Ký ức sơ sài 06

KY UC SO SAI 06Đã mấy năm tôi không có dịp ghé lại chỗ Hội Ngữ Học, không biết họ đã soạn xong cuốn Tự điển  Anh-Việt-Ca Tu hay Việt-Anh-Ca Tu, tôi không nhớ chắc, cuốn sách lúc còn dở dang đã dày hơn tự điển Petit Larousse rồi. Ca Tu là bộ lac người thiểu số lớn nhất Quảng Nam, lúc còn bé, tôi vẫn hay thấy họ đi thành hàng vào các thôn xóm người Kinh giao thương đổi chác, vai mang gùi, tay cầm cây lao nhọn, ánh mắt ngờ vực, cái nhìn hiện rõ niềm u ẩn và sâu thẳm của núi rừng. Họ có tập tục đâm trâu rất rùng rợn, tôi đã từng được xem trong dịp Tết, con trâu bị cột vào cây cọc lớn, chạy lảo đảo vòng vòng quanh cây cọc, chảy nước mắt như khóc trước khi và cả trong khi bị đâm từng nhát lao cho tới chết, trò này gần giống đấu bò của Tây Ban Nha, nhưng đấu bò có vẻ “công bình” hơn chút đỉnh, ít ra còn cho con bò chiến đấu chống lại một cách hạn chế để nó đỡ uất ức chắc, hình như con trâu Việt nam nhẫn nhục đợi chết chứ không dũng cảm bằng con bò bên Tây thì phải.

Một buổi chiều ngồi chơi trước nhà, tôi thoáng thấy có người Tây phương nào thập thò ngoài cổng, tôi bước ra nhìn, ngạc nhiên nhận ra ông Fippinger. Tôi mời vào và hỏi ông đến có việc gì. Ông nói:”Lâu không gặp, tôi đến thăm anh, luôn tiện cũng có chút chuyện muốn nói, một chút thôi”. Tôi nói:”Không sao, tôi có bận rộn như mấy ông đâu, cứ ngồi chơi nói chuyện lâu lâu”. Đôi mắt ông mở to hiền hậu, lúc nào như cũng sợ người khác phiền hà, vẻ lương thiện, thực thà hiện ra trong từng lời nói, cử chỉ. Gương mặt ông tỏ rõ nét đẹp đạo đức toàn bích ít  người có thể đạt tới. Cũng như  người ta  nói gương mặt Greta Garbo đã đạt tới điểm đỉnh sự trong sáng, kiều diễm của người nữ mà nhân loại có thể vươn tới. “Một chút chuyện” của ông khiến tôi không khỏi ngỡ ngàng. Ông nói;” Anh còn nhớ mấy năm trước một lần đi Singapore tôi có mua giùm anh cái tape recorder nhỏ?” Tôi nhìn ông, vẫn chưa hiểu chuyện gì, tôi bảo rằng tất nhiên tôi nhớ. Lúc bấy giờ chưa có cassette, chiếc máy thu băng nhỏ đó là thứ quí hiếm. Ông nói một cách rụt rè: “Gần đây tôi mới được biết hàng hoá đem về qua phi trường đều phải đóng thuế, tôi nghĩ anh nên đóng thuế cho chính phủ, rồi Chúa sẽ cho lại mình tuỳ theo cách của Ngài”. Tôi giải thích cho ông hiểu rằng hàng lẻ  xách tay qua phi trường thì được miễn lệ phí theo luật quan thuế lúc bấy giờ, không có gì mờ ám cả. Ông bảo  ông có biết điều đó nhưng nghe nói nhiều người lợi dụng chuyện này để kiếm lời, mỗi lúc nhớ lại ông không được bình an. Tôi tự nhiên cảm thấy xấu hổ, ngượng nghịu.Trước mặt ông, tôi trở thành tên trốn thuế chỉ với một món tiền nhỏ mọn chẳng bõ bèn gì.Tình thế kỳ quái khiến tôi không thể nói gì hơn đành hứa với ông tôi sẽ làm theo ý muốn của ông (chiếc máy ghi âm đó đã sắp hư, sửa đi sửa lại mãi rồi!). Hẳn là “bức xúc” dữ lắm ông mới khổ công tìm tôi tận hang hẻm Sài gòn để nói chuyện này. Làm sao mà chính phủ của người ta trong mắt dân chúng tuyệt vời tới vậy, tôi thật không khỏi lấy làm lạ. Không rõ ông có biết chính phủ đang cai trị chúng tôi rất khác chính phủ của ông hay sao.Thì ra sống đúng luật vẫn chưa phải đạo đức, tiêu chuẩn đức lý của mấy ông này cao quá. Giống như cô em gái tôi thuyết phục tôi đi nhà thờ, tôi bảo tôi ngại lễ nghi, thờ phượng, vốn tôi thiên về…vô tổ chức. Tôi sống đạo bằng cách cố ăn ở ngay thật, không chủ tâm chơi xấu ai…cô em tôi nói thẳng rằng sự công bình và lương thiện của tôi chỉ như tấm giẻ rách trước mặt Chúa mà thôi. Hồi nhỏ, tôi ở với ông bà ngoại, theo đạo Tin Lành, thỉnh thoảng mới chạy qua nhà nội, hai nhà cách nhau có một lối đi cây cối um tùm, đêm hè đom đóm  bay lập loè trong ngõ giếng, tôi tưởng tượng như ánh ma trơi. Ngày lễ Tết, ông nội tôi, mỗi khi cúng quải, khấn vái ông bà tổ tiên, tôi hay đứng sau lưng ông làm bộ tịch chòng ghẹo khiến không khí  nghiêm trang, sùng kính vơi nhẹ đi, vì tôi là cháu nội đích tôn được ông cưng chiều, cũng có thể không tin mấy về cúng bái, chỉ làm theo lệ, nên ông chỉ cười hiền, cốc nhẹ vào đầu tôi  mắng thương:”Mẹ họ mi”. Sao bỗng dưng nhớ quá tháng năm ông bà cha mẹ còn đông đủ, hôm nào ráng chiều đỏ rực trời tây, bà nội gọi đến bất ngờ cho ăn mỳ Quảng cá tràu với nước lèo ít ít, nhưn loe hoe mà sao ngon thấm tận ruột gan, cảm giác đó sau này không bao giờ gặp lại. Ký ức tôi vẫn hằn sâu những buổi chiều cuối năm êm ả, tĩnh lặng như chiêm bao trong ngôi làng nhỏ bên chân núi, gió mùa đông bắc se lạnh xao xác bên vườn chuối âm u, trăng mọc sớm trên ngọn đồi thấp phía đông chiếu một vệt ánh vàng run rẩy lung linh trên  đầm nước ven làng. Nhớ ngày ông nội tôi bệnh nặng sắp qua đời, ba tôi công tác kháng chiến ở xa, tuổi nhỏ tôi hiếm khi được ở bên ba, má tôi nhắc nhở:”Con phải năng đến thăm ông, ông còn không bao lâu đâu”. Tôi một phần ham chơi bắn chim, bắt dế gài bẫy chụp, đào trùn đặt ống trúm bắt lươn, một phần nghe nói ông sắp mất, tự nhiên đâm sợ sệt nên ít đến với ông. Khung cảnh nhà nội tôi lại đồ sộ, cây cột nhà ôm không hết vòng tay, bàn thờ tổ tiên âm u khuất tối khiến tôi càng ngại đi ngang đó vào buồng sau thăm ông. Năm kỉa năm kia, mỗi lúc phải lên nhà trên cao nghệu vắng tanh lấy vật gì do ai đó sai bảo, tôi khổ sở cầm theo cây roi mây, quơ liên tục sau lưng đuổi tà ma khi quay trở xuống nhà dưới, tim đập thình thình, kinh khiếp nhất là ngọn đèn dầu phụng trên tay bất ngờ phụt tắt, chạy nháo nhào va đầu vào cột vẫn không kịp thấy đau. Ông nội, dường như hiểu tâm lý sợ sệt nơi tôi nên có bữa gọi lại nói, giọng đã hơi thều thào:”Con có thấy người ta đang cưa ván đóng hòm cho ông không? Răng con ít vào thăm ông? Con nề, ông chết rồi thì cũng như cục đất, không thành ma cỏ chi đâu. Mà giá như có cái chi linh thiêng thiệt thì ông thương con cháu, phù hộ giúp đỡ con cháu chớ ai lại làm ma bắt con cháu đâu mà sợ.” Ra khỏi buồng ông, tôi vừa đi vừa lấy tay áo quẹt nước mắt. Không lâu sau, ông tôi qua đời, tháng chín mưa lụt xối xả từng cơn phủ trắng núi rừng một màu tang tóc, xôi nếp mới đám tang ông thơm lừng trong nhà ngoài ngõ. Không hiểu thừa hưởng nét tâm lý nào, của ai, vì ba má tôi cũng là đảng viên trong thời kháng chiến chống Pháp, nhưng sao đến phiên tôi, khi phải sinh hoạt trong các hội đoàn, tổ chức này nọ, bao giờ tôi cũng ngượng ngùng, không nghiêm trang và tự nhiên nổi. Tôi không quên một lần may mắn được dự lễ kêt nạp Đảng với một không khí thiêng liêng không ngờ ở một trường PTTH (thiêng liêng còn hơn làm  phép Báp Têm, vì khi ông mục sư nhận đầu tín đồ xuống khỏi mặt nước, dù rất nhanh nhưng vẫn có người bị ngộp nên hơi buồn cười một chút). Đảng viên mới là bà hiệu phó gốc Sài gòn đi tập kết trở về, bao nhiêu năm gian khó trên đất Bắc, khát vọng được vào Đảng nung nấu quá mức hay sao mà đến lúc được thề thốt trung thành với Đảng, bà khóc rũ rượi, gần như té xỉu vì xúc động, không nói nên lời, tôi thì ngồi im như tượng, cảm giác lạnh lạnh cứ chạy suốt sống lưng.

