SƠN NAM ngoại sử 08

SUM HỌP

Lòng nhớ nhung, tân linh tình cảm nhân hậu thôi thúc, dân Gò Vấp đi thăm nhà Sơn Nam. Theo quốc lộ 1A chúng tôi thẳng hướngvề Miền tây. Khi xe đã đến cầu Bến Lức qua giòng sông Vàm Cò Đông vào tỉnh Long An, địa đầu miền đất Nam Bộ, lòng chúng tôi bồi hồi se đọng, trước mắt chợt sống dậy những trang sách của cố tác giả Sơn Nam đang dần mở. Cảnh quang thiên nhiên, nhân văn địa chí… qua các tác phẩm “BIỂN CỎ MIỀN TÂY” (nhà xuất bản văn học 4.1995) NÓI VỀ MIỀN NAM (Lá Bối xuất bản 6.1995)…

Trải qua hơn 70 cây số, đã đến Ngã ba Trung Lương vào trung tâm Thành phố Mỹ Tho.

Kìa! bến xe đò Mỹ Tho rộn ràng xe cộ hiện ra trước mắt, mái ấm gia đình nhà văn Sơn Nam chỉ còn cách vài trăm thước. Thời nay cửa nhà, quán phố hai bên đường cất lên san sát, cư dân đông đúc, sinh hoạt, thương mại… phồn thịnh.

Vào các thập niên 1960 về trước, vùng đất này từ cầu Đạo Ngạn đi xuống trống trơn, có đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho chạy qua. Vào thời ấy nhà văn trẻ Sơn Nam không chịu ở nhà, đi lên đất Sài Gòn sống còn viết cho các tờ báo CHÍNH LUẬN – TIA SÁNG – ĐIỆN TÍN… Hễ đến các ngày cuối tuần là về thăm vợ là bà Đào Thị Phán và các con.

Gia đình của nhà văn Sơn Nam hiện nay ở Ấp Bắc, thành phố Mỹ Tho, hồi ấy hễ đến ngày Sơn Nam về thăm nhà, lũ nhỏ thường ra đầu ngõ ngóng mắt lên tàu lửa đang chạy xình xịch ngang qua nhà. Ba của chúng mỗi khi tàu sắp đến, cũng cố ý đứng ngay chỗ cửa toa nhô đầu ra hồi họp đợi chờ.

Cha trên tàu, các con thì đang đứng đợi dưới đất. Tay vẫy lia lịa, mừng reo rối ra rối rít. Tàu lửa chạy thẳng vào ga Mỹ Tho non một cây số nữa mới dừng hẳn.

Sơn Nam hối hả, trên tay trĩu nặng quà bánh sách báo… kêu xích lô đi ngược lại, về nhà. Vợ chồng cha và các con đoàn tụ. Nhưng cũng chẳng được là bao lâu, bấy giờ vì thời cuộc, vì nghiệp văn đời báo con chim lại phải tung cánh.

Nhưng ngày đó biệt ly mà còn gặp lại. Nay thì người cha đã nằm sâu trong lòng đất.

CHÚT KỶ NIỆM XƯA

(Bài của Trần Anh Tài – báo KHPT)

Những năm 1964 – 1965, tôi (Trần Anh Tài) tiếp tục đi học được nhờ bán báo ở tỉnh lẻ Gò Công, tập tành cầm bút, thì anh Sơn Nam Phạm Minh Tày đã thành danh khá lâu trên văn đàn Sài Gòn, miền Nam.

Tôi biết anh qua nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà (Trương Khương Trinh). Cả hai đều là dân Rạch Giá lên Sài Gòn sau 1954. Lần đầu tôi gặp  Sơn Nam tại nhà anh Kiên Giang, một căn nhà xây, chật, trong con hẻm Trần Hưng Đạo, gần chợ Nancy.

Anh Sơn Nam hồi đó cũng ốm nhom, đã ghiền thuốc lá nặng, chân đi dép, không bao giờ đi giày, hớt tóc ngắn, không bao giờ chải tóc, không biết đi xe gắn máy, cả đời không mấy khi mặc áo dài, khăn đóng, mắt kính đã cận nhiều độ, hay nói bông đùa, kể chuyện tiếu lâm, hút thuốc liên tục…

Nghe nói tôi dân Gò Công, anh rất thích, hỏi tôi chuyện Phạm Đăng Hưng, chuyện Võ Tánh, chuyện Trương Định. Hồi đó, tôi rất “lớ ngớ”, sau nghĩ, rất mắc cỡ. Anh nói như cười cười ở cái miệng và gương mặt rặc ông già Nam bộ:

-Tên tao, tại hộ tịch nó viết sai chính tả, đáng lẽ trùng tên với chú mầy. Còn trẻ, phải ráng đọc, học sử, trước hết là sử địa phương, để ai hỏi, có mà đối đáp…

Hồi đó, tôi từ Gò Công, sáng sớm chạy xe Goebel lên chợ Dân Sinh (Quận 1) mua báo Cổ Động mang về bán trước, thay vì chờ các nhà phát hành Đồng Nai, Nam Cường hay Thống Nhất gởi xe đò về, phải đến 5 – 6 giờ chiều. Hồi đó, dân quê Gò Công tôi đọc báo nhiều lắm. Từ biết anh Sơn Nam, cứ bảy bữa, mười ngày, tôi đi sớm, chơi với anh đến 12  giờ trưa, ra chợ…

Anh Sơn Nam có lúc viết mỗi ngày sáu bảy cái feuilleton cho 6, 7 tờ báo, viết bằng bút Bic, trên giấy tập học trò. Khi viết im như thóc, hút thuốc liên tục, cách hành văn đơn giản, mộc mạc như kể chuyện của anh, rất hấp dẫn độc giả thời đó.

Có lần ghé nhà anh Kiên Giang, anh nói:

-“Giả” giờ này chắc còn chỗ Nguyễn Vỹ. Tôi đến báo Dân Ta cạnh Yểm Yểm Thư Trang, trên đường Phạm Ngũ Lão, gặp anh đang viết, chỉ tay vào ghế chờ, không nói không rằng. Viết xong, anh gấp bài, bỏ vào phong bì, nhờ tôi chuyển tới báo Chính Luận (đường Lê Lai) rồi… cặm cụi hút thuốc và viết. Tôi quay lại, anh cười bằng mắt, chỉ ghế cho ngồi. Chừng vài chục phút, anh đứng dậy, nộp bài cho Dân ta, bảo tôi chở anh sang 45–47 Phát Diệm (chỗ báo Tia Sáng) gần Cliché Dầu (nay đường Trần Đình Xu). Anh nói: ông chủ bút Tia Sáng chơi điệu lắm, tao với mầy qua đó, viết xong, ông ấy hẹn sáng nay ăn cơm nhà hàng…

Gần 11 giờ, anh xong bài, chủ bút N.T.Th cũng tới. Anh giới thiệu tôi là em họ dưới quên lên. Bữa đó, tôi ăn ngon lành canh chua – cá kho tộ lần đầu tiên trong đời chỗ nhà hàng Continental, bên hông nhà Quốc Hội!.

Trong bửa cơm, tôi hỏi anh về Yểm Yểm Thư Trang, tôi mới biết đó là của Đông Hồ – Mộng Tuyết. Anh nói từ Hà Tiên quê anh, lên Vườn Ông Thượng Sài Gòn, rồi Bò Bảy món Au Pagolac Mỹ Tho… thật rành rẽ…

Anh Sơn Nam khuyến khích tôi viết văn xuôi thay vì chỉ làm thơ. Lúc anh phụ trách các mục “Viết Trên Quê Hương Điêu Tàn” hay “Quê Hương Mình Chiến Tranh” của báo Điện Tín, Tin Sáng, cách biên tập bài  tôi của anh, cho thấy ý anh muốn tôi về gần với dân tộc, cội nguồn. Anh nhiều lần dặn: viết dễ hiểu sẽ dễ đi sâu vào lòng người. Anh cũng khuyến khích tôi viết chỉ ra cái yếu, cái sai của địa phương, để chính quyền sửa cho tốt hơn. Phải viết cho lẽ phải, có ích, đừng xu thời, đừng làm bẩn ngòi bút và thẹn lương tâm.

Ngày 16.5.1970, sau khi thất bại với TS.Nguyễn Nhã (ĐHSP TP. HCM) về tổ chức cho học sinh du khảo các di tích lịch sử, anh Sơn Nam và Kiên Giang về nhà tôi ở Gò Công chơi hai ngày. Tôi đưa anh đi thăm Lăng Hoàng Gia. Lăng Võ Tánh, Lăng Trương Định… mấy ngày sau, trên báo Tia Sáng, liên tiếp hai kỳ, hai anh có bài viết: “phải chăng, Gò Công đang hủy diệt cổ tích liệt hạng?”. Các anh, qua bài viết, bày tỏ cảm tình với vùng đất địa linh nhân kiệt, có sản vật ngon: mắm tôm, mắm chà, xơri, gà nòi chọi, nhất là dân Gò Công sống có tình người… nhưng hai anh cũng phàn ảnh: sao Lăng Hoàng Gia lúc đó hoang tàn, sao Lăng Trương Định cửa đóng im ỉm, sao Lăng (miếu) Võ Tánh lại làm nơi huấn luyện Nghĩa quân rồi làm bót cho Địa phương  quân… Sau đó, anh Sơn Nam đăng hai bài viết của tôi, đòi nhà cầm quyền Gò Công phải trùng tu di tích, phải trả Võ Quốc Công miếu về cho người dân… Chính quyền Gò Công có lắng nghe, trùng tu sửa chữa phần nào.

Lúc anh dời nhà ngập nước thường xuyên từ Quận 11 về nhà khang trang Bình Thạnh, anh có đến thăm khoe tôi tại tòa soạn báo Khoa Học Phổ Thông, trên đường Điện Biên Phủ Quận 3. Mấy mươi năm xa, anh vẫn vậy: thật tình, giản dị, hiền hậu kiểu văn minh.

Lúc anh làm cố vấn cho phim Người Tình (L”amant), anh nói: Phim này phỏng theo tự truyện của cô đầm có dòng máu Việt. Người tình của cô đầm vốn người Hoa, sau ngày cưới vợ giàu là cô Tư Mỹ, con bà Nguyễn Thị Marie (bà tòa Ri), chị cả của bà phủ hạt ở chợ Gò Công (con cái hiện nay ở Mỹ, giàu có – học giỏi). Sau đó, ông này lại lấy luôn cô em vợ thứ tám tên Bạch. Gia đình tay ba vẫn sống hạch phúc. Cô em không có con, nuôi các cháu như con ruột. Cô Tám mất trước cô Tư (cô Tư mới mất năm 2004). Hai cô này đều là cháu cố của bà Dương Thị Hương. Bà Hương là con của ông Dương Tấn Bổn và bà Trần Thị Sanh. Sau khi chồng chết hai năm, bà Sanh làm vợ lẽ cho anh hùng kháng Pháp Trương Định, giúp ông Định nhiều và gian nan biết bao khi lập mộ cho ông.

Anh Sơn Nam không có thói quen giữ các tác phẩm của mình. Khi được NXB Trẻ uy tín mua hết các bản quyền. Anh thiếu quyển “Chim Quyên Xuống Đất”, may sao, có ông thầy giáo Đinh Công Tâm mê sách Sơn Nam, đem tặng cho…

Những năm cuối đời, tai nạn và bệnh hoạn khiến dáng gầy của anh càng trở nên còm cõi.

Anh vào bệnh viện Nhân dân Gia Định chiều ngày 30.7.2008 sau cơn đột quỵ. Tại đây, Bác sĩ còn tìm ra bệnh viêm gan, suy thận nặng ở anh, sức khỏe rất tệ. Các y, bác sĩ Bệnh viện chăm sóc anh đặc biệt, là đã thay mặt hàng triệu bạn đọc văn anh, bạn bè thân anh, các học trò, đàn em anh… như tôi, như Trần Ngọc Hưởng, từng có thời gian dài trước 1975 hễ gặp là “quấy rầy”.

Tin như sét đánh ngang tai. Hồi 12 giờ 40 ngày 13.8.2008 trái tim anh đã ngưng đập, bàng hoàng thương tiếc khôn nguôi. Nhưng anh vẫn sống mãi bên chúng tôi…

BỘ KHĂN ĐÓNG ÁO DÀI CỦA NHÀ VĂN SƠN NAM

Xưa nay những ai quen biết, gặp gỡ Sơn Nam điều thấy con người của nhà văn có đầy đủ phẩm lượng về học vấn, vốn sống sâu dày dồi dào, tài năng và bút lực mãnh liệt.

Ông sinh năm 1926. Ở tuổi bát tuần, tác giả đã cho ra đời hơn 50 đầu sách viết về mọi lãnh vực, các tác phẩm của ông có giá trị vượt thời gian.

Thế nhưng, trong 365 ngày của năm, từ những ngày thường cho đến ba bữa tết đến xuân về, người đời còn tâm đắc và quý mến ông hơn. Lúc nào ông cũng xuề xoà thiện cảm, chơi và sống với tất cả mọi người như “Cá với nước, như cây với cành”, nhất là với tầng lớp bình dân lao động.

