HỎI THẾ GIAN TÌNH LÀ VẬT GÌ?

TẠP BÚT, GỒM CÁC BÀI: Hỏi thế gian tình là vật gì? – VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ – Quyến rũ bằng hương thơm – ĂM CƠM TÀU, Ở NHÀ TÂY, LẤY VỢ NHẬT – Hạnh phúc trong một chiếc lá – CƯỠI NGỰA XEM HOA…KỲ.

HỎI THẾ GIAN TÌNH LÀ VẬT GÌ?

Ngày xưa người chiến binh ngoài mặt trận muốn gởi thư về nhà cũng phải mất cả tháng trời ngựa chạy hay nửa tuần trăng chim nhạn bay. Nay, ngồi trước máy vi tính, chỉ cần nhắp chuột vài lần là đã có thể gởi một bức thư kèm hình ảnh của mình cho người thân đang ở bên Mỹ trong vòng không tới ba mươi giây đồng hồ. Rõ ràng là lịch sử nhân loại có những bước tiến lớn.

Nhưng có một thứ mà từ hàng ngàn năm nay chẳng những không tiến mà còn bước lùi, không phát triển mà còn thoái hóa. Đó là TÌNH YÊU.

Ngày xưa khi yêu nhau người ta thề cùng sống chết, ví dụ như mối tình Trọng Thủy – Mỵ Châu. Khi Trọng Thủy chạy theo dấu lông ngỗng, thấy xác vợ mình mằm chết bên đường thì vô cùng đau xót, chàng an táng vợ rồi nhảy xuống cái giếng trong thành Cổ Loa mà tự tử. Bên Tây cũng có Roméo và Juliette yêu nhau mà không lấy được nhau, đành cùng chết trong chốn nhà mồ…

Ngày nay, những chuyện tình đồng sanh đồng tử như thế đều bị xem là lẩm cẩm, lỗi thời. Không ít những cô gái ngày nay buổi sáng hẹn hò với anh chàng này, tối đến nhảy đầm với anh chàng nọ. Trong chuyến đi từ Moscow về Seoul tháng 11 năm ngoái tôi gặp một cô hướng dẫn viên du lịch người Hàn Quốc. Ban đầu nói về các trang web, sau đó chuyển qua đề tài điện thoại có hình ảnh. Cô gái kể rằng những người bạn của cô ở Seoul rất táo bạo. Họ làm quen với nhau trên mạng và sau đó nói chuyện với nhau bằng điện thoại có hình. Nhưng chỉ nhìn thấy mặt nhau, hai người chưa thỏa mãn tính tò mò, họ đồng ý cho nhau xem những bộ phận khác của cơ thể. Và thế là mặc dù chưa hề gặp gỡ nhau, nhờ chiếc điện thoại truyền hình, họ đã có thể biết tường tận về cơ thể của nhau rồi.

Cho nên nam nữ ngày nay sẽ không còn tìm thấy sự hồi hộp khi chạm vào ngón tay của người tình, sự ngất ngây bởi một mùi hương tóc thoảng qua. Lớp trẻ bây giờ yêu nhau và bỏ nhau như thay áo. Buổi sáng bị bồ đá, buổi chiều đã có ngay bồ mới vì tên tuổi của hắn ta đã nằm sẵn trong bộ nhớ của chiếc hand-phone. Họ ăn món tình yêu một cách ngấu nghiến. Họ vồ lấy, bỏ vô miệng và nuốt, không cần nhai. Có lẽ vì món ăn bây giờ nhiều quá, không phải mất tiền mua. Họ ăn nhanh, họ hưởng thụ tối đa, không kịp nhận ra hương vị.

Một cô gái trẻ đến nhà một chàng trai nhưng chàng ta đi vắng. Cô gái chui vào giường của chàng nọ, kéo mền, ngủ và chờ đợi. Tôi đã chứng kiến nhiều cô gái trẻ chờ đợi như thế trên cùng một chiếc giường.

Một lá thư tình buộc dưới chân con chim nhạn hoàn toàn khác với một lá thư tình truyền qua mạng internet, vì thế bản chất của tình yêu cũng đã khác. Tình yêu ngày xưa là cái gì mong manh như mây khói, nên nó lãng đãng, nó nhiều truyền thuyết và đầy chất huyền thoại. Tình yêu bây giờ là tốc độ, hưởng thụ và thực dụng. Các nhà thơ trẻ bây giờ chê, không làm thơ tình nữa.

*

Hỏi thế gian tình là vật gì?

Mà khiến sinh tử tương hứa

Trời Nam đất Bắc song phi nhạn

Cổ thụ mấy mùa hàn sương

Hoan lạc thú, biệt ly sầu

Nỗi khổ chứa đầy tình tương tư.

Những câu thơ ấy vang lên giữa núi rừng, sau một trận tử chiến. Người ngâm nga nó là một nữ sát thủ tên là Lý Mạc Sầu. Nhân vật này lòng đầy oán hận, giết người không gớm tay. Đó lại là một dạng khác của tình yêu: tình yêu biến thành tình thù.