Tôi nói một câu để khều nhẹ ông Fippinger chơi:” Chúa Jesus ghét bọn thu thuế lắm  phải không?” Ông cười cười bảo:” Chuyện đó ở một hoàn cảnh khác”. Ông khoe vừa đi Quảng Nam về, gặp nhiều người Ca Tu thiểu số ở Đại lộc, nhiều người trong bộ tộc này nói được tiếng Kinh với cách riêng. Tôi hỏi:”Ông nói cách riêng là sao?” “Chẳng hạn họ luôn đặt tiếng “cái” chứ không tiếng nào khác trước các danh từ, thí dụ như cái sông, cái làng, cái chữ, cái ruộng, cái rẫy, cái bụng, cái buồn, cái vui…”. “À, tôi biết chuyện này, mấy ông giáo làng quê tôi mỗi lúc mắng đám học sinh quen thói dùng từ CÁI đặt trước danh từ thường bảo rằng mi nói (viết) như mấy thằng Ca Tu, chi cũng CÁI”. Thành thật xin lỗi đồng bào Ca Tu, tôi chỉ nhắc lại chuyện cũ. Người Việt tự cao và kỳ thị ít ai sánh kịp, dường như tưởng  mình văn minh hơn Châu Phi, hơn Ả Rập, thậm chí gần đây có mấy học giả sử gia nào đó chứng minh tổ tiên người Việt còn văn minh hơn Hán tộc. Chưa thấm, ta còn kỳ thị ngay với chính đồng bào mình nữa. Bạn tôi, chị Lương Kim Loan, vốn người Long Xuyên, tôi hỏi ở Mỹ chị có bị kỳ thị gì không, chị nói:” Nói không hề bị kỳ thị e không đúng hẳn, có lẽ cũng có mà kín đáo lẻ tẻ lắm, phần lớn họ tế nhị hơn xa mình, cứ so sánh là mình thấy ngay, anh coi, tôi ở Long Xuyên, năm nào đó đồng bào mình ở Cao Miên bị “cáp duồn” chạy về lánh nạn, mọi người nhìn với nửa con mắt, coi khinh và xua đuổi ra mặt, thậm chí tránh thuê mướn họ làm việc gọi là ”lao động giản đơn” nữa kia. Họ bồng bế lếch thếch ngơ ngác ngay trên đất nước mình, giữa đồng bào mình, coi thảm hại quá, nói thật, tôi nghi ngờ hai chữ đồng bào lắm nghe anh, y như mình nói nhiều tới cái gì là mình  không hề có điều đó vậy nghe, nên chi mình được đối xử tử tế như vậy thì chẳng nên đòi hỏi gì hơn”. Trở lại chuyện chữ nghĩa, bây giờ thì khỏi lo, người Kinh đã học tập nhuần nhuyễn từ CÁI của các bạn Ca Tu rồi. Cứ ngồi trước TV vài phút sẽ thấy “tần số” cao ngất của tiếng này. Tôi từng nghe một quan chức giáo dục thành phố nói:”Những cái người giáo viên đó họ có cái bức xúc vì họ có cái khó khăn của họ, cái lo lắng của họ là rất lớn, chúng ta phải có cái quan tâm và có cái giải quyết thích đáng”(!) (Thật ra tôi ghi…gọn hơn lời nói của ông, vì lẽ khi nói, lúng túng kiếm không ra chữ, ông cứ lặp lại cái…cái…cái…bộn hơn nhiều).

Thấy chưa, quan chức phụ trách giáo dục ở đô thị văn minh bậc nhất đã bỏ xa các bạn trong chuyện dùng chữ này rồi còn gì. Cách ăn nói thời còn lạc hậu, chưa “tiến bộ” như ngày nay coi ra chẳng cần CÁI với CÓ dữ thần vậy. Có thể diễn ý thượng dẫn chỉ với nửa số từ:”Những giáo viên đó quá lo lắng và bức xúc, chúng ta phải chú ý tìm cách giúp đỡ để họ bớt khó khăn”. Nhiều hướng dẫn viên du lịch nói một câu thì đã có gần phân nửa số từ là từ CÁI, làm sao nghe cho lọt! Các anh cứ thử một lần bỏ hẳn TẤT CẢ TỪ CÁI đó đi sẽ thấy nghĩa của câu vẫn không hại gì mà lời nói lại nhẹ nhàng hơn nhiều.Có lần tôi còn nghe người ta nói “ Chúng ta đã có …cái bầu (cử) nghiêm túc”. Không tin được! Trong những câu chuyên gẫu với bạn bè, ai đó lưu ý ông Nguyễn Tuân cũng hay dùng từ CÁI, nhưng chúng ta thấy ông dùng trong một văn cảnh khinh bạc, không ai bắt chước, cạnh tranh được, gần như CÁI là ”hàng độc”, độc quyền của riêng ông.

