một số thị dân, những đất đai (đôi khi ở vị trí chiến lược) được cho thuê liền mấy chục năm cho những người hàng xóm cồng kềnh sang sinh sôi lập nghiệp trong khi người dân bản địa thì càng cùng quẫn; những sân golf xây cho người giàu xây trên ruộng đồng của người nghèo; những sinh viên nghèo phải bán thận để có tiền ăn học; hàng ngàn cô gái và phụ nữ nghèo bị mafia đưa ra nước ngoài hay phải bán dâm ở các thành phố dưới sự bảo kê của một số cán bộ tán tận lương tâm; những công dân bình thường bị công an hành hạ, làm tiền hay đánh đập đến chết trong đồn hay ngoài phố; những trẻ em sơ sinh được đem bán ở ngay ngoài cổng bệnh viện; công nghệ bằng giả nội-ngoại phục vụ cho việc bổ sung hồ sơ trong cuộc thi đua “đấu thầu” cán bộ; những người dân đáng thương đi “mót” cà phê, làm mồi ngon cho đàn chó giữ của những chủ trang trại được công an bảo vệ; sự phung phí những tài nguyên quốc gia được rao bán không một chút minh bạch; nạn ô nhiễm, nguồn gốc của những lợi nhuận kếch sù cho những doanh chủ côn đồ thường được nhà cầm quyền bênh vực, và cũng là nguồn cơn những khổ cực vô biên của dân chúng…

Có nhà lãnh đạo nào dám nói thật là mình không hề biết sự thực ấy? Đã ký tên vào hai bản kiến nghị yêu cầu ngừng dự án tai hại khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tôi có thể tiếp tục liệt kê dài dài mà tuyệt nhiên không nói một tí gì sai sự thật. Vâng, xã hội này, đất nước này đang cần ánh sáng, khí trời, đang cần có sự tham gia thực sự của người công dân.

Đàn áp không phải là dấu hiệu của sức mạnh

Cố nhiên xã hội nào cũng có mặt xấu của mình, và các xã hội gọi là dân chủ đúng là có nhiều tự do hình thức nhưng nói chung không có đủ tư cách dạy những bài học cho Việt Nam. Tại những nước ấy, tỉ lệ bần cùng hóa tiếp tục tăng cao theo các cuộc khủng hoảng trong khi những nhà tỉ phú trong giới đại nghiệp chủ và ngân hàng vẫn tiếp tục được vỗ béo. Những vụ tham nhũng được phát hiện ở cấp cao nhất trong bộ máy Nhà nước, trở thành chuyện bình thường. Chính quyền ngày càng vô cảm trước cảnh khốn cùng của những người nghèo khó. Mọi người đều cảm nhận rằng bạo lực tiếp tục dâng cao. Còn xã hội Trung Quốc thì khác nào là mô hình của một chế độ phản dân chủ, không cần bàn tới.

Phải nói rằng Việt Nam phải xây dựng trên những vết thương sâu sắc vẫn chưa lành, những vết thương mà trách nhiệm không phải của Việt Nam. Đó là một nhiệm vụ vô cùng phức tạp, đúng thế. Sống sát nách một nước khổng lồ tham lam vô độ là vị trí địa lý không dễ xử lý, đúng thế. Nhưng với những người đang muốn dấy lên một làn sóng của chủ nghĩa MacCarthy ở Việt Nam, tôi xin nói như thế này: xin quý vị đừng nã đạn vào cái xe cấp cứu! Quý vị hãy giữ một chút lương thiện, kính trọng và tinh thần trách nhiệm tối thiểu. Quý vị hãy chấm dứt việc chụp mũ, hăm dọa, bắt giam, bôi nhọ danh dự, chà đạp cuộc sống gia đình và đời sống tư của những người đối lập đang chống lại những tiêu cực, những người đã gây ra tiêu cực. Đó là những con người đã có gan bảo vệ đất nước! Các biện pháp đàn áp không phải là dấu hiệu của sức mạnh và quyền uy. Ngược lại, chúng biểu lộ sự sợ hãi. Đó không phải là cái sợ của người dân, nhưng quan sát những hành động thậm vô lý và tàn nhẫn mà nó gây ra, có thể nghĩ rằng cái sợ ấy lớn hơn ta tưởng. Nó đi ngược mọi giải pháp ích nước lợi dân. Như ông Bùi Đức Lại đã viết trên mạng VietnamNet ngày 04.05.2010: “ … thế lực chống đối chỉ có thể “lợi dụng dân chủ” nếu thực sự có mất dân chủ. Kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện mất dân chủ là biện pháp có hiệu quả nhất chống lại việc “lợi dụng dân chủ””. Và tôi rất đồng ý với kết luận của bài viết: “Rõ ràng, không kiên trì thực hành dân chủ thì không tránh khỏi nhiều tai họa lâu dài.”