Nhưng bài thơ trên chắc chắn không dành cho ả. Đó là bài thơ mà nhà văn Kim Dung viết tặng cho mối tình của Dương Qua và Tiểu Long Nư, và đã mượn cái miệng của Lý Mạc Sầu gởi thông điệp xót xa ấy cho thế gian.

Hỏi thế gian tình là vật gì?

Xưa nay người ta thường hỏi tình là gì? Không ai hỏi tình là VẬT gì. Chữ VẬT khiến ta liên tưởng đến một món nợ phải trả, một thực thể hiện hữu trấn giữ ngạo mạn giữa tâm trí, một biểu tượng quyền lực chi phối, quyết định vận mạng đôi lứa và có lẽ còn là một linh vật kiểu như linga hay yoni trong văn hóa Chăm đầy ấn tượng. Vật cũng có thể là một cái gì mong manh như sương khói, thoắt ẩn thoắt hiện như chiếc lá khô, như áng mây hay như cái bóng.

“Tình yêu là cái bóng của mình, khi ta đuổi theo thì nó chạy nhưng khi ta bỏ chạy thì nó đuổi theo… Tình yêu là con quái vật kỳ lạ: khi ta bỏ đói thì nó sống, khi cho nó ăn no thì nó chết.”

Vì nó đầy nghịch lý như thế nên Lý Mạc Sầu vẫn cứ hỏi thế gian:

Tình là vật gì, mà khiến sinh tử tương hứa?

Không ai biết nó là vật gì nên nó là tất cả: là một cơn mưa, một vạt nắng chiều, một giọt sương trên lá hay một giai điệu: Những ngày không có anh, biển bạc đầu thương nhớ. Những ngày không có anh, lòng thuyền đau rạn vỡ.

Tình yêu vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, vừa khơi nguồn sức sống vừa gieo rắc cái chết, nó đem lại hạnh phúc nhưng cũng nhận chìm con người trong khổ đau. Tình yêu tạo ra văn học nghệ thuật nhưng cũng gieo rắc chiến tranh. Ngày xưa, Ngô Tam Quế chỉ vì người thiếp yêu của mình là Trần Viên Viên bị Lý Tử Thành chiếm đoạt mà đã đầu hàng nhà Thanh và dẫn quân Thanh về tiêu diệt nhà Minh. Họ Ngô đoạt lại người đẹp nhưng nhà Thanh thì đoạt được cả một đất nước Trung Hoa rộng lớn, lập nên một đế chế hùng mạnh tồn tại suốt mười ba triều. Cuộc tình giữa Ngô Tam Quế và Trần Viên Viên đã gây nên một cuộc chiến tàn khốc làm cho hàng vạn người chết trong số đó có gia tộc của Ngô Tam Quế bị Lý Tử Thành tru di.

Không có cái gì đa dạng bằng tình yêu. Tình yêu là một thế giới Nhị Nguyên, tương phản cùng cực nhưng cũng dung hợp cùng cực. Nó là Thái Cực Đồ: bao gồm hai yếu tố âm và dương, trong âm có dương và trong dương có âm, tương tác, vận động và chuyển hóa thành vạn vật.

Tình yêu giống như cái Đ� O của Lão Tử. Nó bao trùm vũ trụ. Cũng như nó đã bao trùm lên cuộc tình của hai nhân vật Tiểu Long Nữ – Dương Qua và liên tiếp đẩy họ vào những tình huống chết người để thử thách lời thề đồng sinh đồng tử.

Mối tình ấy là lời nhắn gởi cho đời sau, cho những thời đại mà tình yêu đang bắt đầu tàn héo.

VINH QUANG của người sợ vợ

phiếm luận

Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi  viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ. Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”

Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.

Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm. Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. � n mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: Trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.

Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.

Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!

Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng? Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm! Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!

Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.

*

Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ. âng là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.

Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Ta bị stress. U Vương bèn cho massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là Vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.

Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”

*

Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài nhan sắc, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.

Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?

Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.

Quyến rũ bằng HƯƠNG THƠM

Những sinh vật đẹp đẽ như bướm, chim, cá kiểng… tuy rực rỡ nhưng khi cần quyến rũ bạn tình, chúng cũng phải thay màu đổi sắc cho hợp nhãn đối tượng của mình.

Nhưng các sinh vật hoang dã xấu xí như con cầy hương thì được trời cho một túi xạ thơm tho để mồi chài người đẹp. Cái túi xạ nhỏ bé giấu trong bụng nó là niềm khao khát của loài người.

Vì thế con người phải khổ công lên rừng tìm bắt con cầy hương để lấy cái túi xạ của nó. Con người còn xuống biển, đem cả sinh mạng mình chiến đấu với cá nhà táng cũng chỉ mong lấy được chất thơm của nó gọi là Long Diên Hương. Sự hình thành của Long Diên Hương cũng rất lạ đời. Cá nhà táng là con cá voi khổng lồ, nó rất thích ăn mực nang, nó há miệng nuốt cả đàn mực hàng ngàn con vô bụng.Và có một bộ phận của con mực không thể tiêu hóa được đó là cái NANG. Cái vật cứng ấy làm cho cá đau, và cơ thể nó phải tiết ra một chất keo bao lấy những cái nang mực để chống lại cơn đau. Chính cái chất keo ấy tiết ra mùi thơm làm ngây ngất loài…người.