Chiều đó đám mây đen u ám về chuyện thuế má tan đi phần nào khi chúng tôi nói về chữ nghĩa với chút ít hào hứng. Lúc này tiếng Việt của ông đã khá hơn nhiều, có thể nói với ông vài đặc điểm của ngôn ngữ này. Chẳng hạn tiếng đứng trước danh từ trong Việt ngữ chính là một thứ mỹ từ làm đẹp lời nói nếu ta dùng có ý thức. Từ CÁI nghĩa rất rộng, rất chung chung, gần như đặt vào đâu cũng được do vậy mất tác dụng miêu tả. Thay vì nói CÁI, tổ tiên chúng tôi đặt trước danh từ những tiếng vô cùng biến hoá, tuỳ theo hình trạng của sự vật, ví dụ gương mặt, vẻ mặt, bộ mặt, bản mặt (Trưa đi ra phố mua gương, vế soi bản mặt dễ thương của mìnhNguyễn Đức Sơn). Má thì má, môi thì làn môi, vành môi, vành tai, cánh mũi, lồng ngực, bờ vai, ngọn đồi, quả đồi, chỏm núi, trái núi, dãy núi, rặng núi, ngọn núi, sườn non, cánh hoa, đoá hoa, thậm chí đoá trăng (Thấp thoáng sườn non ngày mới chớm, một đoá trăng tàn lẩn lút bay, mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây – Thanh Tâm Tuyền), mây thì đám mây, tầng mây, dải mây, vầng mây, sợi mây, cụm mây, dòng sông, con suối, ngọn thác, túp lều, ngôi nhà, toà biệt thự, nỗi lòng, nỗi nhớ, niềm vui, cõi đời, nền độc lập…Câu thơ của Tô Thuỳ Yên viết về cây dừa trên đảo Trường Sa:”Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp, suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi”, nếu thay chữ NỖI bằng CÁI thì còn gì chăng? Diệu kỳ thay chữ nghĩa!

Một trong những cách tàn phá tiếng Việt hữu hiệu và nhanh chóng nhất là tìm mọi cách DANH TỪ HOÁ động từ, tính từ, tức là những thuật từ của nó. Nhiều người đã nói, nói rõ nhất và tha thiết nhất là nhà văn Võ Phiến, ông cho rằng Việt ngữ cốt lỏi diễn ý bằng động từ, tính từ, đặc biệt các tính từ láy. Tìm cách biến động từ, tính từ ra danh từ là từ bỏ sở trường, chọn sở đoản, nghĩa là lìa bỏ ưu thế, đặc điểm vượt trội nhất của mình để chọn cái mình yếu kém nhất. Nhờ nói bằng động từ, tính từ mà tiếng Việt sinh động, tươi tắn, vô cùng gợi tả, tràn đầy vẻ tượng hình và cảm xúc. Nòi bằng danh từ, tiếng Việt trở nên vô hồn, như chỉ còn cái xác, dài dòng mà lại khô cứng, chán ngắt. Nếu diễn ý bằng động từ, viên chức giáo dục trên chỉ cần nói:”Những giáo viên đó gặp khó khăn, họ bức xúc và lo lắng quá nhiều, chúng ta phải quan tâm giải quyết…” như thế có vẻ Việt ngữ hơn, đâu cần phải CÁI nhiều vậy? Nghe người ta nói trên TV, cả trên BBC, thú thật tôi buồn bã tiếc nuối BBC của Xuân Kỳ, Xuyến Như, Nguyễn Phúc, Hồng Liên… ngày trước, mới đây thôi chứ có xa xôi gì, sao tiếng Việt ngày đó sang trọng, tế nhị, hóm hỉnh tới vậy. Ngày đó người ta chỉ nói ”họ gặp nhau” chứ đâu có nói chướng kỳ “họ có cuộc gặp”, chỉ nói “tôi nhận định rằng…” chứ đâu có nói “tôi có cái nhận định rằng thì là …”. Thủ phạm chính khiến lời nói chúng ta trở nên vụng về, luộm thuộm, dài dòng phải chăng do thói quen tai hại hay tại nghèo nàn về “tư duy” đến nỗi lúc nào mở miệng cũng đeo chữ CÓ trên môi, luôn phải đặt CÓ CÁI trước động từ rồi LÀ sau động từ. Thì đây: Tôi có cái suy nghĩ là…tôi có cái khẳng định là…ta phải có cái quan tâm là…ta nên có cái nhìn lại là…ta nên có cái thông cảm với….Luôn luôn vậy. Nói thêm… chết liền!  Tôi biết mình nói gì cũng chẳng qua như chó sủa lỗ không, tuyệt vô âm vọng, người ta cũng sẽ độc quyền chiếm diễn đàn tha hồ kênh kiệu nói “Hôm qua, đã diễn ra lễ…chi X, anh Y đến từ Hà nội…ta có cái dân chủ của ta…” Phải chăng tôi chỉ là kẻ thành kiến, lạc hậu, ôm khư khư quan niệm cực đoan, không chịu chấp nhận việc pha trộn cách diễn đạt có tính toàn cầu, cứ nói lảm nhảm về đặc trưng này nọ? Đã tới lúc Anh ngữ hoá, Âu hoá tiếng Việt rồi sao? ( Nói hoá hoá khiến nhớ tới mấy từ bê tông hoá, ngọt hoá…đúng là cẩu thả hoá, khổ quá!). Nhưng thầy cô dạy văn giỏi, sẽ dạy những gì và cách nào? Có nói gì về đặc điểm nghệ thuật diễn ý của tiếng Việt không? Có bảo các em hãy học tập cách diễn đạt của nhà văn này, nhà thơ nọ hay nói học vậy biết vậy, nay ta phải hiện đại hoá tiếng Việt bằng cách cứ học tiếng Việt người ta nói trên TV là mẫu mực, cụ thể nhất? Rồi học sinh giỏi Việt văn là giỏi những gì? Hoang mang quá. Thôi, hãy xem những từ láy tác dụng thế nào trong bài thơ ngắn của cố thi sĩ Thanh Tâm Tuyền một chút để tâm hồn ta thơ thới phần nào:

Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Ẩn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng xem tù qua thôn

Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng

Về trong xây xẩm buổi tàn đông

Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

Ảm đạm lòng ta, chiều cuối năm.

(Chiều cuối năm qua xóm nghèo)

NGUYỄN KHIÊM

Advertisement

– TẠI SAO PHẢI HÉT TO KHI TỨC GIẬN?

MINH ANH

het to khi tuc gian

Có một vị hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
“Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải thét thật to vào mặt nhau ?”
Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử ấy đã trả lời:
“Bởi vì người ta mất bình tỉnh, mất tự chủ!”

Vị hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:

“Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe ?”
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời nhưng không có câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:

“Khi hai người đang giận nhau thì trái tim của họ đã  không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.”
Ngưng một chút, ngài lại hỏi:

“Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào?

Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao? Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau.  Khoảng cách giữa họ rất nhỏ…”
Rồi ngài lại tiếp tục:

“Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Vì qua ánh mắt đó họ đã biết người đối diện nghĩ gì, muốn gì ..”

Ngài kết luân:

“Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, phải giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau… Nếu không thì có một ngày khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng xa thì các con sẽ không còn tìm ra được đường quay trở về !”

MINH ANH

– Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?

TS Mai Thanh Truyết

Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu…những nơi có dấu chân TC  khai thác các công trình quặng mỏ  hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.

Tại Việt Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ, nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mãnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay  công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.

Những khu biệt lập nầy có thể nói rằng do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người “lạ” nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mãn đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý.

Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn sóng phẩn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được.

Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mãnh đất quê hương của người bản xứ.

 

Trờ lại Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CSVN. Sau khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay,  Hà Nội đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.

Nhưng trầm trọng hơn cả là trong việc nhường bước cho TC khai thác, Hà Nội  để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.

Ngay từ giờ phút nầy (8/2009), đã có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều.

Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt hơn một năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị mặt bằng cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v…mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường.

Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không?

Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác  một công trình bí mật nào khác?

 

Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các thông tin có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mãnh đất quê hương Việt Nam.

 

Việc khai thác quặng mỏ Uranium

Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và sác xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao.

Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium 235 và Uranium 238. U 238  được xem như là đồng vị nặng vì có 3 electron nhiều hơn U 235 . Chính U 235  mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi.