Có lắm lần chúng tôi đi thăm các đồng nghiệp ở tỉnh Bình Dương vào dịp tất niên. Lúc ngang qua chợ Lái Thiêu thấy số bà con người dân tộc STiêng đang ngồi ở đó, ông hí hửng bảo dừng xe lại rồi tấp sà vào chơi với họ. Ông động lòng móc hết tiền trong bóp ra lì xì mừng tuổi họ. Rồi ăn khoai mì, hút thuốc rừng vấn lá họ mời, hỏi han trò chuyện cả buổi. Lúc tiếp tục đi ông nói: “Sướng nhất là những người này họ chẳng biết mình là ai”

Ngày nối tiếp ngày, vai đeo túi, đầu đội nón vải xập xệ lãng tử, ông ra đi vì ngiệp vụ, vì cơm áo gạo tiền khắp bốn phương trời. Chiều tối con chim quay về tổ trọ, có cộng đồng xã hội, bà con anh em, điếu thuốc, ly trà qua loa trò chuyện, mặt nhìn lại mặt nhau vang tiếng cười giòn giã. Trái tim lưu thông máu huyết, buồng phổi dồi dào hơi thở…

Sống như vậy, nên bất cứ lúc nào, thấy ông có nhà, mọi người đi ngang qua, đều xề vô chào hỏi niềm nở, ngồi chơi rồi bắt đầu râm ran mọi chuyện, tất cả mọi “thành viên” đều mặt mày hả hê tươi tắn. Mà ông cũng thích lân la qua nhà họ. Bởi vậy ba ngày vui Tết rỗi rảnh xúm xít bên nhau, càng khá đông cô bác ngẫu hứng nói tiếu với nhau, có ngay ông ở đó: “Giả dụ bây giờ muốn ông Sơn Nam mất ăn Tết dễ ợt thôi! Đem hết thuốc lá trên cõi đời này ném sạch sành sanh xuống biển. Tuyệt đối không cho ông ta hút một điếu nào nữa. Hoặc “dĩ độc trị độc” lấy cặp mắt kính ông đang đeo. Rồi bưng cái bàn máy đánh chữ, gom hết sách báo giấy mực, không để cho ổng viết lách, biên soạn gì ráo trọi là xong ngay!”

Họ còn nói cách khác. “Nếu như trên thế gian này, không có một chiếc xe ôtô, xe gắn máy, xe đạp, hoặc giá dầu thô trên thế giới tăng lên đến mức kỷ lục thì nhà văn của chúng ta cũng chẳng hề hấn gì! Vì chẳng bao giờ ông ta biết sử dụng đến các món đó. Suốt đời ông chỉ sử dụng đôi chân tự có đi bộ thật dẻo dai tài tình.”

Thế nhưng, có ai biết được nếu đem cất giấu hết tất cả các bộ khăn đóng áo dài lễ phục của ông treo trên đống sách ngổn ngang nơi ông đang sống và làm việc, nhất là những dịp cuối năm, đầu năm… đó mới đại sự.

Như định kỳ theo tháng ngày âm lịch, tại TP. HCM có các lễ hội lớn như ngày 1.8 huý kỵ đức tả quân Lê Văn Duyệt tại Lăng Ông Bà Chiểu (quận Bình Thạnh), ngày 18.2 lễ hội Kỳ Yên, 17.7 lễ huý nhật (giỗ ông) tại miếu Thành Hoàng Bổn Cảnh (quận 10), ngày 17.8 lễ Kỳ Yên các đình thần Phú Long, Lái Thiêu, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh… nơi nơi đều tới tấp đem giấy mời đến cho ông.

Sơn Nam có những cuốn sách biên khảo, nghiên cứu về nghi thức và lễ bái của người Việt Nam, đình miếu và lễ hội dân gian, Lăng Ông Bà Chiểu và văn hoá lễ hội dân gianTác giả còn là bậc kỳ lão, trưởng lão tâm linh nhiệt huyết, lòng hoài cổ thiết tha gắn bó với lịch sử, cội nguồn văn hoá dân tộc, với lăng tẩm di tích lịch sử khắp mọi miền. Dịp kỷ niệm Sài Gòn – TP. HCM 300 năm (1698-1998), ông đã từng khăn đóng áo dài, đi ra miền Trung cùng các quan chức, họ hàng địa phương và đến trước mộ

phần của Nguyễn Hữu Cảnh ở Thác Châu Ro – Quảng Bình hành lễ, cúng bái đọc văn tế. Rồi quay về TP. HCM, ông đã cùng các quan chức chính quyền, khách nước ngoài, cùng đông đảo nhân dân đón giao thừa bước sang năm mới 1998, trong một lễ hội trọng thể, hoành tráng tổ chức tại công viên văn hoá Tao Đàn, để tưởng nhớ công ơn lịch sử một công thần đã mang gươm đi lập quốc, mở mang bờ cõi phía Nam.

Tại nơi ở của ông, các bộ lễ phục khăn đóng áo dài được ông móc treo trên cao, nâng niu giữ gìn: Có sẵn đến vài chục bộ do bá tánh và các chùa đình tặng cho ông. Nó được may bằng vải lụa đúng quy cách, đủ sắc màu xanh đậm, vàng, đỏ tươi thắm. Hàng nút áo đơm cài chặt phía bên hông trái. Toàn thân áo hoa văn cổ kính, các Hán tự vinh thọ phúc… như cái bông, hình tròn tượng trưng cho nhật nguyệt.

Trong các ngày có lễ hội, quốc lễ, ông mặc bộ lễ phục khăn đóng áo dài chỉnh tề, trân trọng đứng ra cúng bái khai hội…Đời thường trong dân gian, những bộ áo dài khăn đóng đáng kính này nhà văn Sơn Nam còn sử dụng rất nhiều lần. Đó là những lúc được ông lấy xuống săm soi, chải chuốt thật kỹ, để khuya sớm ra đi làm đai diện, chủ hôn, chủ tế trong cá đám cưới, tang lễ, tân gia…

Các nơi tâm huyết của vị trưởng lão này thường không phải chốn giàu sang quyền quý. Có lần “rất oải”, tôi phải chở ông đi lắt léo, len thân qua lắm hẻm xó ngoằn ngoèo nhiều ngóc ngách. Đến nơi phải gửi nhờ xe gắn máy, lội bộ năm bảy đợt nữa mới vào được nhà thân chủ.

Các gia đình hữu sự này, ông nhớ ngày tháng vanh vách, hoặc có lắm lúc họ đến mời nhắc. Họ là các cháu con, quả phụ của các nghệ sĩ cải lương, sân khấu, nhà văn, nhà báo, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ… bạn thâm giao nối khố của ông.

Nay những người này không còn trên cõi đời này nữa, gia cảnh neo đơn, thân nhân họ hàng cũng chẳng còn ai. Sự có mặt ông trong những ngày hệ trọng như vầy, với họ thật vô cùng cảm kích, hơn cả ruột rà.

Đến giờ hành lễ, ông khăn đóng áo dài đứng lên cúng bái giữa nhang đèn nghi ngút khói. Giữa các đám ma, đám giỗ, người thân của họ nhìn lên di ảnh người quá cố trên bàn thờ, rồi nhìn ông rưng rưng nước mắt. Ông còn trầm ngâm kể lại nằm lòng về tiền sử, tài danh của những người đã khuất, những người bạn ông. Sống dậy biết bao nỗi niềm…

Còn trong đám cưới của các đứa trẻ đã mất cha vắng mẹ, ông chính là bậc thay thế phụ huynh của chúng đứng ra chứng giám và làm lễ cho đôi nam nữ kết hôn, thành vợ thành chồng. Sau phần nghi thức, đến giờ nâng ly chúc mừng trong mâm tiệc đãi đằng, khi cô dâu chú rể tiến về phía ông, ông nói: “Chúc tụi bay đối duyên “cầm sắt” ra duyên “cầm vàng bốn số chín!”. Hoặc “chín mươi chín năm hạnh phúc là được rồi cần gì phải trăm năm!” và ông dí dòm nói tiếp.

– Thời nay khoa học hiện đại, ngành nha khoa và thẩm mỹ viện tân tiến. Nếu vợ chồng tụi bay ăn ở với nhau đến ngày “răng long đầu bạc” dắt nhau ra tiệm làm lại răng giả, nhuộm lại tóc muốn màu gì cũng có.

Tiệc mừng tân gia ông nói:

– Con hơn cha nhà mất nóc! Tiến lại bên gia chủ ông chỉ tay nói:

–  Nhà này ba đời chết!

Mọi người nghe thấy trố mắt ngẩn ngơ! nhà văn Sơn Nam từ từ châm điếu thuốc giãi bày:

–  Tụi trẻ bây giờ nó ăn học giỏi, làm được ra tiền. Nhà tranh vách lá của cha mẹ, chúng dỡ ra xây lên được nhiều tầng.

Thời nay nhà cửa lên giá chóng mặt bằng đống vàng. Đã từng xảy ra biết bao cảnh đau lòng, cha con, anh em, nào đến các cháu nội ngoại máu mủ ruột rà, chém giết tranh giành nhau bán nhà bán đất chia của cải. Phần thì nay dính quy hoạch, mai dính giải tỏa.

Tui muốn bà con, từ đời ông nội đến các đời con cháu… sống bình yên đạo nghĩa trong ngôi nhà này cho đến ngày già chết!

Giữa các bàn ăn hào hứng với đám trai trẻ đang rộn rã tiếng dô! dô!… ông cầm lên chai rượu trắng, chỉ chỏ nói:

–  Con cá nó bơi trong hồ nước, con chim nó bay lên trời ta dễ thấy. Còn con ma men ác quỷ tử thần nó núp trong này khó thấy lắm các cháu  ơi!

Quay sang với quý cụ ông cụ bà chỉ tay vào dĩa cua rang muối ông nói:

–  Thời nay, đám trẻ mới lớn lên có số hư hỏng nặng nề. Mình người già phải chăm lo dạy dỗ kìm kẹp chúng: Nhưng phải tế nhị, đừng kẹp đau như cặp càng của con cua thì hư bột hư đường…

Bấy nay lúc còn sinh thời, ai ai gặp gỡ nhà văn Sơn Nam cũng đều nghe được cái mới. Lòng vui ý thật có nội tâm nhạy cảm, nội hàm sắc sảo thực tế cuộc sống trong dân gian xã hội.

Bầu không khí ở các nơi có ông xuất hiện hài hoà, cảm động, dí dỏm và vô cùng hào hứng, sâu sắc.

Mấy ai đã từng được nhìn thấy vạt trước thân áo dài lễ phục của Sơn Nam. Xen kẽ, ẩn mình giữa các hoa văn có lấm chấm những lổ cháy thủng bằng đầu mút đũa. Cũng dễ hiểu, nó cũng là nạn nhân của việc hút thuốc lá liên tục của ông đó thôi. Bộ lễ phục lúc đi xếp gọn vào túi xách mang theo. Khi đến chốn “công đường”, đến giờ bắt đầu làm lễ mới mặc. Không phải chính ông tự mặc vào, mà sẵn sàng có quý bà, quý cô tươi xinh tiến đến sát bên ông “nâng khăn sửa túi”, với “đặc ân” ấy ông đã từng thỏ thẻ “Thần linh khuất mặt cũng tâm lý đối với tôi”.

Chưa dừng lại ở đó, bộ lễ phục của “kỳ lão” còn hải hồ lăng lóc. Ấy là những lúc tại nhà, đang ngồi  viết lách, bổng có điện thoại reo, đầu dây gọi có tiếng oanh vàng nhắn nhủ, hoặc nghe có tiếng gõ cửa bước vào âu yếm mời mọc. Họ là cô gái bán cháo lòng, là chú xích lô, xe ôm, là dân phụ hồ, thợ sửa các loại xe ngoài bờ ngoài bụi. Họ chính là “bạn thân”của ông, họ ăn nói rất dễ thương: “Thưa bác Sơn Nam. Nhà cháu mai chiều có gả chị gái lấy chồng”. Kẻ thì có đám làm tuần 100 ngày cho bà già. Hoặc xây mộ cho ông bà nội ngoại, xây nhà, về nhà mới. Rồi “mời bác đi Hóc Môn, Bình Chánh, Thủ Đức… đứng làm chủ hôn, chủ tế… cho gia đình”.

Nhận lời ngay. Lắm lần lúc trở về nắng khát ông tấp vào quán Sáu Linh quen thuộc gần nhà ăn uống, nghỉ xã hơi. Giờ xế trưa vắng khách, đám gái trai phục vụ quán quen mặt, quen lòng. Chúng lấy bộ khăn đóng áo dài bông hoa màu sắc quá đẹp mắt, đứa trai điệu nghệ thì mặt vào, đứa gái thì đứng bên cạnh ôm nhau làm cô dâu chú rể như đám cưới thiệt. Ông và khách khứa nhìn vào cười khoái chí vui vẻ cả làng.