Người ta dùng Xạ Hương, Long Diên Hương… để chế tạo ra nước hoa, mỹ phẩm đắt tiền và dùng nó để bôi lên người, át đi cái mùi mồ hôi hăng hắc của làn da.

Nhưng cũng có những cô gái không cần đến nước hoa, tự bản thân họ tiết ra một mùi thơm quyến rũ. Cách đây hơn 1.500 năm ở bên Tàu có một mỹ nhân tên là Tây Thi. Tương truyền trong người nàng tiết ra một mùi thơm quyến rũ. Lúc còn hàn vi nàng thường ra bờ suối giặt lụa, sau đó ngâm mình trong dòng nước. Trai tráng trong làng lén rủ nhau tắm phía dưới dòng chảy để mong hưởng một chút thơm tho từ da thịt người đẹp tiết ra. Có người không tin truyền thuyết này, cho là thêu dệt hoang đường, nhưng tôi tin, vì khi còn là một cậu học sinh trung học, đã có lần tôi bắt gặp một mùi hương ngây ngất từ chiếc áo lót của một cô bạn học chưa từng biết mỹ phẩm là gì. Mùi hương ấy không giống bất kỳ một loại nước hoa nào, bất kỳ một loài thảo mộc nào. Nó không chỉ thơm, nó còn nũng nịu, e thẹn, ấm áp, thủ thỉ… Đó là một thứ mùi kỳ ảo, thần thoại, không gì sánh kịp, không ai diễn tả nổi. Một thứ mùi chỉ có Thượng Đế mới tạo ra được, là mùi của Trời quyến rũ Đất, của Gió quyến rũ Mây, của Biển Cả quyến rũ những Vì Sao… Nếu quả thực Tây Thi có một mùi thơm như vậy thì nước Ngô có bị diệt, thì Phù Sai có chết dưới lưỡi gươm của Câu Tiễn cũng ngậm cười nơi chín suối.

Trước khi bị đem dâng cho Phù Sai, Tây Thi là người yêu của Phạm Lãi. Khi Câu Tiễn thắng trận trở về, trong đoàn quân không có Phạm Lãi. Truyền thuyết nói ông cùng Tây Thi thay đổi tên họ đi ở ẩn trên núi cao. Có phải hương thơm của Tây Thi đã quyến rũ Phạm Lãi hơn cả vinh hoa phú quý chốn cung đình?

Quê hương Tô Châu của Tây Thi có thành Cô Tô, có Hàn Sơn Tự nổi tiếng. Ngày nay, những khu nhà cổ vẫn còn đó với kiến trúc trầm mặc, u nhã. Những mái ngói đen hoặc xanh ve chai cong vút, tường trắng ngả màu thời gian, soi bóng xuống những kênh đào nên thơ. Tôi đã đến đó để tìm một chút hương thừa của người đẹp nhưng chỉ gặp nấm mồ của Câu Tiễn chìm khuất dưới khe suối trên Đồi Hổ hoang sơ, cô tịch.

Ngày nay, nhân loại đã sáng chế ra hàng trăm loại nước hoa với vô số những tên gọi độc đáo như Lửa và Băng Giá (Fire and Ice), Ma Lực Đen (Magie Noire), Thuốc Độc (Poison), Phép Lạ (Miracle) Tôi Ngưỡng Mộ (J’adore)… nhưng không có thứ mùi thơm nào sánh bằng mùi da thịt của cô nữ sinh quê mùa mà tôi đã gặp thời còn trai trẻ.

Tất nhiên không phải cô trinh nữ nào cũng có được mùi thơm ngây thơ ấy. Trong các truyện Liêu Trai hoặc những truyện như Bích Câu Kỳ Ngộ, Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai… thường thường thì trước khi mỹ nhân đến hoặc sau khi mỹ nhân đi đều lưu lại một chút hương thơm, nhưng có lẽ đó chỉ là mùi thơm của hoa cỏ, của những hương liệu mà các tiên nữ đã giắt lên tóc, lên áo xiêm… cũng giống như ngày nay quý bà quý cô xịt nước hoa lên tóc vậy. Tuy sức hút không mãnh liệt bằng hương thơm trời cho, nhưng nước hoa hiện đại quả thực đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống. Ngoài việc tạo ra một cảm giác dễ chịu khi gặp gỡ, khi gần gũi, nước hoa còn đóng vai trò một TÍN HIỆU của tình yêu, của nỗi nhớ, của kỷ niệm.