Việc khai thác gồm:

·                     Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235;

·                     Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện hay làm giàu (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau.

 

Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tác vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhứt, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được.

 

Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc           

Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. VIỆT NAM dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ như khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn.

Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài.

Câu hỏi được đặt ra nơi đây là, tại sao người Pháp cho lấp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?

 

Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy?

Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiê cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ?

Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngũi của Nhât Bổn vào thế chiến thứ hai, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy.

Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không?

 

Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần

Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa.

Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng oxid uranium (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ oxid uranium ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với oxid uranium ở Cao nguyên.

Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép.

Ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite.

Với hàm lượng oxid uranium kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự.

Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium:

·                     Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở TQ. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ 6 tháng qua?

·                     Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm?

 

Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa  VN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium để làm tăng lợi khí “cường quốc” của Hán tộc.

 

Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium

Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát dễ hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. Lý do là trong vòng 10 năm nữa Việt Nam sẽ đưa vào hoạt động hai nhà máy phát điện nguyên tử tại Ninh Thuận, cho nên việc khai thác Uranium nầy có thể là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, và Việt Nam có được tính chủ động không tùy thuộc vào nước ngoài để có thể bị áp lực của các quốc gia cung cấp nguyên liệu phóng xạ trên.

Thêm một điểm cần lưu ý là, nếu Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhứt là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới.

 

Thay lời kết

Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy.

Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương?

 

Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng.

Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhứt là lợi dụng tình trạng còn lõng lẽo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turquistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số tại nơi đây.

 

Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong “tầm bắn” của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa.

 

Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãng  miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao.

Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên.

Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguyền nguyên liệu nầy sẽ mọc “thêm râu thêm cánh” và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gốm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v

Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp.

Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điềiukiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TQ). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhứt trước sự bành trướng của TC.

 Mai Thanh Truyết

08/2009

 

Ghi chú: Tin giờ chót, Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, Ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên vừa công bố ngày 4 tháng 8  là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng oxid uranium U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020.. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn.

Và Ông cũng cho biết là đã ký Biên bàn ghi nhớ (Memorendum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ khai thác quặng mỏ Uranium trên.

 

Nguồn: http://www.khoahoc.net/baivo/maithanhtruyet/130809-quangphongxa.htm

– TRUNG QUỐC DÙNG THỢ MỎ XÂM LĂNG NƯỚC TA

HỒ BẠCH THẢO

 

Việc Trung Quốc sử dụng công nhân tại các hầm mỏ như là đạo quân mai phục sẵn tại nước ta, không chỉ là là sự tiên liệu của các nhà quân sự cẩn thận lo xa. Thực sự điều này đã xảy ra dưới thời nhà Thanh, bằng cớ có thể dẫn ra từ chánh sử Trung quốc Thanh thực lục (1).

Mùa thu năm 1788 khi Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị nhận lệnh từ vua Càn Long, truyền hịch chuẩn bị xâm lăng nước ta, thì Phan Khải Ðức, viên trấn thủ Lạng Sơn của nhà Tây Sơn đầu hàng giặc; đám công nhân người Hoa làm việc tại các xưởng mỏ thuộc vùng thượng du Bắc Việt mà sử Trung Quốc gọi là “xưởng dân 廠 民” cũng nổi lên, sẵn sàng làm đạo quân tiên phong:

Ngày 28 Tháng 8 Năm Càn Long Thứ 53 (26.9.1788)

Lại dụ: Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống) đến Sơn Nam chiêu tập nghĩa binh nhưng bị giặc bức bách, chỉ còn một vài người tuỳ tùng, cùng chạy vào núi trốn tránh. Xem ra y là người không có khả năng, khó trông cậy có thể chấn tác khôi phục được. Hiện tại Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thấy Tôn Sĩ Nghị phát hịch văn, nên sợ sệt trốn tránh. Phan Khải Đức (2) vốn là tâm phúc của Nguyễn Huệ, nhận được hịch văn cũng biết bỏ nghịch theo thuận. Tên này đã được lệnh của Tôn Sĩ Nghị cho thu thập binh mã của 7 châu, cùng xưởng dân lập tức tiến phát, chắc sẽ đến thành nhà Lê không đến nỗi khó khăn. Viên Tự tôn (Lê Chiêu Thống) hiện ở tại địa phương phía đông, Tôn Sĩ Nghị đã mộ dân bản xứ đi trước để thám thính, khi các Trấn Mục phía đông nhận được mật trát của Tôn Sĩ Nghị sẽ hộ tống Tự tôn trở về … (Cao Tông Thực Lục quyển 1311, trang 689-690) (3)

Theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú, mục Quốc Dụng Chí (4), thì các xưởng khai mỏ tại nước ta phần nhiều thuộc 4 tỉnh biên giới phía bắc Tuyên Quang (Tuyên Quang, Hà Giang, Lao Cai), Hưng Hóa (Lai Châu, Ðiện Biên, Sơn La), Thái Nguyên, Lạng Sơn:

Tuyên Quang: Xưởng đồng Tụ Long, xưởng bạc Nam Xương là Long Sinh.
Hưng Hoá: Xưởng đồng Trình Lạn và Ngọc Uyển.
Thái Nguyên: Xưởng đồng Sàng Mộc, Yên Hân, Liêm Tuyền, Tống Tinh và Vụ Nông, xưởng vàng Kim Mã và Tam Lộng, xưởng chì Côn Minh.
Lạng Sơn: Xưởng đồng Hoài Viễn.

Xưởng dân đã nhiều lần gây sự lôi thôi tại các tỉnh gần biên giới, nên vào thời Lê Dụ Tông năm thứ 13 (1717) triều đình quy định hạn chế mỗi xưởng mỏ không quá 300 người:

Tháng 12. Định thể lệ hạn chế số người làm ở trường khai mỏ tại các trấn.

Lúc ấy, các mỏ vàng, bạc, đồng, thiếc ở các trấn phần nhiều mộ người nhà Thanh khai quật để lấy, phu mỏ quần tụ mỗi ngày một nhiều. Triều đình e rằng sẽ sinh sự biến động, bèn định thể lệ số phu mỗi mỏ, nhiều nhất 300 người, thứ đến 200 người và ít là 100 người, không mỏ nào được dùng quá số đã định. Từ đấy, số phu làm ở trường xưởng khai mỏ mới có hạn chế. (5)

Tuy nhiên dưới thời Lê mạt, nội bộ nước ta có sự tranh chấp gay go giữa vua Lê, chúa Trịnh, rồi đến nhà Tây Sơn; nên không rảnh để kiểm soát số lượng xưởng dân tại các hầm mỏ, bởi vậy con số tăng lên nhiều. Thanh Thực Lục không cho biết đích xác số lượng xưởng dân được nhà Thanh huy động đến xâm lăng nước ta là bao nhiêu; tuy nhiên trong văn bản dưới đây cho biết Tuần vũ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh định cấp cho xưởng dân 3, 4 vạn thạch gạo. Hãy làm phép tính với con số nhỏ 3 vạn thạch, 1 thạch bằng 100 lít, 1 lít gạo bằng 0.8 kg; như vậy tổng số sẽ bằng 2.400.000 kg hay 2.400 tấn. Ðây là một số lượng lớn, cần đến dăm vạn người mới khiêng nổi:

Ngày 13 Tháng 10 Năm Càn Long Thứ 53 (10.11.1788 )

Theo lời tâu: Tôn Vĩnh Thanh đã ban hịch tại Tầm Châu, Ngô Châu, Liễu Châu vùng phụ cận phủ Thái Bình; cùng vận chuyển 3 vạn thạch gạo đến các vùng Ninh Minh, Thái Bình, Long Châu để tồn trữ, chờ ngày ban cấp. Lại gặp Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị bàn bạc thêm, định thưởng ba, bốn vạn thạch gạo cho xưởng dân trong trại, số này sẽ tiếp tục chuyển đến… (Cao Tông Thực Lục, quyển 1314, trang 759)