Đấu tranh cũng có thể làm nên phép lạ

Để kết thúc bài viết này một cách nhẹ nhàng, và vẫn để hưởng ứng ông Lê Hiếu Đằng khi ông nói tới việc cần thiết phải đấu tranh, tôi xin đưa các bạn trở lại Đại hội hòa bình thế giới năm 1973 tại Moskva. Tại đây, tôi học thêm được một điều là đôi khi đấu tranh có thể làm nên phép lạ: nó có thể biến xe hơi thành ô tô buýt. Tôi xin kể câu chuyện mà tôi chưa hề kể lại cho ai cả.

Với tác phong của một giáo viên cần mẫn, tôi đã chuẩn bị khá kỹ bài tham luận của tôi về tù nhân chính trị của chế độ Sài Gòn. Đặc biệt tôi có trong tay nhiều lá thư, rất cảm động, của tù nhân mà Chính phủ cách mạng lâm thời đã chuyển tới Paris cho tôi. Tôi đã dịch những lá thư đó sang tiếng Pháp, tiếng Anh, và muốn nhờ in rô-nê-ô ra nhiều bản để phân phát cho đại biểu các nước ở Tiểu ban nhân quyền và cho các nhà báo có mặt ở Đại hội. Tôi nhờ trưởng đoàn tôi chuyển yêu cầu này tới ban tổ chức Liên Xô. Lúc đầu không có hồi âm, sau đó là từ chối với lí do: không có xe đi tới nơi có máy in rô-nê-ô. Cũng nên nhắc lại lúc đó các nhà lãnh đạo Liên Xô và Hoa Kỳ đang xích lại gần nhau. Tại Đại hội, cụm từ “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” cũng bị loại trừ khỏi ngôn ngữ chính thức. Chỉ có đại biểu các nước tư bản mới nói tới đế quốc Mĩ. Tôi có cảm tưởng là sau khi Hiệp định Paris được ký kết, người Liên Xô đã chuyển sang vấn đề khác, bỏ mặc những người bạn tù của tôi trong tình trạng nguy ngập dưới nanh vuốt của chế độ miền Nam Việt Nam đang bước vào giai đoạn tiêu vong. Tôi không muốn bài tham luận báo động về tình hình các bạn tù lại bị giảm tác dụng chỉ vì “lí do tổ chức” như vậy. Tôi bèn yêu cầu trưởng đoàn của tôi chuyển tới ban tổ chức lời nhắn như thế này: “Nếu tôi không in được và không phát được thư tù nhân, nếu sau khi tham luận, không có được một cái bàn và một cái ghế ở cuối phòng để tôi phát những bản in, thì trong thời gian 10 phút tham luận, tôi sẽ dành 5 phút để giải thích cho các đại biểu và cho các nhà báo có mặt ở hội trường là do ban tổ chức Liên Xô của Đại hội viện dẫn lí do không có máy in rô-nê-ô, các bạn không có được những tài liệu khẩn cấp, độc nhất vô nhị”.

Một giờ sau, một cái xe buýt hãm phanh ngoài cửa gian phòng chúng tôi đang dùng bữa trưa, và người phiên dịch vui mừng mời tôi lên xe để đi in “bao nhiêu bản cũng được”. Thế là mặc phong phanh cái áo sơ mi, tôi không cảm thấy cái lạnh của 17° âm. Và khi đến phiên tôi phát biểu, mặc dầu đồng chí Elie Mignot, ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Pháp, trưởng đoàn của chúng tôi đồng thời là người hướng dẫn thảo luận của Tiểu ban, không ngừng lừ mắt nhìn tôi, tôi đã “cướp” của đẳng cấp quan liêu Liên Xô thêm 10 phút, nghĩa là đã nói về tình trạng, về sinh mạng các bạn tù của tôi trong tổng cộng 20 phút, gấp đôi thời lượng quy định.

Đúng thế, tôi đồng ý với ông Lê Hiếu Đằng: dân chủ ít khi được ai ban phát, dân chủ chỉ có qua đấu tranh!