Một sáng thức dậy, tình cờ ngửi thấy mùi nước hoa thoang thoảng trong chăn, chợt nhớ nụ hôn bàng hoàng của mười năm trước. Đi qua một phố đông lúc xế chiều, bỗng thoảng một mùi hương, tự nhiên lòng bâng khuâng nhớ cuộc hẹn năm nào nơi quán cà phê.

Cũng giống như con cầy hương để lại mùi thơm trên ngọn cỏ dẫn lối cho bạn tình, người đàn bà để lại mùi hương trên chiếc khăn tay hay trên lá thư mong manh…

Hương thơm là TÍN HIỆU. Tín hiệu đó không chỉ đi vào khướu giác mà lan tỏa khắp tâm trí, không chỉ quanh quẩn trong hiện tại mà còn ấp ủ cả quá khứ với bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu hạnh phúc, khổ đau và nhung nhớ khôn nguôi.

ĂN CƠM TÀU, Ở NHÀ TÂY,

LẤY VỢ NHẬT

Cơm Tàu thì tôi ăn nhiều, nhà Pháp, nhà Mỹ tôi cũng từng ở, còn vợ Nhật? Chà! Ế vợ gần bốn mươi năm nay, tìm một cô vợ Việt còn bị chê, đào đâu ra vợ Nhật?

Nghe ông bà kể lấy vợ Nhật sướng lắm. Mình đi làm về, ngồi phè cho nó cởi giày, xong nó đi pha nước cho mình tắm. Mình ăn cơm nó quỳ một bên nó hầu, có miếng ngon vật lạ nó gắp bỏ vô chén, mình uống trà, nó dâng cả hai tay mời.

Cứ cho những lời đồn đại này là có thực đi, thì lấy một cô vợ như thế đã sướng chưa?

Đi ăn cỗ tôi rất sợ phải gắp thức ăn bỏ vô chén người khác, nhưng bị người ta gắp thức ăn bỏ vô chén mình còn đáng sợ hơn. Heo quay chẳng hạn, tôi rất ớn, nhưng vị phu nhân kia lại vừa gắp một miếng to tổ bố đặt vào chén của tôi. Ăn thì không nổi, mà bỏ đi thì mất lịch sự. Nếu cô vợ người Nhật mà thường xuyên làm như thế thì có gì là hay? Còn chuyện vợ quỳ trước mặt dâng trà cho chồng nghe cũng lạ, nhưng – nếu có vợ – tôi lại thích làm ngược lại. Trên đời này không có gì thú vị bằng quỳ lạy một mỹ nhân, lúc ấy lòng ta bồi hồi xúc động, nước mắt ta trào ra như suối, toàn thân ta tỏa hào quang như được “Phật độ”. Như vậy xem ra tôi không thích lấy vợ Nhật rồi.

*

Còn chuyện ăn cơm Tàu? Chắc các bạn còn nhớ Từ Hi Thái Hậu đã tổ chức một bữa tiệc có một không hai trên thế giới để thết đãi Sứ thần 8 nước: Nga, Pháp, Mỹ, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Ý, Đức tại Bắc Kinh. Bữa tiệc kéo dài 7 ngày đêm. Từ đêm 30 tháng chạp năm Nhâm Thân (1873) đến nửa đêm mồng 7 Tết Quý Dậu. Bữa tiệc ấy quy tụ mọi tinh hoa của nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc.

Tháng 2 năm 1972, khi tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, ông cũng được thủ tướng Chu Ân Lai đãi món thịt bò xào lá trà độc đáo. Đó là trà Long Tĩnh ở Hàng Châu. Tôi có đến thăm các đồi trà ở đó và cũng được dịp nhấm thử một tách trà thượng hạng của làng Long Tĩnh huyền thoại này, ăn thử mấy cái lá trà tươi – thứ được dùng để xào với thịt bò đãi tổng thống Nixon – thấy quả thật là có hương vị độc đáo.

Những quan chức của làng trà Long Tĩnh bảo rằng trà ở đây chỉ được hái vào khoảng từ năm giờ sáng đến bảy giờ sáng vì đó là lúc cây trà vừa thức dậy, trên những lá trà còn đọng những giọt sương. Lá trà là dương, giọt sương là âm. Trên một lá trà phải có hai yếu tố âm dương hòa hợp như thế mới được phép hái.

Nhưng không phải ai cũng hái được. Trà ở làng Long Tĩnh phải do những thiếu nữ đồng trinh hái thì mới giữ được cái hương vị cao quý, tinh khiết của nó. âi, đó là chuyện vẽ vời của người Tàu. Hồi xưa má tôi thường nói: Người Hàn Quốc thích tạo ra bi kịch, còn người Trung Quốc thì thích tạo ra huyền thoại. Quả không sai. Nhưng dù có huyền thoại hay không thì Trà Long Tĩnh cũng là thứ rất độc đáo.

Trở lại với cơm Tàu mà tôi đã “ăn” ở sáu thành phố bên Trung Quốc. Thực ra tôi có “ăn” đâu. Tôi chỉ “nếm thử”. Tại sao những món ăn made in China thứ thiệt tại những khách sạn sang trọng này lại hoàn toàn khác xa với những món ăn Tàu ở Chợ Lớn hay ở China Town tại New York, tại San Francisco?