Đã có lần chúng tôi đi chúc tết đường xa về tới nhà mệt lả. Đặt bộ lễ phục phía ngoài, lo mở khoá cửa vào nằm nghỉ, bỏ quên luôn. Thấy vậy nhà lối xóm đem về nhà cất giùm, chiều tối kêu tôi qua lấy về. Tôi thấy họ đặt trên bàn thờ nhà họ rất trọng quý.

Ai đó đã từng ví von về bộ lễ phục của nhà văn Sơn Nam  một cách vẹn toàn ý nghĩ “Long bào của dân gian”.

CHÚ THÍCH ẢNH 01: Gia đình nhà văn Sơn Nam ở Mỹ Tho – Tiền Giang. Bà Đào Thị Phán vợ Sơn Nam (đứng giữa) cùng ba người con gái và con rể với hai cháu của nhà văn.

CHÚ THÍCH ẢNH 02: Con gái út của nhà văn Sơn Nam, Đào Thúy Liễu, từ Mỹ Tho lên TP. HCM ngồi bên những bộ khăn đóng áo dài, kỷ vật của cha.

SƠN NAM ngoại sử 07

SƠN NAM VỚI XE ÔM,  XE ÔM VỚI SƠN NAM

Năm 1995 lúc lên ở cùng Phường 7 của chúng tôi tại Quận Gò Vấp TP. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2005 bị tai nạn giao thông về lại nhà ở Quận Bình Thạnh nằm một chỗ, ngày 13.08.2008 khi anh lìa đời, chúng tôi đến nhà tang lễ TP. HCM cúng bái và tiễn đưa linh cửu đến nơi an nghỉ cuối cùng tại công viên nghĩa trang tỉnh Bình Dương. Mọi người không còn được gặp Sơn Nam bằng xương bằng thịt nữa.

Những năm sống ở Gò Vấp cũng là lúc cây cổ thụ Sơn Nam nở rộ nhiều tác phẩm và mọi hoạt động văn hóa nổi tiếng, ấn tượng sâu đậm nhất trong mọi tầng lớp quần chúng và bạn đọc gần xa.

Ngày đi đêm viết, nhưng ông già Nam Bộ không chỉ dùng đôi chân vì thành phố thì rộng lớn mà giao thông thì ngày càng ùn tắc. Chính vì thế mà “xe ôm” là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp văn học của Sơn Nam.

Đôi khi trông Sơn Nam giống một người hành khất.

Đến cái “kết” đội trên đầu cũng lúc có lúc không. Thực ra ông không thiếu. Nào các Công ty du lịch Sài Gòn Tourist, nào hãng phim giải phóng, nhà xuất bản Trẻ, nhà sách Fahasa… biếu tặng ông dài dài… hế mà ông nói:

– Đội xong tao ghé nhiều chỗ quá bỏ đâu mất!

Còn có lẽ giữa phố phường hoa lệ hiện đại này, chẳng một ai có cái túi vải “nhau mèo ngàn năm văn vật” như của Sơn Nam. Rất oải, nó chẳng giống ai, dẫu có ném giữa chợ cũng chẳng ai thèm để mắt tới.

Thập niên qua cái túi vải ấy kè kè sau lưng và những bó hoa tươi thắm của bạn đọc ái mộ tặng nhà văn, ông ngồi cầm trên tay đàng sau xe chúng tôi, ngoài tầm ngắm của bọn cướp giật.

Mấy ai biết trong cái túi dị họm ấy chính là những xấp bản thảo dày cộm sách đã viết xong. Là những biên soạn khảo cứu, dày công của ông về mọi lãnh vực văn học nghệ thuật…  Tác giả đem đến cho các nhà xuất bản. Sau đó văn chương khuôn vàng thước ngọc sẽ được in ấn, phát hành, đặt để bệ vệ trên tủ kính các nhà sách, các thư viện.

Tác giả còn đến các hội trường lớn, các trung tâm văn hóa, các trường đại học, các hội nghị… bước lên bục khán đường tọa đàm, tham luận, thuyết trình. Trước đông quan chức, trước các bậc khoa cử và đủ thành phần trí thức sinh viên các trường đại học cao đẳng. Có đài truyền hình thành phố đến tham dự quay phim phát sóng.

*

Ông là  khách mời thường xuyên tại các lễ hội, là giám khảo chấm các cuộc thi văn hóa dân tộc cổ truyền. như múa lân, kéo co, hô bài chòi, đấu cờ tướng…

Khi trân trọng đem giấy mời đến trao tận tay, các tổ chức đều hẹn giờ có xe hơi đón đưa bác. Nhưng bác từ chối:

– Thôi được rồi để tôi tự lo.

Sau đó rử tôi cùng đi.

Chở anh đến nơi, từ cổng ngoài các bảo vệ và công an đang làm nhiệm vụ, liếc thấy nhà văn Sơn Nam, liền phất tay ra hiệu cho chúng tôi chạy tuốt vào bên trong. Khi đến chỗ các quan chức và ban giám đốc, liền có các cô tiếp tân xinh đẹp trong tà áo dài tha thướt tiến lại đỡ bác xuống xe, bước chậm rãi đi sát hai bên bác. Tất cả quan chức bước ra tay bắt mặt mừng.

Lúc xong việc bác ra về, chúng tôi thường bị “giựt mối”. Các vị bấy nay mà chúng tôi thấy đã từng làm việc nhiều lần với Sơn Nam ấy là ông Dương Trung Quốc nhà sử học, ông Nguyễn Hạnh phó Tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay chạy lại bốc bác lên ôtô đi mất. Họ chở Sơn Nam đi chiêu đãi hiệp hai và còn bàn thảo nhiều sự kiện văn hóa, đang rất cần sự đóng góp nhiệt tình của nhà văn lão thành này.

*

Nhưng cuối cùng ông cũng trở về xóm lao động.

Nơi nhà trọ, nhà văn thường được chủ nhà sắp xếp trên thượng đỉnh lắt lẻo hai ba bậc thang. Trong cái chuồng cu khách sạn nhiều sao này ôi thôi thảm thiết. Sàn gác, cầu gỗ leo lên leo xuống, đi qua bước lại, đung đưa tiếng kêu cót két, chưa kể cái nóng bức của nó và các tiện nghi khác đều vắng mặt.

Nhưng giá thuê thì hạp túi tiền đời văn đời báo, lại quanh tháng ngày “nhất hô bá ứng”. Linh tinh từ nhỏ đến lớn, cần mua ly cà phê gói thuốc lá, tờ báo cây bút bi, xấp giấy trắng… Hoặc lúc trái trời trở gió, ngọc thể bất an, ho hen cảm cúm… báo hiệu một tiếng là có đủ bà con lối xóm  đáp ứng vô tư. Lý tưởng thay với kẻ xa lìa mái ấm gia đình.

*

Đã lắm lần, từ cảnh nhà trọ này, Sơn Nam đi xe ôm đến cụm khách sạn cao cấp đường Hoàng Việt, quận Tân Bình TP. HCM.

Ông đến đó theo lời mời của ban Giám đốc để thuyết trình về đề tài “văn hóa ẩm thực dân gian và cung đình” cho các nhà nghiên cứu văn hóa nước ngoài được tổ chức tại đệ nhất khách sạn năm sao FIRST HOTEL.

Chiếc xe ôm nghèo nàn ngừng sát tiền sảnh liền có mấy ông Tây tiến đến bắt tay bác Sơn Nam, hai bên nói chuyện với nhau, bác Sơn Nam nói tiếng Pháp như gió. Tất cả họ nở nụ cười thiện cảm chỉ tay về phía chúng tôi.

Rõ ràng là Sơn Nam giống hệt cô Lọ Lem, từ khu ổ chuột, trong nháy mắt đã đến cung điện để khiêu vũ với hoàng tử.

  Nhưng đối với Sơn Nam điều đó thật vô nghĩa.

Lúc Sơn Nam ra về, mấy ông Tây cao đẹp tiến ra tận xe ôm. Họ bắt tay những người lao động nghèo và tặng chai rượu ngoại Whisky đắt giá, kèm bao thơ tiền đô.

Trở về lại lối xóm, những người chạy xe ôm khoe khoang rối rít.

DÂN LÀM BÁO

Hằng năm, khi Tết đến xuân về hoặc vào các ngày lễ lớn như 30.4, ngày 2.9, ngày Nhà báo Việt Nam 21.6. Hoặc sinh nhật của các tờ báo lớn như báo Công an TP. HCM, báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp Luật, Tạp chí Kiến thức Ngày nay, tạp chí Xưa và nay…  họ đều tổ chức cuộc gặp mặt và liên hoan mọi thế hệ tầng lớp cựu và tân trong các thời kỳ qua, đã đồng cam cộng khổ, đóng góp xây dựng tờ báo.

Những dịp sâu đậm nghĩa tình, không thể vắng bóng các bậc nhà văn nhà báo lão thành kỳ cựu. Dân xe ôm chở bác Sơn Nam đến dự, được anh em báo chí ưu ái xem như anh em một nhà.

Được ngồi dự chung cuộc thân mật trong mâm tiệc, anh em xe ôm vừa rụt rè vừa vui sướng. Vì mặt mũi mình sạm nắng, dáng dấp phong sương bụi đời. Nhưng từ tổng biên tập, chủ báo, đến hết thảy nam nữ phóng viên, biên tập, nhà văn nhà thơ, nhiếp ảnh viên, họa sĩ trình bày… Đến kẻ xếp báo, phát hành, người giữ xe tòa soạn… Lại còn có thêm các báo con, báo cháu dan díu bên phụ huynh mái tóc đã bạc phơ, là các cây bút nặng ký, nay đã nghỉ hưu…

Tuy lạ mà quen, tuy quen mà lạ, dẫu đang thấy mặt, chung bàn cụng ly cùng họ nhưng sau đó mọi ngưới lại trở về với công việc của mình, với cảnh đời của mình…

*

Dân cầm bút, lúc sáng tác, họ như một thiền sư, thiền định. Cân nhắc thận trọng từng câu từng chữ, dấu chấm phảy… Nhưng giờ phút liên hoan, ăn uống, rượu bia họ chẳng khác nào giới bình dân lao động, họ rất chịu chơi.

ười vui rạng rỡ, tâm tình trò chuyện búa xua từ  mọi chuyện đời. Rồi cả nam lẫn nữ trẻ già đồng loạt đứng lên nối vòng tay lớn, ôm nhau nhảy múa, kết lại thành rồng rắn hàng dài đi vòng vo hội trường. Bất thần bước lên khán đài rượu ca bia hát, ngâm thơ… réo rắc mùi mẫn, điệu nghệ, hạnh phúc miên man vô tận.

Thực ra dân “nhà báo” cũng có lắm kẻ nào có hơn gì chúng tôi và Sơn Nam về cảnh đời đang sống cũng chỉ có cái xe cà tàng, cùng cơm đường cháo chợ, nhà trọ, lắm lãng tử còn ngủ đình.

Lúc lưu luyến chia tay thầy trò chúng tôi ra về. Các nam nữ phóng viên trẻ đẹp cho xe ôm số điện thoại của họ, dặn dò hễ đi mọi nẽo ngoài đường thấy gặp chuyện gì hay lạ gọi cho họ ngay. Họ còn ôm bác Sơn Nam hôn thắm thiết chúc bất tử hẹn tái ngộ…

Hiện giờ các con em dân lao động nghèo hồi đó không đủ sức cho đi học tiếp, Sơn Nam xin cho vào làm ở nhà xuất bản Trẻ… Các báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng… các nhà sách FAHASA… các việc đơn giản như phát hành, bảo vệ, thủ kho, xếp báo, đứng bán sách…

Vong linh người quá cố còn đọng lại mãi ân huệ nơi mái ấm các gia đình nghèo.

BÂNG KHUÂNG DÂN HẺM NHỚ NGƯỜI

Thoát trần một góc thiên nhiên

Cái thân ngoại vật là tiên trên đời

NGUYỄN GIA THIỀU 

Biền biệt vắng bóng Sơn Nam mới đây mà đã sắp đến ngày cúng tuần giáp năm (13.08.2009).

Sinh thời lên Quận Gò Vấp thuê nhà ở trọ. Nhà sáng tác “thoát trần” nhưng nào có được toại tâm, toại nguyện.

Lúc thì “động ổ”, khi thì gặp phải chủ nhà kỳ cục, chịu không nổi thân đành cuốn chiếu đi nơi khác. Dở dang tiền đặt cọc, “lỡ nhịp cung đàn” trên trang viết.

Ông lại đến những nơi dành cho thợ hồ, thợ mộc, thợ gò hàn, sửa xe gắn máy… Đến các cô gái hành nghề massage, bán bia, cà phê, vé số… đã ở lâu, hoặc mới dọn đến dọn đi để tìm nơi nương náu.

Loại nhà này khá phổ biến ở ngoại thành. Nó được cất  lên bằng vật liệu thô sơ, mái tôle vách ván, buồng ngăn bằng tấm bạc ni lông sơ sịa. Nó ngột ngạt rất nhiều phòng liền một dãy, hoặc lom com dồn sát bên nhau chung một cụm, chung một đường về lối đi vừa lách đủ tấm thân, ẩn khuất trong xó kẹt. Ngoài mặt tiền chỉ dành cho kẻ thuê làm mọi dịch vụ và buôn bán.