Tuy nhiên lực lượng xưởng dân vốn từ nhiều xưởng mỏ họp lại, nên không tránh khỏi tình trạng ô hợp. Tôn Sĩ Nghị hiểu điều này, nên chọn một người có uy tín trong đám này tên là Lâm Tế Thanh, cho làm Thống lãnh; cấp cho y mũ đỉnh đái (6) và ban phẩm hàm Tri huyện, nên y tỏ ra đắc lực. Lực lượng xưởng dân do Lâm Tế Thanh chỉ huy, cùng quân đầu hàng của Phan Khải Ðức được điều đi trước, hướng đến thành Thăng Long:

Ngày 12 tháng 9 năm Càn Long thứ 53 (10.10.1788)

Lại dụ: Bọn xưởng dân nhận được hịch dụ của Tôn Sĩ Nghị, lại nghe tin được ban cấp lương thực nên hân hoan tình nguyện đi trước đánh giặc. Viên Tổng đốc lo rằng xưởng dân rời rạc, không có người thống lãnh, còn bọn Nguyễn Huy Túc thì sợ sệt lưỡng lự không dám ra khỏi quan ải; chúng đều thuộc loại thiếu khả năng, nếu ra lệnh đi trước cũng không được ích gì. Hỏi han đám tuỳ tùng thì dưới trướng có tên Lâm Tế Thanh, ở trong tổ chức xưởng dân cả năm, mọi người đều phục, giao chức thống lãnh diệt giặc có thể tận tâm phục vụ. Lâm Tế Thanh nghe tin được bổ nhiệm từ viên Thông phán Trần Tùng nên hết sức cố gắng; lại được viên Tổng đốc cấp ấn tín, thưởng hàm Tri huyện, nếu tương lai công việc thành công sẽ được bổ dụng thực thụ. Lâm Tế Thanh chủ trì mọi việc trong tổ chức xưởng dân đã lâu, nay lại được thưởng hàm Tri huyện; mọi người trong tổ chức này thấy Thiên triều chiếu cố thêm cho y, lại gia ân cấp mũ Đỉnh Đái, nên ai cũng phục tùng, hô ứng càng linh nghiệm, thêm đắc lực trong việc diệt giặc. Đến nay xưởng dân theo Lâm Tế Thanh hăng hái khởi hành, còn Phan Khải Đức đốc suất quân lính của 7 châu cũng được Tôn Sĩ Nghị ra lệnh tiến phát… (Cao Tông Thực Lục quyển 1312 trang 710)

Ðọc sử, chúng ta đều biết đại quân của Tôn Sĩ Nghị chỉ được phép làm “khách ngủ trọ” tại thành Thăng Long trong vòng một tháng trời, chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) của vua Quang Trung đã trừng phạt chúng; số phận của xưởng dân cũng nằm chung với tập thể quân Thanh. Tuy nhiên có một số xưởng dân sống sót trở về, còn tiếc rẻ thời vàng son làm dân khai mỏ, nên xui giục quân Thanh trở lại phục thù. Riêng vua Càn Long, người nắm vận mệnh nước lớn lúc bấy giờ, có một cái nhìn thực tế hơn về tình hình:

“… Xứ này thuỷ thổ ác liệt không thể ở lâu, dân tình lại trí trá phản phúc vô thường; đời trước đã chia đất này thành quận huyện, rồi không bao lâu lại xảy ra biến cố, lấy bánh xe trước đổ để làm răn, thực khó giữ được vài chục năm mà không gây ra việc…” (7)

Nên nhà vua đã quyết liệt bác bỏ ý kiến của xưởng dân. Nhắm hạ uy thế của bọn này, để không còn cản trở ý định của nhà vua sẽ hòa hoãn với vua Quang Trung trong tương lai, vua Càn Long mạnh mẽ hài tội xưởng dân rằng bọn chúng vốn là những người có tội bỏ nước ra đi và đã không lập được thành tích nổi bật trong thời gian đánh phá nước ta:

Ngày 1 Tháng 3 Năm Càn Long Thứ 54 (27.3.1789)

Dụ các Quân Cơ Đại thần: Trước đây đại binh xuất quân, viên Thổ tù Điền Châu Sầm Nghi Đống mang lính Thổ tiến tiễu, rất gắng sức. Đến lúc bị giặc bao vây, còn sai người mang ấn tín trở về, rồi xông pha đánh giặc bị trận vong, thực đáng thương xót. Viên này có con trai không, Phúc Khang An điều tra rõ rồi tâu lên để được ưu ái thưởng tuất. Viên này mang binh đi theo Tôn Sĩ Nghị vào thời điểm nào? Quân lính của y trở về quan ải có đầy đủ không? Phúc Khang An phải điều tra rõ rồi tâu lên.

Viên Di quan Phan Khải Đức không chịu theo quân giặc, từng làm hướng đạo cho đại binh, nay lại mang cả gia quyến vào quan ải. Bọn Nguyễn Đình Phái 5 người, tuy công sức không thể so sánh với Phan Khải Đức được, nhưng họ cũng không chịu theo giặc, tình nguyện làm dân nội địa, tình cũng đáng thương. Phan Khải Đức đáng được thưởng mũ đỉnh đái và lục dụng. Bọn Nguyễn Đình Phái cần được cấp lương ăn, an sáp một cách ổn thỏa, để khỏi bị mất nơi nương tựa. Những quan binh chưa trở về, nếu thực sự trận vong, Phúc Khang An phải điều tra minh bạch, rồi gửi hồ sơ lên bộ để được cấp tiền tử tuất.

Còn như bọn xưởng dân trước kia trốn ra khỏi nước không xin phép, vốn là người có tội, nhưng vì tình nguyện đi đánh giặc nên được tha. Khi đại binh đi đánh, bọn xưởng dân chỉ đi theo đám đông, chưa thấy đoạt được thành tích nào nổi bật. Nay công việc tại An Nam có nên đánh hay không do ta quyết định, chẳng vì bọn xưởng dân tình nguyện đánh giặc, rồi các ngươi có hành động thiếu suy nghĩ. Tuy nhiên bọn xưởng dân đã từng theo quan binh đánh trận, nay lại không chịu theo Nguyễn Huệ, không nỡ để chúng bị sát hại, vậy nên liệu biện cách nào cho ổn thoả.

Các quan binh vừa mới trở về quan ải, bị bức bách bởi thế giặc quá đông, nên phải lâm vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, trong đó có những người đánh trận bị thương, nên ước lượng để ban thưởng. Hôm qua nhân bàn về những quan binh từ thành nhà Lê chưa được tống xuất, số này theo Hứa Thế Hanh thâm nhập, bị giặc lưu giữ; đã giáng chỉ rằng khi bọn này được tống xuất, cho trở về quân ngũ, được thưởng cấp một tháng lương. Tôn Sĩ Nghị tâu, tất cả các quan binh trở về có hoặc không được gia thưởng? Ra lệnh Phúc Khang An xét tình hình để phân biệt đối xử.

Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi khắc phục thành nhà Lê, không tuân theo chiếu chỉ cho cấp tốc triệt binh, lại sơ suất trong việc đề phòng, nên biến cố bất ngờ xảy ra, sự sai lầm này không bào chữa được; chỉ nên gia tăng cố gắng, phụ giúp Phúc Khang An liệu biện ổn thoả, để chuộc lỗi lầm trong quá khứ. (Cao Tông Thực Lục quyển 1324, trang 919-920) (8)

(1) Hồ Bạch Thảo, bản dịch Thanh Thực Lục. Hà Nội: NXB Hà Nội, 2007.