Mười lăm ngày, bốn mươi lăm bữa ăn là bốn mươi lăm nỗi kinh hoàng của đời tôi. Bởi vì nó toàn mỡ. Rau luộc mà cũng xối mỡ thì có gì mà họ tha! Cá cũng mỡ, gà cũng mỡ, thịt cũng mỡ, tôm cua cũng mỡ… chỉ có độc một món không mỡ là CƠM. Và tôi đã ăn cơm với muối tiêu suốt mười lăm ngày. Một cô bạn nảy ra sáng kiến. Cô rót cho tôi một tô nước trà. Thay canh sao? Không phải. Để nhúng thức ăn vô rửa mỡ trước khi ăn. Good idea! Quả nhiên đó là ý hay. Nhưng ăn chung mà làm cái trò đó hơi bất lịch sự. Tôi đi siêu thị mua một ký táo. Bữa trưa tôi ăn cơm với muối tiêu và táo. Nhưng lòng tôi không thể nguôi được nỗi ấm ức. Những món mà người Tàu ở Chợ Lớn đã cho tôi ăn đâu rồi? Những dĩa cơm chiên hải sản tuyệt vời mà người Tàu ở San Francisco đãi tôi đâu rồi? Những món Điểm Sấm độc đáo mà tôi từng được thưởng thức ở New York sao tại chính quê hương của bà Từ Hy lại không có?

*

Nhà Tây thì sao? Theo cách hiểu thông thường thì đó là những ngôi biệt thự của Pháp, có nhiều mái, nhiều ngóc ngách, có sân vườn. Ở dưới Rez-de-chaussée có hầm rượu, phía trên cùng, sát mái nhà, có Grenier. Tường dày bốn năm tấc xây bằng gạch thẻ đặc ruột và vôi, phòng cao bốn thước rưỡi, cửa lớn cao ba thước, cửa sổ cao hơn hai thước.

Còn theo cách hiểu bây giờ thì “nhà Tây” bao gồm cả nhà Mỹ, mặc dù nhà Mỹ và nhà Tây khác nhau rất xa.

Ở Mỹ – trừ những trung tâm thương mại lớn toàn là cao ốc năm bảy chục tầng – những khu dân cư đều là biệt thự. Người Mỹ thích thay đổi nhà như người ta thay đổi xe vì thế họ không xây nhà kiên cố như dân châu Âu. Nhà Mỹ xây bằng gỗ, kể cả những nhà giá một triệu đô la cũng xây bằng gỗ nhưng rất chắc chắn, đầy đủ tiện nghi và sang trọng. Nhìn từ bên trong không ai biết đó là nhà gỗ. Sàn nhà trải thảm, tầng hầm (basement) cũng trải thảm. Tường và trần nhà sơn nước phẳng lì như kiếng, tất cả các cửa đều làm bằng nhôm hoặc gỗ quý. Bên ngoài nhà là sân cỏ xanh và landscape trồng hoa kiểng.

Nhà của Tây là những mái ấm thần tiên. Họ ở trong rừng, dưới thung lũng xanh đầy bóng mát và tiếng chim. Có lần tôi đi dạo trong một khu dân cư ngoại ô thành phố New York. Đó không phải là cõi trần gian nữa, mà là thiên đường, với rừng cây, đồi cỏ, thảm hoa, mọc quanh những biệt thự xinh xắn như trong truyện thần tiên, mới giật mình thấy sao mà khoảng cách giữa dân của họ và dân của mình xa vời đến thế!

*

Ở Việt Nam, tại các thành phố lớn cũng có người ở nhà Tây, nhưng đại đa số nhân dân nhà cửa xuềnh xoàng, thiếu thốn, cho nên ở nhà Tây đối với dân mình là một mơ ước xa vời. Nhưng còn cái ăn thì chưa chắc ai đã hơn ai. Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng không thấy đâu có món ăn tươi tốt, phong phú và ngon lành như ở Việt Nam. Còn chuyện lấy vợ thì hạnh phúc hay không phụ thuộc vào tình yêu chứ không cứ gì phải nài cho được một cô vợ Nhật.

HẠNH PHÚC

TRONG MỘT CHIẾC LÁ

Nhiều người hỏi: Hạnh phúc là gì? Là được yêu. Là giàu có. Là không còn đau khổ. Khái quát hơn, người ta nói: Hạnh phúc là thỏa mãn được ước mơ của mình. Nhưng ước mơ là một thứ vô hình, vô định. Nó có thể lớn như một tòa lâu đài, có thể xa như một vì sao, long lanh như một hạt ngọc, nhưng cũng có thể nhỏ như một hòn bi, gần như một vòng tay và giản dị như một chiếc lá.