Tuy khác nhau về giá thuê rộng hẹp, trên gác dưới trệt. Nhưng mọi kẻ đến gửi thân “chung một lứa”. Đại khái đều giống nhau, đến cữ phải đóng đủ tiền nhà, tiền điện, tiền nước… Nhất nhất phải tuân thủ lệnh chủ nhà chủ đất. Khai tạm trú tạm vắng, không lân la vào nhà chủ, không sờ mó đến hoa kiểng, gia súc và còn lụy theo lúc buồn vui thời giá của họ.

Từng gởi thân nhà trọ, mới diễm phúc chiêm nghiệm lắm điều. Tất cả mọi thành phần, nghề nghiệp, bằng cấp trí thức dân dã đều bình đẳng. Nơm nớp mối lo chung, đúng hẹn sòng phẳng mọi khoản tiền lớn nhỏ mới yên thân. Từ đó mọi gái trai trẻ già ở bên nhau càng thân thiện tối lửa tắt đèn có nhau mọi hoàn cảnh.

*

Ông thầy soạn giáo án, sinh viên dùi mài kinh sử trong cảnh chan chát sắt búa đập vào tôle thiếc. Tiếng ì xèo xì xẹt khói lửa nồng nặc của thợ gò hàn. Ông nhà văn lặng lòng thót tim sáng tác trong tiếng rồ ga nổ máy khắc nghiệt đâm thủng vào đầu bởi thợ sửa các loại xe máy. Chưa hết, còn có tiếng chửi trần tục, tiếng cười sàm sỡ, tiếng nhạc xập xình sát cửa, sát vách bất luận giờ giấc nào… Chốn địa ngục trần gian nhà trọ còn là một cái lò trui rèn sắt thép. Quỵ xuống, hay là vươn lên chính là cái tư đức của chí nhân.

Nhà văn Sơn Nam đã có trên mười năm sống và làm việc trong cái lò đó. Những bài viết, tác phẩm sách báo của ông đều “mẹ tròn con vuông” ra đời.

Lúc đang ở nhà trọ, ông là nhà văn đầu tiên ở nước ta được nhà xuất bản Trẻ mua đứt bản quyền gồm 50 đầu sách của ông viết ra từ năm 1947 đến cuối đời.

Ngày 10.04.2003, sáng ra mới 6 giờ hơn bên tách cà phê nóng, vấn vương làn khói thuốc dở dang. Bà con cùng xóm ở Phường 7 Gò Vấp nay sao thấy ông già Sơn Nam bồn chồn. Mặt mày rạng rỡ, áo quần bảnh bao, giày hia bóng lộn. Trên tay còn có cầm sẳn một cái áo vét-tông mới cáu.

Thực ra dân ở đây suốt mười năm, lần đầu tiên mới được thấy như vậy.

Tôi đến đúng hẹn, ông mừng rỡ hí hửng ngồi lên yên gọn ơ. Từ nhà trọ xe chạy thẳng một lèo xuống trụ sở hội nhà báo TP.HCM. Bấy giờ ở đấy đang có đông cánh nhà báo và đài truyền hình. Trước bậc tam cấp  lên hội trường tôi thấy đã có các ông Lê Hoàng giám đốc, nhà thơ Phạm Sĩ Sáu biên tập viên và các cán bộ nhà xuất bản Trẻ, tất cả họ trịnh trọng chờ nhà văn Sơn Nam đến.

Qua ngày 11.04.2003 hôm sau, đồng loạt các nhật báo, đài truyền hình đưa tin, phát sóng. Công bố sự kiện nhà văn Sơn Nam chuyển nhượng toàn bộ bản quyền xuất bản các tác phẩm của ông cho nhà xuất bản Trẻ trọn đời.

Hình ảnh Sơn Nam bệ vệ trong bộ côm-lê đậm màu trong lễ ký hợp đồng, in rõ trên trang các báo và xuất hiện trên tivi mọi nhà. Dân  trong  xóm mừng vui khôn xiết. Cha! ông già sắp có tiền lớn!

Trước thành quả, suốt đời người đóng góp sự nghiệp văn học. Bức tranh tuyệt tác siêu phàm đạt đến đỉnh cao của cái chân thiện mỹ. Ngoài đời ngưỡng mộ, trân trọng bao nhiêu, dân trong xóm bấy nay sống sâu sát bên cạnh tác giả còn hơn gấp bội phần. Vì nó càng khiến họ sống lại với giọt mồ hôi, nước mắt chén cơm manh áo cơ cực chan hòa. Năm dài tháng tận ông đã lên ở với họ, mà họ đã từng được chứng kiến.

Mắt họ đã khắc sâu, bộ xương cách trí của một ông già cô đơn tuổi đã xế bóng. Thường chỉ có mặc cái quần đùi, còm cõi từ thắt lưng lên đôi vai gầy, lên cổ. Dọc dài theo sống lưng không thấy thịt, chỉ thấy da bọc những ụ xương.

Đêm ngày chốn trần ai nóng bức cặm cụi chỗ bàn viết, đôi lúc đứng lên đi đi lại lại quanh đường hẻm khắc nghiệt, hoặc ra chỗ đất trống gốc cây ổi, có bầy trẻ thơ con dân lao động mua xôi chè, bánh mì, đậu hũ miệng móm mém cùng ăn cùng đùa chơi với chúng. Rồi quay vào tiếp tục với ngòi bút.

Cái cỗ xe Sơn Nam ít hao nhiên liệu mà cứ đều đặn nổ máy giòn giã chạy hoài.

Nay ông đã vĩnh biệt cõi đời, nhưng nào đã hết. Mọi người đều còn có thấy trên các mặt báo, trên đài truyền hình vẫn viết nhiều về sự nghiệp đời ông và chiếu đi chiếu lại mọi hình ảnh hoạt động văn hóa của ông thời qua.

Những show truyền hình ấy tuy thoáng qua nhưng chính là những nhắc nhở bùi ngùi.

 ĐÀO TĂNG

CHÚ THÍCH ẢNH 01: Sơn Nam ở nhà trọ

CHÚ THÍCH ẢNH02: Sơn Nam nô đùa với các cháu trong hẻm

Lại chuyện cúm gia cầm

Năm 2005, một đợt cúm gia cầm A/H5N1 làm rung chuyển cả thế giới, trong đó có Việt Nam. Năm ngoái, 2009, lại một đợt cúm gia súc A/H1N1(1) làm tiêu tốn bao nhiêu tiền của, giấy mực của cả thế giới. Tất cả đều là chuyện la làng nhưng chưa ai hiểu biết gì về cúm.
Một câu hỏi đặt ra mà ít ai quan tâm là: Liệu con cúm gây bệnh cho gia súc A/H1N1 và gia cầm A/H5N1 có thể lây từ vật nuôi sang người hay không? Tại sao?
Đứng về mặt sinh học phân tử thì tế bào con người khác với tế bào của động vật khác loài như gia cầm và gia súc. Sự khác nhau về mặt bản chất là các kháng nguyên bề mặt và chất liệu di truyền của tế bào người và tế bào động vật khác loài không thể giống nhau. Cho đến giờ này người ta chỉ thấy hai loài khác nhau là lừa và ngựa lai giống thì sinh ra con la. Nhưng con la đó lại không thể sinh sản. Ngoài ra, chưa thấy thế giới sinh học lại tìm ra được một sự giao phối nào giữa 2 loài khác nhau mà có thể sinh ra con.
Điều đó là chứng tỏ rằng: mỗi loài có một chất liệu di truyền sinh học khác nhau thì sẽ có những dòng virus gây bệnh khác nhau. Dù virus đó cùng chủng loài như virus cúm A, thì con virus gây bệnh cho gà thì không thể gây bệnh cho người được. Hoặc con gây bệnh cho heo thì không thể gây bệnh cho người.
Đó là hai mặt của một vấn đề trong miễn dịch học. Và cũng chính điều đó mà mới có chuyện đề kháng của cơ thể đối với vật lạ khi xâm nhập vào cơ thể. Nó là mặt lợi để con người có sức đề kháng với mầm bệnh. Nhưng ngược lại, nó lại là yếu tố quan trọng gây nên loại ghép khi một bệnh nhân được ghép một cơ quan của một người khác hiến tặng. Chỉ có bệnh nhân bị nhiễm HIV đến giai đoạn AIDS(Acquired Immune Deficiency Syndrome) thì mới không có thể loại cơ quan được ghép mà thôi. Người bình thường, khi ghép 1 cơ quan của người khác vào thay thế cơ quan bị bệnh phải bỏ đi thì chuyện loại ghép còn là điều y học phải giải quyết.
Và cho đến giờ này ngay cả CDC(2) cũng chỉ dám dùng từ là có “sự dính líu”(implication) giữa con H5N1 gây cúm cho gà với gây cúm cho người. Chưa có một tài liệu nào trên thế giới có bằng chứng rằng con cúm gây bệnh cho gia súc và gia cầm thì làm lây bệnh từ gia súc và gia cầm sang con người cả.
Tối hôm nay, ngồi điểm tin để viết một entry cuối năm trước khi về quê ăn tết thì thấy cái tin trên trang RFI: Việt Nam tiêu hủy hàng ngàn gia cầm để phòng dịch cúm gà tái phát(3). Nên vội viết entry này, để mong rằng các nhà quản lý y tế Việt Nam đừng nên vì thiếu hiểu biết rồi làm nên một lần tan gia bại sản người nông dân tội nghiệp nữa. Năm 2005 cũng vì cái dốt mà đã làm khổ không biết bao doanh nghiệp và nông dân rồi. 
Tôi thử tìm hiểu trên các thông báo hướng dẫn(4) của các ban ngành có trách nhiệm về cúm gia cầm thì chỉ vài dòng mơ hồ, đơn sơ mà không có sự tỏ tường cho người dân. Phòng cúm gà là phòng cúm không lây lan từ khu nuôi gà này sang khu nuôi gà khác. Chứ phòng cúm gà không có nghĩa là sợ cúm gà lây từ gà sang người.  

Người ta bảo rằng dốt thì học còn có thể hiểu biết. Nhưng, ngu thì học có hết kiếp người cũng không thể hiểu biết được.

BS.HỒ HẢI

Nguồn: bshohai.blogspot.com
Tư gia, 21h46′ ngày 10/02/2010
Được đăng bởi BS Hồ Hải vào lúc 06:55 13 nhận xét

Trở về

Một buổi sáng buồn, trời âm u, mây và sương mù giăng đầy trời. Một chuyến trở về lạ lùng vì nó như đứa con lang bạt về lại làng xưa sau gần một nghìn năm xa cách. Cảm giác xa cách lạ lùng như vậy đó. Cho nên trên núi cao, dưới vực sâu đều có hình bóng của quê nhà, của mẹ tôi, của cha tôi, của các anh chị tôi. Cả một thời kháng chiến chống Pháp nghèo đói, bần cùng, cơm không có mà ăn, ăn khoai mì luộc, mì khô xắc lát, khi nấu lên có màu đen, dẻo như bột nếp, vị đăng đắng. Mười sáu tuổi anh tôi bị Pháp bắt. Nhờ biết được chút ít tiếng Tây nên nó không giết, cho làm tạp vụ trong đồn lính ở An Khê. Cha mẹ tôi cứ tưởng anh đã chết nên lập bàn thờ. Hai năm sau đồn giặc rút đi, thả anh về. Lúc ấy tôi mới ba bốn tuổi gì đó. Năm bảy tuổi làng tôi bị giặc Pháp oanh tạc dữ dội. Những chiếc khu trục cơ gầm ú, ném bom napalm xuống làng. Tôi chạy xuống hầm không kịp, nằm ôm gốc đu đủ mà khóc. Căn nhà tôi bốc cháy, chuồng heo bốc cháy, con heo nái và đàn con thành than. Mẹ tôi khóc, các chị tôi khóc.

Các chị tôi là những cô gái quê nghèo đói, hàng ngày phải đi bộ lên rẫy nhổ mì vặt sạch, gánh oằn vai về chợ bán kiếm ít tiền mua gạo, mắm. Quần áo không có mà mặc, mẹ tôi phải lấy cái mùng rách cắt ra, khâu bằng tay thành chiếc áo bà ba. Có khi từ Tây Sơn lên tận An Khê mua kẹo bánh về làng bán. Thấy kẹo thèm quá mà không dám ăn, lén gỡ miếng giấy bao, mút một cái rồi gói lại.

Xe chạy nhanh xuồng đèo Măng Giang, sương trắng mù mịt. Tôi nhìn đất trời, mây núi, thấy đời mình đã trôi đi quá xa. Sáu mươi lăm năm, cứ trôi giạt, cứ “bôn lưu đáo hải bất phục hồi”. Con nước của đời tôi đã vượt qua sáu mươi lăm năm kiếp người, qua bao nhiêu thác ghềnh, bao niêu đèo giốc, bao nhiêu phố chợ, bây giờ đã sắp ra tới biển. Và chắc chắn khi ra tới biển rồi là “bất phục hồi” như nước sông Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai. Ra tới biển là hòa nhập, là biến mất khỏi thế gian, nếu có bốc hơi thành mây và trở lại rừng để tiếp tục chu kỳ tục lụy thì cũng là một ai khác, một dòng nước khác không phải là mình.