(2) Phan Khải Đức người xã An Ấp, huyện Hương Sơn, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh; là Trấn thủ đất Lạng Sơn của nhà Tây Sơn, đã đầu hàng nhà Thanh.

(3) Thanh Thực Lục, sđd, trang 18.

(4) Dẫn theo Khâm Ðịnh Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục,1998, tập 2, trang 410.

(5) Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương mục, sđd, trang 410.

(6) Mũ đỉnh đái: loại mũ thuộc đời nhà Thanh, có tua trên chóp, dùng để ban cho người có công.

(7) Thanh Thực Lục, sđd, trang 108-109.

(8) Thanh Thực Lục, sđd, trang 93-95

 

Nguồn:

http:..anonymouse.ru:8000.cgi-bin.nph-proxy2.cgi.010110A.uggc:.=2fjjj.qvraqna.bet.cur-ovau-atuvra-phh.gehat-dhbp-111n-ghat-fh-qhat-gub-zb-gebat-ivrp-knz-ynat-ahbp-gn.

 

– NHỚ SƠN NAM

ĐOÀN NAM SINH

SON NAMHồi còn nhỏ, thập kỷ sáu mươi về trước, trong làng ấp xa xăm tôi đã được đọc những bài viết của chú trên tờ Hương Quê, giấy báo trắng láng với màu mè, hình vẽ minh họa rất đẹp. Mẩu chuyện mà tôi nhớ đời là bà con xứ Nam kỳ đã lập thế nhử vịt câu sấu như thế nào, với giọng văn giản dị, tưng tửng. Ba tôi, người cũng từng dầu dãi sông nước giải thích chuyện trẻ nhỏ nghịch ý với cha mẹ thì thường bị quở là “đem câu sấu cho rồi”, tụi nhỏ tôi sợ lắm.

Ông cậu vợ tôi sau này, ngày còn nhỏ nhà ngoại khá giả cho đi học trên Nam- vang, chắc có Pri-me rồi về Rạch giá đi dạy học. Đổi vùng khắp chốn đến sau khởi nghĩa mới biết là đi theo cộng sản từ thời ông Giàu gây dựng đâu bên Xiêm bên Lèo. Cậu làm chủ tịch một xã ở Gò Quao, mà cái bằng “đẹp trai” không dấu được. Ở đâu chị em cũng bu theo. Cậu có lần kể “tao đi công tác với hai cô, mùa nước nổi chun nóp ngủ trên chòi gò, lần quần rồi tao quất cả hai”. Không biết có phải vì đào hoa, lăng nhăng hay sao đó cậu ở lại, không tập kết. Rồi tù tội liên miên. Có lần cậu nói “thằng cha này là Minh Tài, nó viết văn hay lắm, ham đi xuống thực tế, rồi ham viết, chẳng kể gì giờ giấc, chưng dọn. Người hổng biết nói chả ở dơ, lúc 9 năm chả hay về đây, tiếng Tây chỉ có mấy người biết, đủ để nói thầm, chả thân cậu lắm!”. Sau này tôi kể lại với chú cậu Trần kỳ Ứng dưới Gò Quao hỏi thăm, chú nói chuyện “hồi đó ai cũng yêu nước, đánh Tây đặng giành độc lập. Có mấy người biết chữ đâu. Lớp đó là người theo đạo Thiên chúa cũng vào Đảng, làm lãnh đạo Việt minh. Khi định biên lại khoảng năm 53, làm theo kiểu mấy anh Tàu nên nhiều người chán nản…”.

Lớn lên trong thời chiến, lại lo chuyện học hành, chuyện kiếm hiệp.võ hiệp kỳ tình tràn lan rồi phong trào hip-pi, phản chiến đến triết lý hiện sinh hiện tồn,…Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng, đảo chính, tăng quân, leo thang đánh phá,…Làng quê ứng phó bằng tích trữ khô muối, dầu đèn, trảng-sê hầm hào trước bom sai đạn lạc; phố chợ lung lay trước bao cuộc biểu tình, đình công bãi thị, học sinh bãi khóa, chống đàn áp Phật giáo rồi chống hiến chương Vũng Tàu, đả đảo Nguyễn Khánh bán nước, đả đảo Thiệu-Kỳ-Có,…khiến tụi nhỏ tôi chẳng còn thời gian và lòng dạ nào dòm đến văn học miền Nam nữa.

Sau 68, anh em tan tác người một ngã. Ngọn lửa tàn độc tràn qua thôn ấp ngày một hung tợn, ác liệt. Làn sóng tỵ nạn chiến tranh lan ra, người dân tản cư chạy vào khu dồn, lớp trẻ chúng tôi về Sài gòn. Mấy năm sau tôi thấy chú trong phong trào chống chế độ kiểm duyệt  báo chí của Sở Phối hợp Nghệ thuật, tổ chức biểu tình với khẩu hiệu “Ký giả đi ăn mày”, nhưng mỗi người một việc.

Bẵng đi có chục năm liền, cũng vì mưu sinh chen chúc, tuy không xa nhưng khó dịp hàn huyên. Có lần gặp nhau tôi hỏi nghe chuyện vợ con chú sao đó, chú Sơn Nam buồn buồn- “mình viết văn mà không hay thì ai đọc, làm sao sống? Mà lo chuyện viết lách thì bỏ bê, vợ con mấy người thông cảm”…Tới 97, đợt 300 năm Sài gòn chú nhờ tôi tiếp mấy chuyện vặt. Lúc này chú thuê nhà ở Phan văn Trị, một cái buồng dài và hẹp, bốn bề nước đái khai um. Cũng chỉ cái máy Olivetti gõ cọc cạch và bộn bề sách vở xếp chung quanh lan cả lên chiếc giường tám tấc. Gần đến ngày trả tiền nhà chú lúng túng, xốn xang cùng nổi lo trễ nãi bà chủ phiền.

Chú Sơn Nam lúc này đã thấy già, nói chuyện vẫn bông lơn nhưng có phần cam chịu. Có bữa được ít tiền nhuận bút, “chú em chở dùm qua đi gửi cho thằng con, nó khổ lắm”. Lần khác thì “thằng con dưới Mỹ Tho hẹn lên xin mấy trăm về lo chuyện nhà”.

Mấy lần chú xuất hiện trên phim, và khi đi ra quê Bắc tế cụ Nguyễn hữu Cảnh, với bộ nam phục lụa màu xanh thấy ngồ ngộ, khác xa với “ông già đi bộ” thường ngày, lưng chú đã hơi còng rồi.

Vài năm sau nữa, tôi nhớ bữa đưa tang Bùi Giáng ở Gò Dưa, sau bài ai điếu của Cung Văn là điếu văn của Hội Nhà Văn thành phố. Chú moi ra bài viết sẵn trên túi áo vét xanh nhầu nhỉ, sửa lại đôi kính cũng rầu rĩ như ông chủ và chú run run nói: “Anh Giáng ơi! Sáng nay anh NQS nói với tui anh là lớp trước, lại ở trong này, cũng ít dịp gần gũi. Anh đại diện cho Hội đọc dùm điếu văn này. Dậy đây là phần của Hội nghe anh Giáng…Tui đọc dậy là xong rồi, còn đây là của tui. Anh Giáng ơi! Sinh thời anh ăn mặc xốc xếch, áo trong dài hơn áo ngoài,…nhưng văn thơ của anh ngay ngắn đường hoàng. Anh có nề gì cháo chợ cơm hàng, cả cơm thừa canh cặn, nhưng câu chữ anh xài sạch sẽ, ý tứ sáng trong. Cả đời anh lang thang khi chùa khi chợ có cố định đâu đâu, mà bữa nay đưa anh đi có quân canh lính gác, có vòng hoa của Thành ủy- Ủy Ban, có Hội Nhà văn, dậy là anh có hộ khẩu Sài gòn rồi đó nghe anh Giáng!…”.