Để kết thúc đóng góp nhỏ bé này vào cuộc thảo luận hiện nay, tôi xin nói rằng, cho đến nay, các đảng cộng sản trên thế giới, ngày nào còn hoạt động trong tình trạng bị đàn áp vẫn luôn luôn thâm nhập quần chúng, bắt rễ trong nhân dân, sẵn sàng tham gia và hy sinh chịu đựng trong các cuộc đấu tranh vì dân chủ, nhưng đến khi giành được chính quyền rồi, thì chưa có đảng nào đáp ứng lâu bền được kỳ vọng của nhân dân ước mong xây dựng một xã hội tự do và đã đưa đảng lên vị trí lãnh đạo. Ngược lại, kinh nghiệm cho thấy càng nắm độc quyền thì họ càng xa rời gốc rễ, họ tạo ra cho mình một hình ảnh rất tiêu cực, đôi khi kinh hoàng, làm hoen ố lý tưởng của mình. Với quá khứ rực rỡ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, liệu Đảng Cộng sản Việt Nam có sẽ trở thành một ngoại lệ, phủ nhận cái “quy luật” đáng buồn nói trên? Liệu Đảng có đủ dũng cảm, trí tuệ, óc sáng tạo, tinh thần nhân bản để đổi mới dân chủ? Để lại một hình ảnh thoái hóa suy đồi, hay để lại sự ngưỡng mộ, biết ơn và tự hào, đó là cả vấn đề.

H. C. Q.

(Tác giả gửi trực tiếp cho BVN)

Vì sao không dự lễ trao giải Nobel?

Sáu quốc gia đã từ chối lời mời dự lễ trao giải Nobel Hòa bình cho nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc hiện bị tù, ông Lưu Hiểu Ba.

Ủy ban Nobel cho rằng Trung Quốc đã yêu cầu các nước không đi dự lễ trong một “chiến dịch chưa từng có, nhằm phá hoại buổi lễ trao giải”, theo lời thư ký ủy ban, ông Geir Lundestad.

BBC News hôm 18/11 đưa tin sáu nước Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Cuba, Morocco và Iraq sẽ không tới dự.

Tuy nhiên, báo chí châu Âu cũng nêu cả Việt Nam trong danh sách này.

Tờ The Guardian ra ở London hôm qua nói các đại sứ của Việt Nam, Indonesia và Philippines “dự kiến cũng sẽ không đi dự lễ” tổ chức vào ngày 10/12 tới đây tại Oslo, thủ đô Na Uy.

BBC Tiếng Việt hôm nay 19/11 chưa liên lạc được với giới chức ngoại giao Việt Nam để xác nhận tin này.

Khác với Trung Quốc, báo chí Việt Nam đăng tải khá đầy đủ về tin giải Nobel được trao cho ông Lưu Hiểu Ba.

 

‘Nỗ lực ngăn cản’

Ông Lundestad được trích lời nói:

Tôi chưa từng biết một quốc gia nào lại tích cực và trực diện đến vậy trong nỗ lực ngăn các đại sứ không đến dự lễ trao giải Nobel.

Geir Lundestad, Ủy ban Nobel Hòa bình

Hồi đầu tháng, Trung Quốc cảnh cáo rằng các nước ủng hộ ông Lưu Hiểu Ba “sẽ phải chịu hậu quả”.

Tin từ Na Uy nói giấy mời được gửi cho 59 đại sứ quán nước ngoài ở Oslo.

Chính phủ Trung Quốc vẫn gọi ông Lưu là “tên tội phạm”.

Nhà bất đồng chính kiến 54 tuổi bị trao án 11 năm tù hồi năm 2009 với tội danh “kích động lật đổ” vì đã cùng soạn bản Hiến chương 08 đòi chế độ dân chủ đa đảng và tôn trọng nhân quyền tại Trung Quốc.

Phát ngôn viên của Đại sứ quán Nga tại Oslo, ông Vladimjir Isupov, nói đại sứ Nga sẽ không có mặt ở Na Uy trong thời gian diễn ra buổi lễ.

Ông nói với hãng AP: “Đây không phải là chuyện mang lý do chính trị và chúng tôi không thấy mình bị áp lực gì từ Trung Quốc cả”.

BBC Tiếng Nga cho hay quan điểm của phía Nga, theo lời giới chức ngoại giao nước này, cần được hiểu là “họ không đến nhưng không phải vì sức ép”.