Cái dòng chảy ấy cứ đi theo tôi, còn tôi thì ngồi lại trên một chiếc xe 16 chỗ chạy tranh khách, chạy như bay biến xuống đèo. Nhưng mây núi thì không vội vàng. Vẫn tĩnh lặng, từ tốn, thư thả, trầm mặc. Mây núi đang nhìn tôi, đang đợi tôi, đang đón tôi trở về sau rất nhiều năm. Mây núi bất động, bao dung và lắng đọng. Sự dịu dàng ấy làm tôi mủi lòng. Tôi thấy như mẹ tôi đang nhìn, cha tôi đang nhìn và hỏi: con đã về đó sao? Thưa, con đã về, hai bàn tay trắng, không tiền bạc, không công danh, không sự nghiệp. Con đã vứt bỏ tất cả trong dòng chảy của thời gian, sạch sẽ, nhẹ tênh.

Lúc ra đi, con cũng hai bàn tay trắng và khi trở về con cũng vậy, chỉ khác một điều là lúc ra đi con còn cha mẹ và bây giờ thì một mình. Tât cả điều thay đổi. Tất cả điều xa lạ. Người hành khách ngồi kề bên cũng xa lạ.

-Chú em là con ai?

Anh ta kể lai lịch mình là con ông này cháu ông kia… tôi không còn nhớ. Tôi trở về trong một thế giới xa lạ, trong một ngôi làng xa lạ. Xa lạ giữa nơi chôn nhau cắt rún của mình.

Chỉ có mây núi. Chỉ có đèo Măng Giang, đèo An Khê là không xa lạ. Là vẫn như bốn mươi năm trước, là vẫn in hình bóng cha tôi, mẹ tôi, và các chị tôi oằn vai gánh khoai mì từ trên triền giốc đi xuống, là hình ảnh anh trai tôi bị lính Pháp dẫn ra đèo Eo Gió xử bắn nhưng lại được một thằng lính da đen tha cho chạy về làng.

Cái còn lại vẫn là trời và đất. Là mây và núi. Là những ngọn đèo quanh co, là giải sương mù dày đặc. Là dòng sông Kôn êm đềm.

(con tiep)

CHÚ THÍCH ẢNH: Ba người đồng hương: Võ Phiến, Đào Hiếu, Nguyễn Mộng Giác năm 2004.

ĐÀO HIẾU

SƠN NAM ngoại sử 06

 

 

 

 

 

 

 

ĐỊA ĐIỂM LÝ TƯỞNG

Quanh năm, hàng tháng nhất là vào dịp có các lễ hội truyền thống dân gian như mồng 5 tháng 5, rằm tháng Bảy, tết Trung Thu… đến các Đại lễ trong nước như 30.4 – 2.9, ngày Nhà gíao 20.11, ngày Phụ nữ Việt Nam 8.3 khách qua đường bổng dưng xôn xao đứng đông trước quán, cạnh các ôtô đặc chủng có hàng chữ Đài truyền hình TP. HCM – Hoặc báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên… Bên trong quán thực khách cùng các nhân viên cũng náo nức theo tiếng bát nháo của lũ trẻ hò reo lộn xộn.

– Người ta đến chụp hình quay phim ông ngoại kìa tụi bây ơi!

Các lúc bấy giờ, trên các bàn ăn uống đã được kéo sát chặp đôi lại. Nào mũ nón, cặp da, máy tính, máy ảnh, máy ghi âm, giấy bút… cạnh vài bao thuốc lá, hộp quẹt và một số chai bia, dĩa thức ăn được dọn ra.

Khi đã dàn dựng máy quay phim, ánh sáng đèn xong, nhà văn Sơn Nam bình thản ngồi ghế đầu bàn. Bao quanh ông thầy là phóng viên, biên tập, chuyên viên kỹ thuật… bắt đầu tác nghiệp… kẻ đối diện cầm micờrô chất vấn, phỏng vấn… về các lãnh vực có liên quan đến các nội dung đề tài văn hóa xã hội, phong tục tập quán truyền thống dân gian… chứng cứ di tích lịch sử… đất nước.

Ông trả lời vanh vách như pháo hoa. Các nữ phóng viên rất nghiêm túc và đứng sát bên ông, đôi lúc cũng bị tai nạn nghề nghiệp hắc xì và cay mắt. Vì khói thuốc lá nồng nặc của ông thầy tựa áng mây xám xịt tấp vào mặt họ.

Khách đông trong quán rất quan tâm theo dõi và thú vị thấy dân báo đài cô cậu na ná giống nhau. Tác phong làm việc tươi vui nhanh nhẹn. Cùng đều mặc áo cánh dơi màu vú sữa và đeo bảng tên. Mặt mũi họ đều khôi ngô tuấn tú. Tóc tai bù xù giống nhau như bó rau. Phần đông mang kính trắng, lỉnh kỉnh dụng cụ chuyên ngành.

Chuyện này đối với Sơn Nam như cơm bữa. Sau khi cùng nhau ăn uống giải lao xong họ ra về, bấy giờ có một em bé gái nhanh nhẩu chạy theo phía sau họ nói:

– Mấy người đừng chiếu cảnh ông ngoại hút thuốc làm sặc sụa hồi nãy nghen.

Đôi ba bữa sau chúng tôi về lại quán ngồi chưa nóng ghế. Đám rửa chén, nấu bếp chạy ra khoe:

– Thấy bác Sơn Nam chiếu trên bốn cái truyền hình treo trong bốn góc quán.

Tôi liền hỏi:

– Mấy cháu nghe ông nói cái gì?

– Thấy dzậy thôi chớ có biết ông nói chuyện gì.

Hỏi đến tờ báo Công an Thành phố hồi sáng có đăng hình đăng bài bác Sơn Nam có mua đọc không.

– Dạ có

– Chạy vô lấy ra xem.

Một chặp ra nó nói:

– Tụi nó đọc mấy cái chuyện cướp giật tiệm vàng, đánh ghen, đánh lộn… rồi vụt đâu mất tiêu rồi!

*

Sau những lần làm việc với báo đài như thế Sơn Nam có bao thơ sộp, nhưng sau đó chia sớt nóng cho “Hương Rừng Cà Mau” tại quán. Đến lúc tôi chở ông về lại nhà. Thấy Bưu Điện ném vào qua cửa sổ lắm sách báo nhiều nơi kính biếu. Trong xấp ấn phẫm bừa bãi nằm trên sàn nhà còn có các tờ giấy báo tiền điện, tiền điện thoại, tiền nước… Cái bao thơ đã rỗng rồi, nào có đóng góp gì được.

Đêm đó tôi nằm ngủ không yên giấc.

 

THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HÒA

Đời nghệ sĩ đêm ngày trăn trở khắc khoải vì tác phẩm. Kẻ cô đơn đặc thù càng khát khao cái chân thiện mỹ. Đồng sàng với dân lao động nghèo, bình dị “ruột lộn da”. Vấn vương với nhan sắc, dịu dàng mộc mạc, ánh mắt hữu tình, có trái tim đồng cảm rộng mở của phái đẹp.

Rượu bia có tội với kẻ vô tâm, hoang tưởng, nhưng lại có công với người có lý trí đang bị ruồng rẫy lạc loài… Rượu bia chứa chan niềm vui lẽ sống an ủi họ khi buồn.

Biết phận mình, tại quán Sáu Linh, chúng tôi chỉ khiêm tốn ngồi vào một góc bàn lẻ, sát cửa sổ bên hông quán. Ăn uống chẳng là bao, mà tản mạn tỉ tê mọi chuyện, vu vơ nhìn ra mênh mông thế giới xã hội bên ngoài thì nhiều.

Chúng tôi cũng có được… những giây phút bất chợt. Bỗng bên tai nghe rõ tiếng xích lô thắng gấp cái két. Chà! khuôn mặt quá  thân quen chồm sát vào cửa sổ la lớn tiếng:

– Bác Sơn Nam, bác Sơn Nam… con gái cháu vừa đậu vào đại học rồi. Dứt lời chạy xáp vô kéo ghế cái rột ngồi sát bên chúng tôi khí thế, kêu bia rượu thức ăn và tía lia cái miệng “nay để cháu lo”

Hoạt cảnh tương tự xảy ra hoài hoài. Lúc thì tay xe ôm khoe đội tuyển bóng đá Việt Nam vừa thắng Singapore. Khi thì cậu sinh viên khoe, hồi khuya có nghe đài voa giới thiệu về tập sách “Ngôi nhà mặt tiền” của Sơn Nam.

Và chuyện đời cũng lắm nghẹn ngào. Khi anh Sơn Nam nằm ở bệnh viện, lúc hấp hối biết thế nào rồi cũng sẽ chết. Cô gái út của Sơn Nam là Đào Thúy Liễu ở Mỹ Tho có đến hỏi tôi:

– Giờ phút này cha là cha chung. Hồi nào tới giờ gần gũi ba của cháu, chú còn biết ai là con của ba cháu nữa không, để gia đình nhìn nhận kêu về để tang.

Tôi biết sao nói vậy.

Nhiều năm qua, lúc ngồi ở các quán tiệm và thường đi đó đây. Tôi cũng đã có đôi lần gặp thấy một hai người lạ, tuổi trung niên, lúc thì nam, lúc nữ có đôi nét hao hao giống Sơn Nam. Đến đứng sau lưng, nói chuyện thì thầm rất âu yếm chỉ hai người vừa đủ nghe, xong một chặp lặng lẽ họ ra đi. Tôi có hỏi, Sơn Nam nói:

– Con tôi.

Ngoài ra tôi chẳng biết gì hơn.

Thế nhưng “con xã hội” thì tôi quá rành. Lắm lúc về quán vừa ngồi vào bàn. Liền có mấy người đẹp xách ra cái bịch. Miệng nói tay mở:

– Tụi cháu về Đồng Tháp mùa này cá gô sặc bắt đầy gổ đầy thùng, ginh nặng muốn chết luôn. Phơi khô, làm mắm và muối sẵn đem lên cho hai bác ăn với xoài xanh, cơm nóng ngon lắm.

Gái đẹp Bến tre – Vĩnh Long – Sa Đéc về thăm nhà lên  cùng đem cho các món đặc sản. Nào bánh phồng tôm, đường thốt nốt, cam, quít, xoài, vú sữa… và ra nhà chơi với chúng tôi suốt ngày. Thấy nhà cửa chật hẹp, ngổn ngang, bừa bãi sách báo, các cô xúm nhau dọn dẹp tươm tất, lau chùi sạch sẽ, giặt giũ quần áo…tình quí mến Sơn còn hơn ruột thịt.

Lúc cao hứng, các cô gái bảo nhau:

ông ngoại Sơn Nam đi hát cagaôkê cho ổng vui.

– Mày đọc chữ không ga, còn ổng găng thì gụng hết mà hò geo hát xướng gì.

*

Bên ly rượu nồng tại quán cố tri. Sơn Nam còn có đủ nguồn khách thập phương, bà con bạn hữu xa cách đã lâu, nghe tin đồn tìm đến thăm tặng quà cáp. Quan chức, đồng nghiệp chức năng, các tỉnh cũng tìm đến liên hệ công tác văn hóa, thực hiện sách báo.

Trong mâm cao cổ đầy họ gọi tôi là thư ký, trợ lý, phụ tá… nhà văn Sơn Nam. Tôi chỉ tay vào sư phụ và các dĩa thức ăn hấp dẫn thơm phức, cạnh những lon bia Heineken óng ả ánh đèn màu.

Rồi vỗ bụng, tôi nói:

– Lý Thông đi bên Thạch Sanh.

*

Đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ, vào năm 2000 lúc sắp đến ngày nhà báo Việt Nam 21.6 cũng tại quán này, theo cái hẹn tôi và Sơn Nam ra gặp các VIP. Họ vừa đáp máy bay từ xa vào TP. HCM rất cần gặp bàn với Sơn Nam về các vấn đề văn hóa lớn.

Lần này vào ngồi phòng có gắn máy điều hòa không khí, em út tiếp viên mượt mà lịch lãm. Hỡi ơi! Sơn Nam vẫn ăn mặc áo quần như phu bốc vác, còn tôi cũng lèng xèng. Tôi gượng mặt ngồi chung bàn cùng họ, quan chức nổi bật trong những bộ quần áo côm-lê bóng bẩy, lũng lẳng cà-vạt đậm đà. Chân mang giày bóng lộn tay họ xách samsonite, máy ảnh, điện thoại di động.

Sau khi xiết chặt tay nhau họ chìa ra danh thiếp. Các thạc sĩ, tiến sĩ còn cho xem một xấp quyết định và giấy phép ép nhựa có mộc đỏ và chữ ký của cấp bộ trở lên. Họ trình bày đang hợp tác với các cơ quan văn hóa nước ngoài, thành lập nhà xuất bản, mở nhà máy in hiện đại, làm báo sách và mọi dịch vụ về văn hóa phẩm đa ngành.