Có lần hội thảo khoa học về cụ Trương Vĩnh Ký, như những lần hội thảo danh nhân Nam bộ khác, chú đã đọc tham luận. Không phải về những công trình bác học, đồ sộ hoặc luận về công.tội, chú nói đến chuyện sau cùng cụ TVK đã dành thời gian viết chuyện cho con nít đọc, “mà viết chuyện hay con nít tìm đọc là khó lắm đó nghe”.

Lúc Bé Tư mới ra cuốn Cánh đồng bất tận, một ông lão nghe chuyện hỏi tôi NQS ủng hộ lắm hả, cháu có không? Tui nghe chú Sơn Nam có bản photo. Mà lúc này ổng về ở dưới Lăng Ông rồi. Chở chú lại thăm giả chút. Hai người lớn nói chuyện văn chương, tôi mãi mê đọc báo. Chỉ nghe thoáng khúc cuối chú Sơn Nam nói “nó muốn đặt tên cho đứa nhỏ là Hiền, Lành gì đó chứ không Thù, Hận,…nghĩ lại không biết tụi mình là con hoang của vụ hiếp dâm nào?” Tôi xin phép hai ông chú ra về trước.

Tự nhiên mấy năm gần cuối đời hai dái tai của chú dày ra, rộng hơn phát đỏ hồng, anh em mừng. Thì cũng có chuyện hợp đồng bán được tác quyền, sách được in lại đẹp đẽ, chú cũng mừng. Nhưng thường bữa, trừ đợt bịnh nặng, chú vẫn đến thư viện Gò vấp cạnh cầu Hang tìm sách đọc, viết và nhờ mấy cháu đánh máy lại. Rủng rỉnh thì mời mấy cô bé đi ăn trưa, cơm dĩa. Sáng sáng lại ngồi cà phê đen xéo phía kia đường.

Khúc cuối cùng cuộc đời, do có chuyện bình chọn để lãnh giải thưởng gì đó ngoài trung ương mới có chuyện “…Sơn Nam không được, vì nhờ biết tiếng Tây, đọc các bài viết cũ rồi viết lại chứ không có công trình gì…”. Từ hồi chữ quốc ngữ thịnh lên tới giờ, có biết bao nhà văn đọc rồi phóng tác; có bao người đọc để biết mà tránh viết giống người trước? Tôi thì biết rõ là chú Sơn Nam không đạo văn như cái án oan kiểu gây dư luận đó.

Lại rủi cho chú khi đi đường bị xe của bọn trẻ chạy vong mạng làm gãy chân, chú chỉ nói buồn “tụi nhỏ chúc thọ ông già kiểu này ngặt quá!”.

Mới đó mà chú đã đi xa một năm rồi, ngày đưa tang chú tôi từ Gia lai về, mệt quá ngủ quên, khi anh em nhắc thì đã xong mọi việc. Tiếc và buồn! Thôi, đêm nay tôi nhớ chú, ngồi viết gọn mấy dòng dâu bể.

 

 ĐOÀN NAM SINH

Bình dương, 10.08.09

 

– Quê Mẹ

Tưởng năng Tiến

 

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Ca dao

 

Tôi sinh trưởng ở thành thị nên không hình dung được cái “ngõ sau” (nơi có thể đứng “ngó về quê mẹ”) hình dạng ra sao. Tôi cũng không hiểu tại sao, đang sống ở nơi này, lại cứ trông ngóng về nơi khác (làm chi) để bị “ruột đau chín chiều” dữ vậy!

Chiều chiều, thay vì “ngó về quê mẹ,” tôi vô quán nhậu, lai rai ba sợi cho nó quên đời. Thỉnh thoảng, hết tiền, tôi mới ngó vô màn hình của computer chút xíu.

Và cứ mười lần vô net là lãnh đủ cả mười. Cũng cả đống chuyện phiền ở trỏng chớ chả chơi đâu. Tuy ruột không đau tới cỡ “chín chiều” nhưng rẻ ra thì cũng tám hay tám rưỡi.

Cách đây chưa lâu, vào ngày 26 tháng 6 năm 2009, trên vietnamnet có đăng mấy bức thư của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều – “về hiện thực cần báo động trong đời sống của những người nông dân” – xin được trích dẫn (vài câu) đọc chơi cho biết:

“54 năm qua, những người nông dân không một ngày ngừng cày cuốc, gieo trồng với tất cả những đức tính cần cù trên cánh đồng của họ. Họ đã lao động không hề than thở, họ đã hy sinh không hề than thở. Nhưng sau 54 năm, họ ngẩng đầu lên nhìn lại con đường của họ đã đi. Và họ kinh hãi nhận ra: họ đã đang đi theo một vòng tròn. Họ đang có nguy cơ trở lại điểm xuất phát… Tôi mang cảm giác người nông dân bị bỏ mặc và trở nên bơ vơ trên cánh đồng đầy nắng mưa, bão gió.”

Ối làng nước ơi, nếu được “bỏ mặc trên những cánh đồng đầy nắng mưa” để “cần cù cầy cuốc gieo trồng” thì may mắn và quí hoá biết chừng nào. Từ thưở lập quốc đến nay, người nông dân Việt Nam có bao giờ dám than thở hay mong mỏi điều gì khác nữa đâu.

Chỉ sợ lại bị bắt xỉa xói đấu đá lẫn nhau cho đến chết, hay vào hợp tác xã nông nghiệp (thay trời làm mưa, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài) rồi nay phải trồng lúa thần kỳ, mai trồng cây cao lương … – những nông phẩm mà sản lượng chỉ thu hoạch được … trên báo Nhân Dân – thì lôi thôi lắm, và lôi thôi lớn.

Hơn nữa, vấn đề không chỉ giới hạn trong cái vòng tròn của đám nông dân Việt Nam mà còn tùy thuộc vào một cái vòng (chung) liên quan đến cả bàn dân thiên hạ nữa:

“Tôi hình dung ra một cảnh tượng như sau: Cả đoàn người đang đi trên một con đường lớn gập ghềnh thì một tốp người tách ra, đi quay trở lại, vào rừng tìm hướng đi mới, vì nghe nói phía ấy có “rừng mơ” bạt ngàn. Tốp này tuyên bố ly khai thành một “phe” riêng, thách thức “Ai thắng ai” vì tin rằng mình có sứ mệnh phá con đường cũ để mọi người phải giác ngộ mà đi cả về phía “rừng mơ”. Nhưng đường mới càng đi càng mờ mịt, càng đi về miền hoang vu. Biết mình lầm đường, những người da trắng trong “tốp ly khai” này bảo nhau làm động tác “Đằng sau, quay!” để trở lại đường cũ, và đương nhiên phải chấp nhận sự “xáo trộn” là người đi đầu trở thành người đi cuối.”

Nhóm da vàng của “tốp ly khai” không chấp nhận sự “xáo trộn” ấy, ban lãnh đạo nhóm nghĩ ra một kế: Cứ coi như đường vẫn đúng, phải giữ hàng ngũ và tiếp tục đi “thẳng”, nhưng mỗi ngày lượn cong thêm một chút, cuối cùng quỹ đạo vẫn thành vòng tròn, vẫn trở về đường cũ mà không cần “Đằng sau, quay!” Tóm lại, “Phương thức đổi mới kiểu châu Á” là ý muốn trở về với quy luật mà nội bộ vẫn giữ nguyên trật tự cũ, người dẫn đường trên đoạn đường đúng vẫn là người dẫn đường trên đoạn đường sai” (Đôi điều suy nghĩ của một công dân).