Vẫn theo AP, lễ trao giải có thể không diễn ra vì cả ông Lưu và thân nhân hay các cộng sự đều không được phép rời khỏi Trung Quốc.

Hôm 9/11, tin từ Trung Quốc cho hay luật sư đại diện cho ông Lưu Hiểu Ba nói ông bị ngăn, không cho ra khỏi đất nước.

Ông Mạc Thiểu Bình nói ông bị cảnh sát chặn lại ở sân bay Bắc Kinh, và được thông báo là việc ông đi sẽ “đe dọa an ninh quốc gia”.

Ông Mạc nói ông đi dự hội thảo của giới luật sư tại London, nhưng nhà chức trách ngờ rằng ông sẽ đi nhận giải thưởng Nobel Hòa bình thay mặt cho ông Lưu Hiểu Ba.

Các nhân vật được giải Nobel kêu gọi thả ông Lưu Hiểu Ba

 

Bên theo, bên chống

Các nhân vật quốc tế như Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Ban Ki-moon, Tổng thống Mỹ Barack Obama đều đã lên tiếng đề nghị Trung Quốc thả ông Lưu Hiểu Ba.

Gần đây, trong cuộc họp mặt tại Hiroshima, Nhật Bản, nhóm các nhân vật được Nobel Hòa bình, từ Mikhail Gorbachev, Lech Walesa, Mohamed ElBaradei, đến Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng nói Trung Quốc cần thả ông Lưu.

Giải Nobel đã được tặng cho bất cứ ai thì đều có nguyên giá trị cho dù người được trao giải có mặt để lĩnh hay không, hay người đó vì lý do nào mà không muốn nhận.

Trong khi đó, tin mới nhất nói diễn viên Hollywood Anne Hathaway sẽ cùng chủ trì hòa nhạc cho giải Nobel Hòa bình năm nay cùng diễn viên Denzel Washington, người từng nhận Oscar.

Barry Manilow, Elvis Costello và Jamiroquai sẽ trình diễn tại hòa nhạc vào ngày 11/12, một ngày sau lễ trao giải.

AR Rahman, Florence, Machine và Herbie Hancock cũng sẽ có mặt.

Buổi hòa nhạc năm nay nhằm vinh danh ông Lưu Hiểu Ba.

 

Nguồn: BBC 20.11.2010

VĂN TẾ THẬP LOẠI GIÁO SƯ

Tiểu dẫn: Mỗi năm một lượt “đến hẹn lại lên”, Hội đồng chức danh học hàm nhà nước lại cho triển khai đợt xét phong học hàm Giáo sư và Phó giáo sư. Thế là, các ông nghè bà nghè cả nước lại một phen nháo nhào “đăng trường ứng thí”. Cũng là một thứ “Lều chõng” tái thế mang khuôn dạng có vẻ mỹ miều. Chẳng biết các Hội đồng của các ngành khác thế nào không rõ, chứ Hội đồng bên cái ngành văn vẻ năm nào cũng eo sèo lắm chuyện chẳng mấy sạch sẽ gì.

Hội đồng chuyên ngành đã vừa kết thúc. Như mọi cuộc thi, có kẻ khóc người cười. Ấy là nói phía những “ứng thí viên”. Chứ còn những “giám khảo viên” cũng không dám chắc là không có chuyện…Kẻ hậu sinh này  rập đầu cúi xin Đại thi hào Nguyễn Du được tập “ Văn chiêu hồn”  của Người mà “khốc” rằng:

Tiết quý Thu gió mưa vuồn vuột

Dân quê miềng lạnh buốt xương da

Lập đàn đèn nến hương hoa

Lạy ông tiến sĩ, lạy bà giáo sư.

*

Bể học vấn hư hư thực thực

Lối quan trường bắc bực gai chông

Vênh vênh một lũ Hội đồng

Phiếu bầu thì có, đầu không có gì.

*

Không có gì mà gì cũng có

Sự học hàm ngấp ngó đua tranh

Đua tranh thì có giá thành

Mua danh ba vạn, bán danh ba hào.

*

Nào những kẻ mũ cao áo rộng

Chốn Tam đình ngong ngóng vào ra

Thanh binh chính thị nghiệp nhà

Ô hô mồm giải mép loa cũng tài.

*

Nào những kẻ miệt mài đèn sách

Đạo văn người chắp nhặt nên câu

Sách người làm mọt làm sâu

Ô hô nhai lại kiếp trâu kiếp bò.