Đàm đạo đãi đằng khá lâu, trước khi ra xe xịn có tài xế đưa đón. Họ còn cho biết thêm đã mua xong một cao ốc  rộng lớn cao bảy tầng lầu ở Quận nhất TP. HCM làm trụ sở và đang hoạt động.

Họ chính thức ngỏ lời mời tôi làm phó giám đốc. Nhà văn Sơn Nam làm Tổng giám đốc kiêm chức cố vấn cao cấp chỉ đạo. Vài hôm nữa lên Gò Vấp trao quyết định. Vấn đề lương bổng, chế độ ôtô, nhà ở y chang như các ông Riedl và Calisto huấn luyện viên  đội tuyển bóng đá Việt Nam.

Về lại nhà, tôi hí hửng khoe cùng lối xóm “nhân tài được trọng dụng” nào sắp đổi đời. Sơn Nam thì nói chuyện mua sắm địa ốc vài chục tỷ bạc là có thực theo giấy phép đã cầm trên tay họ. Còn mọi chuyện khác tôi đang “khua môi múa mép” ông chỉ chữi gọn có mọi người chung quanh đều nghe:

– Anh là đồ uống “Qùng què”!

Khuya nằm lại bên ông ngủ, ông còn phân tích lắm chuyện đời “hư hư thực thực, sắc không không”.

Tôi muốn yên giấc ngàn thu luôn!

CHÚ THÍCH ẢNH: Tại quán nhậu, người hâm mộ xin chữ ký Sơn Nam trên lưng áo.

ĐÀO TĂNG

Ký ức sơ sài 08

Ngay những năm đầu sau 75, đời sống vật chất, tinh thần của lớp người cũ hoàn toàn suy sụp. Những hy vọng và tin tưởng ban đầu mau chóng tan vỡ lặng tờ như bong bóng xà bong. Cuộc phân tranh nam bắc dằng dai ác nghiệt, đẫm máu và nước mắt, nay tới hồi kết thúc mà mình vẫn sống sót, dù bị thiệt thòi tới đâu, ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Hầu như mọi người đều nghĩ đất nước sạch bóng ngoại nhân, dẫu cọng sản hay chế độ nào cai trị, khắt khe tới đâu rồi ra cũng chịu đựng được, bởi lẽ cùng là “đồng bào” cả. Sống sót là phước lớn rồi. Ăn muối cũng…sướng

Nhưng rồi té ngửa hết. Sự đời đâu có đơn giản vậy. Mọi giá trị vật chất, nhất là tinh  thần, đảo lộn dữ dội tới mức trước đó, không ai đủ trí tưởng tượng để có thể hình dung . Nhà giáo chúng tôi cũng đi từ ngạc nhiên này đến chưng hửng khác. Ngôn từ thì lạ lẫm, danh xưng nghề nghiệp, các bậc học, các danh vị, cách thi cử, học sinh đậu rớt… đều khác lạ. Không lạ sao, nội chuyện gọi cấp hai bậc trung học phổ thông là phổ thông cơ sở, tại sao? Anh Trần Phong Giao hỏi tôi dịch sang tiếng Pháp chẳng hạn thì dịch sao, tôi nói không biết. Cách chấm bài thi cũng lạ nữa. Bài nghị luận văn chương của thí sinh càng giống sách giảng văn (do bộ phát hành) chừng nào thì điểm càng cao chừng nấy. Cách chấm bài văn cũng độc đáo. Thang điểm chặt chẽ tới từng chi tiết, thí dụ thân bài có ba ý lớn, ý một gồm ba ý nhỏ, mỗi ý bao nhiêu điểm…  Còn dạy thì tất cả tập trung dạy thế nào để học sinh “nắm” sách giáo khoa thật “nhuần nhuyễn” là dạy giỏi. Đi thi mà lý luận, thậm chí chép đúng sách giảng văn  thì cũng là giỏi văn. Tổ chức thi tốt nghiệp phổ thông vô cùng rình rang, nặng trịch về hình thức. Số ký danh của thí sinh phải đánh số thay đổi vị trí ngồi  từng buổi, giám thị ngồi sai vị trí thì bị phê bình. Hội đồng chấm cũng đầy những quy định nhiêu khê, mệt mỏi. Tất cả những bày đặt rườm rà đó để dẫn tới kết quả gì? Đó là học sinh năm nào cũng đậu gần 100%. Sở dĩ “gần” là tại có em bịnh hoặc bị tai nan, (xe cộ chẳng hạn). Mấy chục năm rồi vẫn thi như thế và đậu như thế. Không lạ sao? Đã biết học sao cũng đỗ, thôi thì “phân quyền” cho trường phổ thông lên danh sách học sinh “đạt yêu cầu” cho đỡ hao tốn tiền của, ham gì tấn tuồng thi cử chiêng trống rình rang chẳng chút lợi ích cho ai! Cũng không thể không ngạc nhiên khi thấy mãi cho đến hết mười năm đầu thế kỷ 21 mà chuyện thi trắc nghiệm, chuyện phân ban ở bậc phổ thông cũng vẫn còn ì ạch trong thử nghiệm và …tập huấn. Nghe đâu đã tốn mười mấy tỷ đồng mà vẫn chưa thực thi được, trong khi miền nam đã phân ban từ trước 1960 và thi tú tài trắc nghiệm trước 1970, chẳng nghe nói tập huấn và thử nghiệm hồi nào.

Thời gian này các giáo viên được lưu dụng cũng quen dần ngày 20 tháng 11, bắt đầu nhận quà của học sinh không ngượng ngùng như những măm mới mẻ sau 75. Thiếu thốn, cơ khổ quá rồi thấy học sinh biết ơn bằng quà cáp, bao thư…cũng tự nhiên. Đâu biết tư cách ông thầy, do đó cũng tự nhiên dần dần mất trắng. Một lần nghe con gái tôi kể cô giáo chủ nhiệm của lớp nó nhắc công khai, các em có cho cô áo dài thì cho vải này…màu nọ… Con nhỏ cũng biết phàn nàn: “cô kỳ thiệt”. Chẳng bù ngày trước, tết đến, thầy nào vào lớp cũng móc bóp cho tiền học sinh mua bánh kẹo ăn tất niên, cho nhiều, ăn phủ phê, dư tiền làm quỹ lớp. Thầy dạy trường tư thì xem sổ sách tìm em nào học giỏi giúp đỡ bằng cách đóng học phí cho em đó, có khi giấu tên, văn phòng chỉ việc báo cho em biết có người giúp em học phí rồi. Một truyền thống tốt đẹp nay đã tuyệt đối bị loại bỏ là hằng năm, cứ sắp hè y như rằng các hãng buôn, thương gia, các tờ báo lớn, thầy cô đều tự nguyện đóng góp tiền bạc, phẩm vật giá trị để gởi đến các trường phát thưởng, chỉ thiếu sót một điều là không có…giấy khen. Học sinh lãnh thưởng có khi phải về bằng cyclo vì quá nhiều từ điển, sách vở. Nói ngay cũng phải thôi.

Lương thầy cô bấy giờ quá khiếp. Sơ sơ giáo học bổ túc dạy tiểu học lương khởi điểm 4800 đồng , trong khi lương cán bộ xây dựng nông thôn và miền núi chỉ 600 đồng (vàng 500 đồng/chỉ). Cũng chẳng hiểu cớ gì chính quyền hồi đó coi trọng ngành giáo quá đáng vậy nữa (trước 1965). Nhưng những năm tháng này hẳn là hào quang cuối cùng của những ngọn pháo bông chót của ngành giáo dục,  bởi lẽ sau đó chỉ liên tục những thoái trào. Cho đến những năm sau 75 thì kết thúc hành trình để xuống tận đáy xã hội. Hoàn toàn có thật, đi đâu ai hỏi hồi này làm gì, nói vẫn còn đi dạy học, tự nhiên thấy ngượng ngùng, thảm hại. Ông thầy bị xã hội miệt thị, giễu cợt thậm tệ. Tới thăm người bạn đồng nghiệp, cụ thân sinh anh nhìn chúng tôi cười ái ngại: “Sĩ đáo cùng thời sĩ giáo nhi”. Người xưa đã phán vậy, chẳng trật đường nào. Ngoài mươi năm lóe sáng bất thường, phải chăng ngành giáo dục đã được trả về với giá trị thật của nó? Thế thì chỉ nên tự trách mình thôi. Nghe đâu bên Mỹ nghề giáo cũng là the last choice của thanh niên mà.

Hồi này mang túi xách đi lạng quạng trên lề đường thường bị người ta hỏi: “Gì đó ông thầy? Có gì bán không?” Đi xe đạp láng cháng trên phố, bị đứa nhỏ qua mặt hất hàm hỏi: “Đi gì kỳ vậy ông…thầy?” Thầy tuốt hết. Nghèo hèn, tả tơi là thầy. Quờ quạng, vụng về…cũng thầy. Mà đâu có sai. Nhà tôi có gì coi được liền bị các bạn đồng nghiệp người bắc hỏi mua, tất nhiên nếu mình không bán thì thôi, khổ nỗi, mình cũng muốn bán. Bán rồi oán giận vu vơ. Lúc đầu là xe Suzuki, sau là tủ buffet, quạt để bàn rồi “tất yếu” đến quạt trần, cuối cùng là…nấu khoai mì chở xuống trường nhờ mấy cô căn tin bán giùm lớp đêm bổ túc văn hóa. Có lần tôi về Hội an thăm nhà nghe cô em của người bạn là giáo viên tiểu học kể rằng trong giờ dạy, lợi dụng lúc học sinh làm bài, cô “tranh thủ”…lặt rau muống, bà hiệu trưởng nhìn thấy nhưng vẫn làm ngơ vì một lát bà được lấy phần rau già cho heo. Lần về này tôi cũng ngạc nhiên thấy một banderole giăng ngang đường Lê Lợi thị xã Hội an “Thằng trời đứng qua một bên, để cho thủy lợi đứng lên làm trời.” (Cho đến trận lụt “lịch sử” 2009 thì thủy lợi làm trời thật, trời xả nước hồ thủy điện gây nạn hồng thủy, nhấn chìm nhà cửa, ruộng nương; lúa má, heo gà trôi giạt trong làn nước dữ đỏ ngầu chưa từng thấy bao giờ).

Ở Sài gòn bọn tôi cũng đi làm thủy lợi nhưng không thấy câu này, chỉ nghe truyền nhau câu đối chơi chữ “Ra kinh thấy kinh sợ kinh”. Em tôi dạy tại một ngôi trường nhỏ chơ vơ bên bờ sông Thu bồn, ngó mông qua bên kia, bãi cát trắng bát ngát nối tiếp bờ liễu xanh rờn vẽ một vệt đậm tới tận chân làng xa. Chắc ông Lê Trọng Nguyễn ghi lại cảnh này trong khúc hát Bến Giang Đầu: Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu, mà nay bên sông liễu khuất bến giang đầu, mười mấy năm qua rồi, còn gì đâucòn gì đâu… Em tôi kể, có lần đang giờ học, thình lình nghe tiếng nổ ầm giật thót người, bỗng các em trai trong lớp đồng loạt, đứa chạy ra của lớn, đứa thoát ra cửa sổ. Cô hốt hoảng không hiểu chuyện gì.

Chúng lao mình xuống sông bắt cá, vì có người đánh cá bằng lựu đạn, chúng nhào xuống bắt hôi. Cô thấy chuyện kinh khủng quá, đang giờ dạy, chúng thoải mái mưu sinh kiểu đó, có đứa chết đuối thì chính cô chịu trách nhiệm. Cô yêu cầu hiệu trưởng mời phụ huynh, ai cũng hứa sẽ la rầy chúng. Một bà tỏ ra thông cảm với nỗi lo của cô giáo, cũng ngỏ ý xin lỗi nhưng không quên nói thêm: “Mà thưa cô, cũng tội nghiệp cô hỉ, hắn bắt được một xâu cá dài cô nghe!” Cũng có đửa lên khỏi nước trở về lớp, áo quần ướt nhẹp, đưa xâu cá trước mặt cô cười cười: “Em cho cô nè”.

Đã đành rằng mỗi thời, mỗi xã hội đều có chữ nghĩa riêng phản ảnh  học thuật, văn hóa, cách cai trị… của chính quyền thời đó, không ai hơi đâu bắt bẻ chuyện chữ nghĩa, danh từ, có điều không khỏi lạ tai khi nghe, ví dụ, dạy thêm cho học sinh kém thì nói rặt chữ Hán phụ đạo, (không thấy gọi giáo viên chủ nhiệm là đạo sư), ngạch trật là biên chế, bài soạn là giáo án,  chuyện bịa, tưởng tượng, thành hư cấu,( thời gian lâu tôi mới hết khó chịu với chữ này, cái gì mà cấu cấu…nghe ghê!), vào lớp thành lên lớp, tiêu chuẩn thành tiêu chí, lưu dụng là lưu dung (tôi e người đánh máy văn thư quên bỏ dấu rồi chữ đó trở thành…pháp lệnh chứ lưu dung ở đây có nghĩa gì?) .