Hạnh phúc gắn liền với sự vô định, sự mong manh, sự tạm bợ. Vì thế tất cả những cái gì là cố định, là trường tồn, là vĩnh cửu đều không phải là hạnh phúc. Một đóa hoa không bao giờ tàn thì không phải là hoa, một hương thơm không bao giờ phai thì không còn sự quyến rũ, một trận cười bất tận sẽ biến thành một cơn điên. Một nhan sắc vĩnh cửu với thời gian sẽ làm mọi người sợ hãi. Đó là bi kịch của hạnh phúc. Mọi người đều cầu mong được hạnh phúc, nhưng bản chất của hạnh phúc là mong manh, là tạm bợ, trong khi nhân loại khát vọng vĩnh cữu và trường tồn. Nhưng vĩnh cữu và trường tồn để làm gì nếu không có hạnh phúc, có nghĩa là nếu không có sự tạm bợ và mong manh!

Đó là nghịch lý cay đắng nhất, tàn nhẫn nhất mà con người phải chấp nhận.

Và đứa trẻ đã chấp nhận hòn bi thủy tinh trong suốt. Đối với nó, hòn bi còn quý hơn hạt kim cương. Tòa lâu đài xây bằng cát trên bờ biển còn quý hơn những biệt thự sang trọng. Mỗi lứa tuổi, mỗi hoàn cảnh có một hạnh phúc riêng. Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi thời thơ ấu là sáng mồng một Tết, mặc áo mới để được dẫn đến trụ sở xã, ở đó người ta phát cho mấy cái bánh ngọt, cốm, mứt gừng… Sau đó đi chơi trên những con đường quê nhiều áo mới, nhiều sòng bài bầu cua cá cọp, nhiều tiếng trống lân rộn ràng.

Hạnh phúc của chàng trai trẻ có khi chỉ là một chiếc khăn tay ướp vài cánh hoa lài hay một bức thư tình mực tím viết đơn sơ trên trang giấy học trò…

Nhưng hạnh phúc không dừng lại ở đó. Hạnh phúc như một thứ thuốc gây nghiện. Người ta càng lớn lên, càng giàu có thì những hạnh phúc nhỏ nhoi ấy càng trở nên vô nghĩa, lạt lẽo… Hạnh phúc leo lên những nấc thang mới. Đứa trẻ không còn thích hòn bi mà là một đồ chơi điện tử đắt tiền có rơ-mốt điều khiển từ xa, chiếc bánh cốm phải được thay bằng một bữa tiệc ở nhà hàng. Chàng trai trẻ không còn ngây ngất vì chiếc khăn tay ướp hoa lài mà chờ mong một mùi nước hoa đắt tiền trên tóc người yêu nơi vũ trường sang trọng.

Hạnh phúc bay theo những nhu cầu vô tận… Đứa trẻ đã chơi quen đồ chơi điện tử sẽ khóc òa khi cho nó một hòn bi. Cô gái đã quen dùng nước hoa đắt tiền sẽ thấy bị xúc phạm khi người yêu tặng một nhánh hoa lài. Như thế có nghĩa là hòn bi và nhánh hoa lài không còn là niềm hạnh phúc nữa mà đã trở thành sự đau khổ.

Ngày đó tôi nghèo. Buổi chiều chở người yêu ghé quán cóc uống một chai Chương Dương và một dĩa ốc leng xào dừa, thấy tràn đầy hạnh phúc. Sao cũng là tôi mà bây giờ uống Heineken có khi còn thấy chua lè? Vậy thì hạnh phúc ở đâu?

Có phải hạnh phúc cũng giống như Thời Gian, nó trôi đi và không bao giờ trở lại? Có phải Hạnh Phúc cũng giống như tuổi thơ, nó long lanh như giọt sương trên lá cỏ rồi tan biến khi nhịp sống xô bồ ập đến? Có phải hạnh phúc như chiếc lá kia, lộng lẫy trên cành cao, mượt mà trong nắng sớm, rồi tàn úa. Vàng. Khô. Và lìa cành?

Con người nhìn hạnh phúc ra đi trong nỗi ngậm ngùi, nhưng chiếc lá xa cành sao mà nhẹ nhàng thế. Một cơn gió thoảng qua, nó chỉ khẽ rùng mình, rồi chao nghiêng như một cánh bướm, như một vũ công biểu diễn tác phẩm cuối cùng của mình giữa trời và đất, giữa hoa và cỏ. Nó la đà, uốn lượn, nó thong thả, ung dung và thanh bình lướt trong không gian tĩnh lặng, một chút do dự, một chút đắn đo, một chút luyến tiếc. Rồi như một cánh chim, nó đậu xuống mặt đất vàng rực những lá khô nằm chờ sự hóa thân vào đất, sự luân chuyển mầu nhiệm vào mạch nhựa cây để rồi trở thành một chiếc chồi non khác, một chiếc lá khác….

Hốt nhiên ta nhớ đến bốn câu thơ của Bạch Cư Dị:

Ly ly nguyên thượng thảo

Nhất tuế nhất khô, vinh

Dã hỏa thiêu bất tận

Xuân phong xuy hựu sinh.