*

Nào những kẻ tò vò nuôi nhện

Bụng nhện tròn nó quện luôn ông

Ô hô mông quạnh đồng không

Có hương có khói nhưng không bàn thờ.

*

Nào những kẻ lập lờ đục nước

Hội Tâm linh mưu chước sắp bày

Dị nhân đuổi gió hô mây

Quái nhân múa mép, múa tay, múa tiền.

*

Nào những kẻ điên điên dại dại

Nay quốc ca mai lại quốc hoa

Ô hô vỏ lựu mào gà

Nước nôi man mác biết là còn không.

*

Nào những kẻ lưu vong thất thổ

Cõi Tây phương mặt rỗ kỳ khu

Học đòi lí lẽ ba xu

Chõ về đàn gảy tai tru mà rầu.

*

Nào những kẻ Đông Âu tu luyện

Trợ cấp còm tằn tiện từng khâu

Gái xinh chẳng dám nhìn lâu

Áo phông son Thái khấu đầu bán buôn.

*

Nào những kẻ cúi luồn thân phận

Tay bút gươm lòng lận bút lông

Ô hô trời đất thấu không

Đô Long hạ bệ, đốc Đông thượng tòa.

*

Nào những kẻ ghen gà tiếng gáy

Hám vinh danh tháu xoáy công trình

Chưa thôi tranh luận rập rình

Đã lôi nhau đến pháp đình… tội chưa.

*

Cũng có kẻ thân lừa ưa nặng

Cũng có cha lẵng nhẵng oán ân

Cuốc Liên điện thoại Ma Lân

Đánh rơi thằng nọ, xí phần đứa kia…

*

Phận bèo bọt thia lia mặt nước

Giang sơn này độc dược tràn lan

Bán buôn sông biển non ngàn

Hồn hề hồn hỡi hồn tan hay còn

(Cuối thu nhặt được )

KHUYẾT DANH

Thành viên Mặt trận Tổ quốc đòi hỏi dân chủ

Ông Đằng kêu gọi cán bộ, đảng viên và nhân dân không nhân nhượng với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, dân tộc.

Một luật gia, cựu quan chức cao cấp Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ở TP Hồ Chí Minh vừa công bố hai bài viết kêu gọi đấu tranh cho dân chủ và yêu cầu công bố rộng rãi cho toàn dân kiến nghị của các trí thức, nhân sỹ đòi dừng dự án Bauxite Tây Nguyên gây nhiều tranh cãi.

“Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ nếu tình hình cứ tiếp tục như thế này,” trên trang mạng Bauxite Việt Nam, ông Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận TQVN TPHCM nhận định về tâm lý chung trong quần chúng.

“Đảng Cộng sản phải nhận rõ vấn đề để chủ động chuyển đổi thể chế chính trị phù hợp với tình hình mới,” ông Đằng lên tiếng trong bài viết có tựa đề “Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước” khởi đăng trên trang mạng không chính thức trong nước, hôm 15/11.

Sau khi nêu dẫn chứng về việc lãnh đạo láng giềng của quốc gia cộng sản Trung Quốc, Thủ tướng Ôn Gia Bảo vừa công khai cảnh báo nguy cơ của ĐCS Trung Quốc nếu không ‘cải cách để dân chủ hóa xã hội,’ người hiện đang giữ chức Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương MTTQVN, nhận định:

Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội, đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm đấu tranh để xây dựng nền dân chủ

“Tuy nhiên, toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi,” ông Đằng viết.

“Trong đời hoạt động của mình, tôi luôn được dạy rằng: không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình.”

“Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh.”

Đánh giá rằng việc đấu tranh mà không phá vỡ ‘sự ổn định chính trị’ là một bài toán phải giải quyết, tuy nhiên ông Đằng khẳng định: “Nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

‘Tín hiệu đáng mừng’

Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận

Ông cũng đánh giá những tín hiệu xã hội mà ông cho là đáng mừng về điều mà ông gọi là sự ‘nâng cao ý thức dân chủ’ của người dân.

Ông Đằng trích dẫn các trường hợp người dân khởi kiện các cơ quan nhà nước vì xâm phạm lợi ích của họ như một người dân ở Sài Gòn kiện ngành giao thông, người dân huyện Bình Chánh kiện điện lực thành phố và người dân tỉnh Quảng Nam kiện thủy điện xả lũ.

“Thời gian qua đã có những dấu hiệu đáng mừng về nâng cao ý thức dân chủ của người dân: những vấn đề lớn của đất nước người dân không còn để mặc chính phủ tự quyết định như thói quen từ trước đến nay…,” cựu quan chức TPHCM tổng kết.