Không khỏi ngỡ ngàng lần đầu nghe kiểu nói như pháo nổ rất chất lượng, học sinh báo cáo…quân số, đi ăn đặc sản, bão đổ bộ vào đất liền (chắc lúc ngoài biển bão đi tàu thủy). Cho đến những năm đầu thập niên 80, chuyện chữ nghĩa cũng vẫn còn gây hiểu lầm lôi thôi. Lê H.Dũng bạn tôi dạy hóa có tiếng, một hôm ông cán bộ người bắc dẫn con đến xin học, ông bảo: “Xin thầy giáo cho con tôi đăng ký học thêm”. Ông thầy thong thả: “Tôi là thầy chớ không thầy giáo chi hết, bộ ông nói thầy giáo để phân biệt với thầy cúng, thầy tụng, thầy bói…hả? Ông dẫn cháu về đi, lớp hết chỗ rồi”. Người miền nam nghe ra trong chữ thầy giáo, cô giáo có ý xách mé, khinh miệt trong khi ông phụ huynh nọ hiểu theo nghĩa bình thường (cũng như chữ ý đồ, miệt trong hiểu theo nghĩa xấu). Chắc ông cũng ngạc nhiên sao ông thầy lại phản ứng bất ngờ như vậy. Ngược đời một nỗi, ngôn ngữ mới đầy chữ Hán nhưng hầu hết giáo viên miền bắc “chi viện” hầu như không ai viết được chữ Hán, từ già tới trẻ.

Bà hiệu phó chuyên môn trường tôi tên Bích, một hôm ngồi nói chuyện với năm ba người tại phòng giáo viên, không biết bà lỡ lời hay sao, nói mình có biết chữ Hán chút ít, Nguyễn V Thanh, anh giáo viên trẻ có tiếng đớp chát, hỏi  thẳng ngay: “Tên chị là Bích, bích là hòn đá xanh, bích là ngọc, là màu xanh, là bức tường…tên chị là chữ nào, chị viết thử…” Bà hiệu phó lúng túng : “À…à… lâu quá, tớ cũng quên”. Có một chuyện khiến không thể quên được anh này. Năm 78, 79 gì đó, cuộc bầu cử quốc hội hay có khi hội đồng nhân dân, diễn ra rất rầm rộ. Các ứng cử viên gồm nhiều thành phần, kể cả một bà nào đó trong ngành vệ sinh đô thị, một ông thương binh cụt tay. Buổi học tập bầu cử rất trang nghiêm, giáo viên chỉ ngồi nghe, thấy ai cũng “tài đức vẹn toàn”, cũng được Măt trận Tổ quốc giới thiệu đàng hoàng, đâu ai dám có ý kiến gì nhưng riêng Thanh đưa tay xin “phát biểu”. Mọi đôi mắt đổ dồn về anh, tôi nghĩ bụng không biết tay này định giở trò gì. Anh nói chầm chậm: “Ai cũng biết nghề nào cũng cao quí, quét rác cũng phục vụ nhân dân rất thiết thực, tôi rất ủng hộ nhân vật này, nhưng riêng đồng chí thương binh cụt tay…”.

Thanh có vẻ ngập ngừng không dám nói hết ý. Bà hiệu trưởng giục: “Anh nói tiếp đi!” “Dạ, tôi chưa “nhất trí”, tôi thấy cụt tay rất bất tiện, làm sao…vỗ tay được?” Đám đông bùng vỡ trận cười nhưng bà hiệu trưởng dập tắt ngay: “Thanh không được phát biểu linh tinh, đây không phải chỗ anh châm chích nghe chưa!” Vẫn còn những tiếng cười khúc khích nho nhỏ đâu đó.Tôi nghĩ thế nào Thanh cũng bị lôi thôi nhưng sau đó mọi sư vẫn êm. Kể ra bà hiệu trưởng này cũng biết chấp nhận chút hài hước, không lấy gì làm nghiêm trọng. (Nhưng cũng có một chuyện nói lên bà là một con người khác.Thời gian này quân đội VN chưa tràn qua Campuchia, cuộc cách mạng vô sản đẫm máu của Khơ me đỏ gây kinh hoàng cho thiên hạ, giáo viên trường tôi cũng bàn tán xôn xao. Trong một buổi học tập chính trị, bà nghiêm khắc nhắc nhở mọi người rằng không được phê bình đảng bạn, bạn có hoàn cảnh của bạn, ta không hiểu thì không được phép bình luận.). Nhưng Thanh vẫn chứng nào tật nấy. Lúc bấy giờ còn lệ trực cơ quan, cứ mỗi đêm hai người. Có lần anh ghi vào sổ trực: “Tối qua không có “sự cố” gì, ngoại trừ con chó bên dòng tu cứ sủa… linh tinh suốt đêm, không tài nào ngủ được.”  (Chắc anh cố tình dùng lại từ linh tinh của bà hiệu trưởng). Lại một lần khác: “Đêm qua có “sự cố”. Vào lúc 2 giờ sáng, tôi đi vệ sinh, bất ngờ gặp tên chắc- là- ăn-trộm nhảy từ bờ tường xuống cái thịch, tôi hoảng hồn nhìn nó, nó cũng hoảng hồn nhìn tôi, rồi đồng thời hai bên đều quay lưng bỏ chạy”. Thời gian này ăn bo bo gãy răng, Thanh ngồi chơi chỗ phòng hội đồng, dùng thước gõ đều đều vào bàn theo kiểu gõ mõ tụng kinh: “Tàn nhẫn… vô nhân đạo…hết gạo còn bo bo…bó bo bò bo…bó bo bò bo…bó bo bò bo…”

Những thiếu thốn vật chất cũng không lường nổi. Cả vựa lúa miền tây nam bộ không hiểu biến đi đâu. Gà qué, heo quéo, gạo thóc… tràn ngập hang cùng hẻm tận vừa mới đây chứ có lâu la gì, tự nhiên sao bỗng dưng hiếm như chả phụng nem công. Tất cả giao thương trao đổi đều bị chặn đứng. Như nha phiến, một ký gạo cũng không lọt qua được trạm kiểm soát Tân hương tỉnh Tiền giang. Cha vợ tôi từ Gò công lên Saigon thăm con, xách trong giỏ đệm năm ký gạo nấu cháo cho các cháu, qua trạm Tân hương không những bị tịch thu mà còn bị “quản lý thị trường” mắng nhiếc, đe dọa cụ già như kẻ trộm cắp. Cụ có tiếng cứng cỏi mà cũng rưng rưng : “ Thiệt lạ quá, ba chưa từng nghe nói chớ đừng nói thấy nhà cầm quyền nào ngang ngược, nghiệt ngã với dân vô lý vậy bao giờ.

Chính sách gì mà lạ đời quá đỗi vậy con? Ngày trước thằng Tây cai trị chỉ lúc cấm rượu là hơi tầm bậy, ngoài ra nó chỉ phạt người chặt cây núi cấm, phạt người bán cá lóc có trứng…coi ra nó lo cho dân mình đó chớ?” Sách báo nhắc tới giai đoạn này chất thành núi, chẳng cần phải gợi lại. Có điều trong cách nhắc lại thời “bao cấp”, thời “ ngăn sông cấm chợ ”, ai cũng có cảm tưởng như đó chỉ là một “sự cố” từ trời rơi xuống, không ai gây ra cả, chẳng ai chịu trách nhiệm hết. Bất quá cũng chỉ nói tại…duy ý chí, ai duy ý chí thì không biết rõ. Ơi những ông quan nhỏ quản lý thị trường ngày nọ, nay chắc có người lên làm quan lớn nhờ thành tích của mình, đêm nằm còn nhớ chăng chính mình đã tích cực đóng góp cho “ một mùa địa ngục” trên quê hương đã thanh bình, đúng ra phải dễ dàng được cơm no áo ấm. Cũng khó quên vụ chữ cái cải cách trong giáo dục thời đó- nỗi hổ ngươi khó nuốt- cũng từ trời rơi xuống, chẳng có ai ra lệnh cả. Chuyện cũng chỉ là …chuyện nhỏ, chỉ liên quan tới một ngành nghề, vậy mà “lịch sử” vẫn không thấy tên người chủ trương, trường hợp này chắc cũng tại duy ý chí rồi tiếp đến duy (trì)… giấu giếm.

 NGUYỄN KHIÊM

Cơn bão

Vừa qua, sau cơn bão số 9 năm 2009, đi qua miền Trung, tôi chứng kiến cảnh những xóm nghèo bị tàn phá tan tành. Ký ức đưa tôi về thời kỳ cách đây hơn 50 năm, khi làng xã tôi, trong đó có ngôi nhà bé nhỏ tiều tuỵ của gia đình tôi, cũng đã từng chịu số phận như vậy. Than ôi, sau hơn 50 năm, những gì chúng tôi đã phải chịu vẫn còn lặp lại với hàng ngàn vạn gia đình…

 Bất cứ ai đã sống ở vùng duyên hải nước ta đều chẳng lạ gì những cơn bão to nhỏ đủ loại. Nhưng tôi vẫn muốn nói về cái cơn bão kinh hoàng mà tôi chứng kiến lúc tôi học cấp một.

Năm đó, vào tiết đầu thu, nắng gay gắt kéo dài nhiều ngày, trời xanh trong vắt không một gợn mây. Rồi đến một hôm, vào lúc sáng ra thấy thoang thoảng những làn gió nhẹ, mát và khô, bầu trời không còn xanh ngắt nữa. Đến khi mặt trời gần khuất hẳn thì chợt xuất hiện một làn mây mỏng, rất mỏng, ở chính phía mặt trời lặn, làm chân trời trở nên vàng rực. Chỉ trong vài giây, vùng sáng màu vàng đã lan ra khắp bầu trời, nhuộm vàng toàn bộ không gian. Mọi thứ trên mặt đất chìm ngập trong sắc úa vàng. Trong vài giây tiếp theo, vùng sáng đổ rất nhanh về phía đằng đông rồi đột ngột biến mất. Trong lúc tôi đang còn ngỡ ngàng thì bố tôi nói: “Sắp có bão rồi. Bão to rồi.” Cách đó mấy nhà, có tiếng một ông hàng xóm hô to: “Bão đấy! Bão sắp vào đấy! Bão to đấy!”

Sáng hôm sau, bầu trời ngả sang màu bạc, và vẫn không có đám mây nào. Thỉnh thoảng, một làn gió mát nhưng khô thổi rất nhẹ từ phía tây-tây-bắc. Đến nửa buổi sáng, trời hơi xám lại, và không biết từ đâu xuất hiện cơ man nào là chuồn chuồn; chúng chao đi, chao lại liên tục hàng giờ liền rồi kéo nhau biến mất. Từ quá trưa thì bắt đầu có những đợt mưa, hạt mưa rất nhỏ nhưng không rơi lả tả như mưa bụi, mà rơi chéo theo vô số những đường thẳng song song, tạo với mặt đất một góc khá nhỏ, chỉ vào cỡ 30 độ. Chúng rơi theo hướng gió, từ tây-tây-bắc sang đông-đông-nam, nhưng chỉ rơi trong khoảng mấy giây rồi dừng hẳn. Mươi phút sau, mưa lại rơi trở lại giống như cũ. Gió cũng cứ thổi một lúc lại dừng. Trời có mưa mà không khí vẫn rất khô. Trong gió, những tán lá cây phát ra tiếng xạc xào khô khốc.

Tuy nhiên, cứ sau khoảng một giờ thì lại có thể thấy cả gió và mưa đều hơi mạnh thêm. Đến nửa chiều thì trời có vẻ nặng hơn, mưa đã thành tiếng, độ ẩm tăng dần. Thỉnh thoảng, gió hơi giật, quất làn nước mưa vào các vật trên mặt đất thành tiếng kêu rào rào. Mặt đất thỉnh thoảng lại bị ướt, nhưng lại khô đi rất nhanh vì những làn gió khô thổi tới.

Chiều hôm đó, tin về cơn bão mới chính thức được chính quyền thông báo cho dân chúng. Trong mỗi thôn có một người cầm chiếc loa bằng tôn gò, đi từ đầu thôn đến cuối thôn đọc thông báo của cấp trên về tình hình bão. Không khí chuẩn bị chống bão vô cùng khẩn trương. Nhà này thì tức tốc tìm mua những cây luồng dài, cứ hai cây một, đem buộc đầu lại với nhau trên nóc nhà, gốc một cây thì dùng cọc đóng xuyên qua cái lỗ sẵn có để cột chặt xuống đất ở phía trước nhà, gốc cây kia được cột giống như thế phía sau nhà; mỗi ngôi nhà được giằng bởi vài ba cặp cây luồng như vậy. Nhà khác thì lấy dây chão lớn vốn là đồ nghề đi biển để vắt đi vắt lại trên mái nhà, dùng sức nặng của nó để làm cho mái nhà khỏi bị bốc tung lên khi gió bão giật mạnh. Nhà tôi không có luồng, cũng chẳng có chão, bố tôi chặt vội bốn-năm cây xoan, bề ngang bằng cỡ bắp đùi, rồi chống đầu mỗi cây vào chỗ tiếp giáp giữa quá giang và cột nhà, còn gốc thì chặn bằng một chiếc cọc to gần bằng cổ tay đóng xuống nền nhà đất. Xong việc đó, bố mẹ tôi lấy dùi để xâu dây qua các tấm liếp buộc vào cửa sổ và cửa ra vào. Cửa vừa buộc xong thì trời tối sập xuống, cả nhà tôi cùng ngồi thu lu trên một cái giường, chờ bão đến.