Cỏ trên thảo nguyên rậm rì. Mỗi năm cứ khô đi rồi lại tốt tươi. Lửa hoang dã thiêu bất tận. Nhưng mỗi khi gió Xuân về thì cỏ lại mọc lên… Hạnh phúc nào có khác gì cỏ trên thảo nguyên, ngắn ngủi nhưng trường sinh, tàn lụi nhưng tươi tốt. Hạnh phúc tiềm ẩn trong trời đất, trong mỗi con người. Hạnh phúc có thật dù không hề nói, không hề suy nghĩ.

Chiếc lá cũng không biết suy nghĩ, nhưng nó hiểu hạnh phúc hơn chúng ta, vì thế nó ung dung nhìn ngắm sự luân chuyển của trời đất, giống như bốn mùa thay đổi. Mỗi chiếc lá mang trong cuộc đời nó cả Xuân, Hạ, Thu, Đông vì thế khi nó lìa cành, nó hiểu rằng rồi mùa Xuân lại về và lá lại đâm chồi trên cành cây, lại bắt đầu một hạnh phúc.

CƯỠI NGỰA XEM HOA…KỲ

Bút ký

Nhiều người nói: “Đến Mỹ mà không thăm Las Vegas coi như chưa đến Mỹ. Độc nhất vô nhị trên thế giới.”

Thực ra Las Vegas chỉ là một sòng bài diêm dúa, một sự phô trương đèn đuốc và những bảng quảng cáo.

Cái đáng chiêm ngưỡng lại nằm bên ngoài Las Vegas. Đó là sa mạc khô cằn mà chúng ta phải băng qua khi đến thành phố. Băng qua đó như băng qua một vùng đất của sao Hỏa. Không có núi xanh vì sa mạc chết. Chỉ có những ngọn núi màu tím, màu vàng, màu cà phê hay màu đen ánh bạc của quặng thép. Những ngọn núi nổi chập chờn trong mưa. Mưa sa mạc đến rồi đi, rồi lại đến. Đột ngột, gào thét và dịu dàng. Những cơn mưa làm cho sa mạc bớt nóng. Nhiệt độ bên ngoài đã tụt từ 140 xuống đến 75 độ F  (khoảng 20 độ C). Sa mạc trải dài hai bên con đường nhựa đỏ, ngun ngút một màu vàng xám lỗ chỗ những bụi gai sắc nhọn, khô cháy.

Nếu không có sa mạc này thì Las Vegas không là gì cả. Hollywood, Disney Land cũng vậy, chúng chỉ là những khu giải trí dành cho trẻ con. Cái đáng thán phục ở Mỹ chính là những sân bay lớn như Los Angeles, Dallas, Kennedy… chúng như những vương quốc rộng lớn với nhịp sống vô tận. Hệ thống đường bộ của họ làm chúng ta bàng hoàng sợ hãi. Xa lộ ở tiểu bang California thênh thang, năm tầng bảy lớp, đường xẻ núi mà đi, lên đồi xuống dốc, băng qua sa mạc, vượt thung lũng. Đường trùng điệp, không biết đâu mà cùng, đường không có ngã tư, không có đèn xanh đèn đỏ, ra khỏi nhà là chạy, khoảng cách giữa hai thành phố không đo bằng kilômét hay bằng mile mà bằng cái đồng hồ. Đi trên xa lộ không có dịp để dùng tới cái thắng. Cái thắng có lẽ chỉ dùng để dừng xe lại khi đến nhà.

Ví dụ như đoạn đường từ New York đến Boston. Xa lộ đen, rừng xanh chập chùng, những trạm nghỉ chân ven đường tiện nghi như một khu du lịch. Và tĩnh mịch. Bốn trăm dặm mà đi như chơi. Ba tiếng đồng hồ. Từ New York đi Boston là từ rừng đến rừng, từ hoa nối hoa, từ cỏ nối cỏ, những thảm nhung xanh phủ kín mặt đất, còn nguyên những giọt sương sớm, nhà cửa mọc trên đồi xinh xắn như cổ tích.

Bắc nước Mỹ xanh và lạnh. Trung nước Mỹ vàng lúa mì mùa hạ và trắng xóa tuyết mùa Đông. Nam nước Mỹ, nhất là nam Cali – nơi có Sài Gòn Nhỏ – thì nóng, cằn, sỏi đá, sa mạc… nhưng bắc Cali – nơi có thung lũng Silicone (San José) có cây cầu treo nổi tiếng Golden Gate (San Francisco) thì mát dịu, đất đai mầu mỡ hơn, cây cối xanh tốt hơn.