“Hơn thế nữa, người dân đã bắt đầu dám đứng lên thực hiện một quyền được pháp luật cho phép mà không ai có thể chụp mũ này nọ: quyền kiện các cơ quan nhà nước xâm phạm lợi ích công dân.”

Trong khi trong nước đang rộ lên dư luận về các vụ bắt bớ những người bất đồng chính kiến hoặc có ý kiến phản biện, phản bác công khai Đảng Cộng sản và nhà nước, có khả năng tiếp tục sau vụ luật gia Cù Huy Hà Vũ bị bắt mới đây, cũng như một số trang blog cá nhân về thời sự, nghị luận chính trị xã hội, có thể bị ‘tấn công’ hoặc ‘xóa sổ’, tác giả bài bài báo viết:

“Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ…”

“Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận.”

Thông điệp nhắn nhủ

Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, Đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc

Còn trong bài viết thứ hai với tựa đề “Phải công bố bản kiến nghị về bauxite,” ông Lê Hiếu Đằng trên trang mạng Bauxite Việt Nam ‘nhờ’ trang này nhắn nhủ một thông điệp tới các lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vốn là cựu đồng chí của ông trong thời gian chiến tranh.

“Nhân đây, tôi cũng xin qua mạng Bauxite Việt Nam để nhắn chủ những đồng chí từng sát cánh chiến đấu với tôi ở nội thành Sài Gòn – Gia Định, các chiến trường miền Đông Nam Bộ, ven Sài Gòn…,” ông Đằng viết.

“Đó là các đồng chí Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải. Mong các đồng chí lên tiếng đấu tranh để ngăn chặn những nguy cơ cho đất nước như Dự án Bauxite và việc cho thuê rừng đầu nguồn nói trên.”

Sau khi đề nghị Quốc hội công bố rộng rãi bản kiến nghị trước toàn dân về dự án tranh cãi Bauxite, đồng thời yêu cầu cơ quan lập pháp này ‘tập trung làm rõ’ hai vấn đề trên, tránh ‘để bị lạc hướng vì những chuyện khác’, luật gia Lê Hiếu Đằng kêu gọi:

“Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, Đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc.”

“Chúng ta không có gì phải sợ, vì chúng ta trong sáng, chúng ta thực tâm yêu nước thương nòi, chúng ta làm đúng theo luật pháp, hiến pháp.”

Nguồn: BBC 15.11.2010

Lũ không tên

LŨ KHÔNG TÊN

1.
Khi rừng đầu nguồn không còn xanh giữa trời đất
không gian hanh hao cỏ cây lụi tàn theo tháng năm
chân động lưng đèo đầu non vắng rừng phòng hộ.
đá lặng thinh lìa xa thân núi ngày qua sạt lở hoang tàn.
.

Hoa dại lan rừng rong rêu cằn khô tuổi biếc
còn đâu đồi dương liễu bờ lau thưa mong gió về vi vu
khe cạn suối khô trơ trọi bao viên cuội
những cánh chim chiều bỏ tổ bay xa.
.

Mây đen theo mùa chuyển mưa về nguồn
đâu hay đất cát núi non sông hồ đã tang thương
hạt nước xưa không còn nơi trú ngụ
đương nhiên  tìm đường về đại dương.
.
2.
Trời đổ mưa tầm tã.
Lũ tràn qua hoang mạc lạnh lùng dâng cao,
chồm lên đồi trọc luồn lách xô nghiêng kè đá,
ngập trắng cánh đồng dìm sâu làng mạc phá vỡ đê điều bờ bao.
.
Rừng không còn ngăn lũ,
bão thản nhiên thổi qua.
Đất không giữ được nước,
người đâu còn cửa nhà
.

Đất đứt chân xốp nhão  rã rời sụp lở trước mưa giông.
Dân  thiếu đất kiếm ăn lay lất cùng nỗi niềm sinh tử.
Rồi một mai lũ ngập mênh mông,
Cả thú và người sao còn hơi thở?

3.

Các ngành chức năng tiếp tục hội thảo về lụt lịch sử,
về áp thấp nhiệt đới, về bão xa bão gần,
tìm kiếm một dự án vĩ mô phòng chống bão lụt bền vững,.
trên bộ sa lông hoành tráng làm bằng gốc rễ cây rừng.

Thủ Đức, mùa mưa 2010
Đoàn Thuận