Gió đã bắt đầu giật khá mạnh, có những lúc quất làn nước mưa ào ạt xuống mặt đất, nhà cửa và cây cối. Nhưng rồi chỉ vài giây sau, gió bỗng dừng, chỉ còn tiếng mưa rơi. Rồi mưa dừng, gió lại thổi. Cũng có lúc cả gió và mưa đều ngừng, tất cả chìm trong cô tịch. Trong bóng đêm, chúng tôi mở mắt nhưng chẳng thấy bất kỳ một thứ gì, kể cả những đầu ngón tay giơ sát ngay trước mắt. Vào những lúc như vậy, có cảm giác như những sức mạnh đen tối đang tạm dừng hành động để suy tính, làm sao để có thể tàn phá được nhiều nhất, đem đến nhiều bất hạnh nhất cho loài người khốn khổ.

Dù sợ bão, nhưng đến khoảng 9 giờ thì cả mấy chị em tôi đều thi nhau ngáp và mắt thì ríp lại. Bố tôi bảo mấy chị em nằm xuống, rồi ông lấy chiếu đắp cho cả lũ (ở vùng nhà tôi dạo ấy hầu như chưa nhà ai có chăn). Chỉ vài giây sau, tôi đã không còn biết trời đất gì nữa.

Nhưng đến nửa đêm, lúc tôi đang ngủ rất say thì bố tôi dựng cả mấy chị em dậy. Tôi đang rất ngái ngủ, nhưng rồi cảm giác ngái ngủ bị xua đi tức khắc bởi một cơn gió giật hãi hùng làm ngôi nhà tranh nhỏ bé mong manh của chúng tôi kêu răng rắc. Bão đã chính thức đổ vào! Rất may là trước đó mấy ngày bố tôi vừa mua được một chiếc đèn pin. Ông bật đèn lên, và mọi người đều thấy ngôi nhà đã xiêu đi, các cây cột lệch khỏi phương thẳng đứng khoảng dăm độ. Gió lặng đi mấy giây, rồi chợt thấy một âm thanh ‘ục-ục’ giống như tiếng chân của một đàn voi hàng ngàn, hàng vạn con đang ập tới. Lúc đầu, tôi không biết đó là tiếng gì, nhưng khi nó tới gần thì âm thanh đó chuyển dần thành tiếng gầm rú, tiếng rống trầm đục ghê rợn của một lũ quỷ. Khoảng một giây sau nữa mới rõ đó là tiếng gió, nhưng không phải gió thông thường, mà là chuyển động của một khối khổng lồ chất gì đó rất đặc, rất nặng, sẵn sàng đè nát mọi thứ nó gặp trên đường đi.

Khi cơn gió đến tận nơi thì không còn lời nào để tả được sức mạnh và sự tàn khốc của nó nữa. Gió gào rú, xô ngôi nhà của chúng tôi xiêu sang bên này, rồi lại dồi sang phía kia. Mọi thứ kèo, cột, đòn tay lại kêu răng rắc. Một cú giật mạnh khủng khiếp làm các cây cột xiêu về một phía, lệch khỏi phương thẳng đứng khoảng 10 độ. Bố tôi hô chị An ôm lấy em út tôi bấy giờ chưa đầy hai tuổi, thét bảo mẹ tôi và tôi ôm lấy một cây cột chống, cố đè lên để cản bớt sức đẩy của gió. Bố tôi cũng làm như vậy với một cây chống khác. Tôi làm theo lệnh nhưng cảm thấy sức nặng cơ thể của con người lúc đó không thấm tháp vào đâu. Tôi nghĩ gió sắp xô cho ngôi nhà thảm hại của chúng tôi đổ sập lên đầu mọi người, hoặc giật tung nó lên trời mà xé tan ra thành từng mảnh trên đó rồi ném tung toé ra mọi phía. Mỗi lần gió giật, nó lại dồi nước mưa và lá cây cùng rác rưởi vào nhà. Đất nền nhà nhão ra như đất ruộng. Mọi người đều ướt, đều run lẩy bẩy vì lạnh và vì hoảng loạn.

Đợt gió tạm lắng, ngôi nhà xiêu vẹo vẫn chưa sập. Rõ ràng mấy cây cột chống cũng có tác dụng. Nhưng tôi nghĩ là ở đợt gió sau, ngôi nhà sẽ không trụ được nữa.

Vài phút sau, gió lại tới. Lại thứ âm thanh ‘ục-ục’, lại tiếng chân của đàn voi, lại tiếng rống của bầy quái vật, và sự chuyển vận của khối chất nặng và đặc khổng lồ. Lại tiếng răng rắc của ngôi nhà. Nhưng lần này không chỉ có vậy. Một cú giật bất ngờ bốc tung một nửa mái nhà, để lộ ra một khoảng trời đen ngòm (lúc đó trong nhà tôi đèn pin đang sáng). Nước xối xả tuôn vào nhà, ập xuống đầu chúng tôi. Đứa em gái út của tôi choàng tỉnh trong tay chị tôi và khóc thét lên. Yên, em gái kề tôi, cũng khóc. Nhưng tiếng khóc của chúng bị át đi bởi tiếng gào rú cuồng nộ của gió mưa.

Rồi đợt gió lại lắng, và khi con quái vật gió tạm nghỉ thì nước lại càng xối xuống dữ dội hơn. Không phải là một trận mưa nữa. Nước tuôn xuống ầm ầm như đổ ra từ một cái thùng mà bề ngang của nó rộng hàng chục, hàng trăm dặm. Tôi không còn đủ tỉnh táo để thấy sợ nữa, mà mụ hẳn đi. Và chắc chắn rằng ít nhất thì chị tôi và các em tôi cũng đều như vậy.

Cứ như thế, không biết bao nhiêu đợt gió đã đi qua, không biết bao nhiêu lần ngôi nhà của chúng tôi đã đổi chiều nghiêng, nhưng nó vẫn không sập hẳn, cũng không bị bốc tung đi nơi khác và cũng chưa bị xé tan thành từng mảnh.

Đến khoảng ba giờ sáng, gió bỗng im bặt, mưa cũng dừng. Tôi vừa kịp hoàn hồn và thấy mừng trong bụng thì lại thấy bố mẹ tôi nói rằng mới hết gió bắc, sau đó gió đông sẽ đến, và bão sẽ còn mạnh hơn. Tôi lại thấy rụng rời.

Khoảng ba bốn mươi phút sau, quả tình trời lại nổi gió, đổ mưa, và lần này sự cuồng nộ của thiên nhiên đúng là còn ghê gớm hơn hẳn so với lần trước. Tôi không biết phải tả lại diễn biến của đợt mưa gió thứ hai này như thế nào nữa, vì tất cả vốn từ ngữ của tôi chỉ có thể dùng tạm để tả đợt trước. Tôi chỉ có thể nói rằng sở dĩ ngôi nhà của chúng tôi không sập hẳn xuống hoặc bị xé tan chỉ là vì cả hai mái đều đã bị tốc bay lên không, chỉ còn lại mấy cây cột với vài bức vách vốn được trát bùn trộn rơm, mà bây giờ bùn và rơm đã rữa và bị bóc gần hết, trơ ra bộ xương bằng tre nứa. Có những lúc gió xô chúng tôi bổ ngửa ra đất hoặc xô ngã vào vách. Cả nhà tôi không ai còn nghĩ đến việc giữ cột chống nữa. Không còn tí sức lực nào. Mọi người cố sức cùng túm lấy một chiếc chiếu để che tạm, không phải để khỏi ướt, mà chỉ để giảm bớt sức mạnh khủng khiếp của thác nước đang ầm ầm xối lên người. Thỉnh thoảng chiếc chiếu lại bị giật tung ra, và khi gió chưa giảm bớt cường độ thì không thể nào nhặt lại được nó để che lên người. Lúc đó, tôi thoáng nghĩ rằng cả nhà tôi rồi sẽ chết hết.

Nhưng có lẽ những lực lượng vô hình nào đó vẫn chưa muốn để chúng tôi chết. Khoảng gần 5 giờ sáng thì gió yếu dần, trời đằng đông hơi hé sáng. Nhìn thấy chút ánh sáng le lói đó, tôi cảm thấy hy vọng sống vẫn còn. Nhưng rồi trời lại lập tức tối sầm lại, mưa lại đổ, và lần này mưa to hơn tất cả những đợt mưa trước. May mắn là gió đã yếu hẳn. Mẹ tôi bảo đó là mưa tướt bão, và sau cơn mưa này thì trời sẽ tạnh.

Khi mưa đã tạnh và trời sáng hẳn, tôi nghe thấy một âm thanh lạ: tiếng réo ù ù phát ra từ một khoảng cách khoảng ba-bốn mươi thước cùng với tiếng người nói lao xao. Khi bố mẹ tôi tháo dây chằng trên liếp cửa ra, tôi bước ra khỏi nhà. (Cả như những phút cuối của cơn bão thì lẽ ra tôi không thể đứng lên nổi. Nhưng không biết bằng cách nào mà bấy giờ tôi không thấy mệt và cũng không nhớ gì về sự mệt nhọc trước đó). Tôi nhìn quanh. Cái nhà bếp của chúng tôi đã biến mất, chỉ còn lại vài đoạn tre vốn là cột bếp. Các nhà hàng xóm, cái thì đổ, cái thì tốc mái. Chung quanh là một bãi lá cây vô tận. Gần như không còn gì có thể gọi là ‘cây’ được nữa. Hầu hết cây cối đã bị bật gốc hoặc bị đổ nghiêng, cây nhỏ và cành của cây lớn thì gãy nát, cây nào chưa đổ hẳn thì chỉ còn vài cành cụt với một ít lá dập nát hoặc trụi hẳn. “Ấn tượng” nhất là những cây chuối, lá của chúng không còn là lá nữa, mỗi cái trước đó vốn là tàu lá thì bây giờ chỉ là những mành tơ: chúng bị dập tơi tả, bị rách đến mức không còn có thể rách nhỏ hơn được nữa, tức là thành những sợi nhỏ như sợi tóc, chỉ khác là còn mềm hơn những sợi tóc. Duy chỉ có những cây cau mảnh khảnh là có khả năng chống chọi kiên cường hơn cả: rất ít cây bị gãy hoặc mất lá. Khắp nơi là cành lá, rơm rác và nước. Nước tràn qua vườn tược, sân, ngõ các nhà, đổ ào ào từ tây sang đông để thoát ra biển.

Tôi bước ra đường, đi về phía đám người đang đứng quanh nơi phát ra tiếng ù ù. Đó là chỗ con đường làng bị nước xói đứt ra, và chỗ đứt bị xói tiếp thành rãnh. Cuối rãnh, ở chỗ vốn là mép đường và cũng là bờ ruộng hình thành một cái hố sâu khoảng hai mét và rộng cũng cỡ như thế. Nước ở đầu rãnh bị dồn lại nên chảy rất xiết, đến cuối rãnh thì đổ xuống hố ầm ầm như thác. Nước cứ chảy, cứ đổ như vậy đến quá trưa mới yếu đi và gần hai ngày sau mới hết hẳn.

Bấy giờ, cái bụng rỗng của tôi nhắc tôi phải về nhà. Tôi đang lo không có gì ăn thì vô cùng sung sướng phát hiện ra mẹ tôi đang rang ngô. Ở thôn quê thời bấy giờ nhiên liệu để đun nấu chủ yếu là rơm rác và lá cây khô. Sau trận bão thì chẳng nhà ai còn tí rơm khô nào. Bố tôi lấy một đoạn luồng rơi từ mái nhà, chẻ ra thấy bên trong vẫn còn khô, ông đưa cho mẹ tôi làm củi rang ngô để giải quyết tại chỗ cơn đói đang làm khổ cả nhà. Sau khi được nhai ngô, tôi lại thấy khoẻ mạnh bình thường. Quần áo sạch không có mà thay, nhưng cũng chẳng sao, cứ thế chúng tôi mặc bộ quần áo duy nhất trên người cho đến khi khô, cũng chẳng thấy nó bốc mùi hôi nữa.

Tôi đã nói quá nhiều về những bữa ăn khổ sở của chúng tôi rồi, bây giờ không muốn nói thêm nhiều nữa. Chỉ xin nói vắn tắt là sau bão thì chúng tôi còn khổ hơn trước. Những ngày sau đó, chỉ riêng em gái út của tôi là được húp một ít cháo gạo, vì nó chưa nhai ngô được, và vì nó bị sốt li bì mấy ngày liền.

NGUYỄN TRẦN SÂM