Khách nước ngoài đến San Francisco khá đông, đa số là người Nhật và người đông Âu. Từ trên đồi có thể nhìn thấy biển, chỗ có cây cầu Golden Gate. Rừng thông ở đây giống hệt Đà Lạt. Dốc cao loanh quanh giữa cỏ dại, sân golf ngay dưới lũng thấp, bên trái thấp thoáng một rừng nhà chọc trời sau lớp sương mỏng. Thành phố xây trên vùng núi đồi. Dấu tích của vách đá, sườn non còn để lại trên những con dốc sâu thăm thẳm giữa hai hàng nhà chọc trời ngất ngưởng, lấp lóa ánh bạc của những vật liệu kiến trúc hiện đại. Phố Tàu ở San Francisco đồ sộ, sạch sẽ, tự tin và kiêu hãnh bên cạnh một San Francisco của người Mỹ chính cống. Trong khi đó phố Tàu ở thành phố New York thì cũ kỹ, lộn xộn và ngập rác vào lúc nửa đêm.

Ở New York City cây cối không tranh nổi với bê tông cốt sắt. Từ hơn 200 năm nay cao ốc uy hiếp cây cỏ, chen lấn thô bạo những cánh rừng, những công viên, chúng huênh hoang trên những đại lộ, tranh ánh sáng với từng tán lá dưới thấp, đẩy cây cối vào các khe hở của chúng, vào kẽ nách của chúng. Ở New York City, người ta quên mất ý niệm về cây cối.

Nhìn từ nóc tòa nhà nổi tiếng Empire State Buiding ta mới kinh hoàng bởi khối lượng nhà chọc trời thiên hình vạn trạng của New York. Nó hoàn toàn xứng đáng là thành phố lớn nhất thế giới. Nhưng New York nhìn từ những ngóc ngách của phố phường thì quả là một sự quá tải của mọi thứ. Bên cạnh những tòa nhà cao ngất, lộng lẫy, hiện đại là những building năm bảy chục tầng nhưng nám khói, lở loét, cửa kính vỡ nát, hoang tàn. Bên cạnh những đại lộ thẳng tắp sạch sẽ với những cầu vượt hiện đại là những chiếc cầu sắt vô danh cũ nát đen nhẻm như đống sắt phế thải. Bên cạnh những siêu thị rực rỡ, những nhà hàng khách sạn sáng choang là những dãy phố đầy rác bẩn của China Town, của khu Harlem. Tôi nghĩ là người Mỹ dư tiền để xây dựng một thành phố New York hoàn chỉnh hơn, toàn bích hơn, nhưng dường như chính quyền đã bất lực trước một thành phố quá rộng lớn, quá bề bộn, quá đa dạng. Họ kiểm soát không nổi, họ bỏ mặc những nơi quá sức quản lý của họ. Một người bạn từng sống lâu năm tại New York bảo tôi: “Cảnh sát rất ngại đến khu vực của các nhà hàng Ý. Họ sợ đối đầu với đám Mafia ở đó.” Còn ở Phố Tàu thì sao? Dường như họ chỉ có mặt trên đường phố để điều khiển giao thông. Phần lớn cảnh sát giao thông ở China Town đều là phụ nữ da đen.

Tất nhiên thành phố New York vẫn có những công viên rất đẹp và rất nhiều bóng cây, nhưng nếu ra khỏi thành phố, từ những freeway nhìn ngoái lại, ta chợt kinh hoàng nhận ra New York không phải là một thành phố của hành tinh này nữa. Nó như những dãy núi đá nối tiếp nhau chập chùng, trơ trụi, không một bóng người, không cây cối, không tiếng động. Đó chỉ là một dãy đá tảng khổng lồ, lô nhô, tìm thấy trên một hành tinh xa lạ, lạnh giá và hoàn toàn chết lặng dưới ánh nắng chói chang của mặt trời. Đó là một thành phố đã chết, đã hoang phế từ một ngàn năm rồi. Không ai ngờ là nó đang sống. Sống dữ dội. Sống hối hả. Sống rực rỡ. Sống hết những gì nhân loại có thể sống. New York có đủ những gì nhân loại có thể có. Và có cả những cái nhân loại chưa từng có.

Đó là thành phố New York nhìn từ mắt của một nhà văn da vàng lạc hậu như tôi, hoàn toàn phiến diện, hoàn toàn thiếu sót. Bởi vì trong một buổi sáng sớm từ tiểu bang Connecticut đến New York, anh bạn tôi đã qua lố một cái exit trên freeway và lập tức chúng tôi bị lạc vào khu ngoại ô New York. Đó là một thế giới hoàn toàn khác. Một vùng như thể cây quỳnh cành dao. Chúng tôi lạc trong rừng. Nhưng đó là khu dân cư, với những ngôi biệt thự xinh xắn nằm rải rác trên những đồi cỏ xanh bóng cây, rực rỡ hoa, ngân nga sự tĩnh lặng sang cả của thiên đường. Đó là khu vực của người da trắng. Một New York khác, ẩn dật, trầm mặc và riêng tư. Vậy thì sẽ còn bao nhiêu New York khác nữa? Bao nhiêu thế giới khác nữa? Tôi không có thì giờ. Con ngựa trắng của thầy Đường Tăng đang chờ tôi đi đến những miền đất khác.

ĐÀO HIẾU

Advertisements
By daohieu Posted in Không phân loại

One comment on “HỎI THẾ GIAN TÌNH LÀ VẬT GÌ?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s