Những dòng chữ thượng dẫn được viết bởi ông Nguyễn Xuân Tụ, vào tháng 5 năm 1993. Gần hai mươi năm đã trôi qua, thời gian trải nghiệm cho thấy “đôi điều suy nghĩ” của vị sĩ phu Bắc Hà này (hoàn toàn và rõ ràng) không trật!

Những kẻ đã dẫn dắt cả dân tộc Việt bước vào tuyệt lộ nay vẫn là “kẻ dẫn đường,” và vẫn cương quyết giữ địa vị này bằng mọi giá. Như thế, nửa thế kỷ tới, nông dân Việt Nam “dám” tiếp tục đi thêm… một vòng tròn nữa và sẽ “có nguy cơ trở lại điểm xuất phát” – theo như cách nói của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Và dù như thế chăng nữa, tôi trộm nghĩ, cũng vẫn còn… may mắn chán!

Sự thể (e) không được thế đâu. Cả nước, xem chừng, đang trên đường bước vào một vòng tròn lớn hơn, và phức tạp hơn nhiều: vòng Bắc thuộc! Theo nguyên văn lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (trong cuộc họp báo vào chiều ngày 4 tháng 2 năm 2009) “đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước!”

Chủ trương (khó hiểu) này, cùng với thái độ khiếp nhược của Đảng và nhà Nước trước những sự việc xẩy ra ở biển Đông, khiến cho toàn dân bỗng … nóng như hơ . Thư ngỏ, Đề nghị, Kiến nghị … được ký tên lia lịa và gửi đi tới tấp – với cùng một nội dung, y hệt như nhau: STOP it!

Cùng lúc, cũng không thiếu tiếng nhiếc móc hay thoá mạ:

“Nhà báo Ngô Nhân Dụng, trên nhật báo Người Việt ở California, sau khi so sánh với cách hành xử của các nước trong khu vực trong những trường hợp tương tự, đã đi đến kết luận: thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam là hèn yếu. Nhà báo Huy Đức, hiện sống trong nước, trên Osin blog của anh, bày tỏ quan điểm của mình ngay trên nhan đề bài viết “Tàu thì lạ sự hèn hạ thì quen“. Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, sống tại Úc nhưng có nhiều quan hệ gần gũi với Việt Nam, nhận định thẳng thừng: “Chưa thấy trong lịch sử Việt Nam, có thời nào mà Việt Nam khiếp nhược như thế.”

“Từ ba vị thế khác nhau với những lập trường chính trị có khi khác hẳn nhau, cả Ngô Nhân Dụng, Huy Đức và Nguyễn Văn Tuấn đều có nhận định giống nhau về giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay: Hèn! Hình như chưa bao giờ trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, lại đồng ý với nhau như thế! Hình như mọi người đều đồng thanh: Giới lãnh đạo Việt Nam hèn!” (Nguyễn Hưng Quốc, “Sao tự dưng họ lại đâm hèn đến vậy?“).

Tôi thực lòng không muốn đụng chuyện với ông Nguyễn Hưng Quốc, nhân vật mà  ai cũng biết là một tay miệng lưỡi (vô cùng) đáo để. Tuy vậy, vì tôi nghĩ khác nên đành phải nói khác thôi. Theo tôi thì chưa bao giờ giới trí thức Việt Nam, trong và ngoài nước, lại thiếu kiên nhẫn và thiếu thông cảm với tình trạng khó khăn chung của Đảng (ta) như thế.

Đây là chuyện “lực bất tòng tâm,” chứ có cái Đảng (thổ tả) nào mà lại có chủ trương xấu xa và ngu xuẩn đến vậy – mấy cha? Coi: hồi tháng 6 năm 1992, ông Lê Phước Thọ (một trong mười ba vị ủy viên chính thức của BCHTƯĐCSVN khoá VII) đã nói rằng: “Đảng ta đang suy yếu nghiêm trọng và chưa bao giờ suy yếu như hiện nay.”

Bây giờ là tháng 8 năm 2009. Giai đoạn “suy yếu nghiêm trọng” đã qua. Đảng (ta) đã bước vào thời kỳ cuối, hết thuốc chữa rồi. Nói theo nguyên văn Lời bộc bạch Của một đảng viên (đọc được vào ngày 2 tháng 5 năm 2009) là “Đảng đang đi vào ngõ cụt!” Điều duy nhất Đảng còn có thể làm được là trấn áp những thường dân vô tội mà thôi.

Còn mọi vấn đề khác, vẫn theo như lời bộc bạch thượng dẫn, “không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi.” Nói cách khác, “họ” đang như những kẻ hối hả trên một chuyến tầu (vét) tốc hành. Bây giờ mà còn đặt vấn để tồn vong của dân tộc ra với Đảng là (kể như) trật lất.

“Chân lý muôn đời là chỉ có Dân mới cứu được nước.”  Đó là ý của ông Hà Sĩ Phu, qua bài viết  Từ vụ Beauxite nghĩ về vận nước, đọc được vào ngày 26 tháng 7 năm 2009. Hai ngày trước đó, tại buổi Toạ đàm Khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam, nhà văn Nguyên Ngọc cũng nói đến “sức mạnh của nhân dân” như là yếu tố quan trọng nhất trước hiểm hoạ ngoại xâm.

Hai vị trí thức có tâm và có tầm nhất nước đều đã nói như thế thì bà nội (mẹ) tui cũng không dám cãi cọ lôi thôi gì nữa, làm bộ cãi vã (qua loa) cho vui cửa vui nhà cũng không luôn. Tôi chỉ xin qúi vị, bỏ chút thì giờ vàng ngọc, nhìn qua về sức dân một tí.

Trong bức thứ hai của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (viết về Tổng thu nhập một tháng của người nông dân) có đoạn như sau:

“Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: “ Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …”

“40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê…”

Sức dân từ hai bát phở hay hai xuất cơm trưa (mỗi tháng) e không mạnh gì cho lắm. Dù vậy, người dân ở miền xuôi vẫn khỏe hơn là những kẻ ở Tây Nguyên (địa điểm chiến lược của cả Đông Dương) đang sống bằng lá mì hay Mưu sinh trên rác – theo như tường thuật của Hoài Văn và K” Sor, đọc được trên Tiền Phong Online, vào ngày 17 tháng 7 năm 2009:

“Bảy chị em PleiMlong bới rác ở đây được năm năm. Bố mẹ là  người dân tộc Gia Jai, làm thuê nhưng không đủ nuôi chín miệng ăn. Đứa em út của em hai tuổi nhưng để ở nhà cũng chẳng có ai chăm nên đưa nó theo kiếm thêm được cái gì hay cái đó.”- MLong tâm sự.”

“Rim mới học lớp một, nhưng nhà nghèo không có tiền nộp học lại không có sách vở nên cũng theo bạn lên đây nhặt rác. Rim khoe: “Đi nhặt rác như ri nhiều lúc còn thích hơn đi học. Có tiền mua gạo khỏi phải ăn lá mì..”

Sau hai cuộc kháng chiến rất thần thánh (dù sự cần thiết vẫn còn là chuyện tồn nghi) và sau hơn một phần tư thế kỷ sống bằng rác hay bằng ba ly cà phê (mỗi tháng) sức mạnh của toàn dân (chắc) không có bao nhiêu đâu.

Trước hiểm hoạ đất nước bị thôn tính mà tôi ăn nói yếu xìu như thế (rõ ràng) nghe không “nức” lòng người. Tôi ước ao là mình có thể nói khác đi mà không biết nói sao.  Tôi cũng ước ao, từ nay – chiều chiều – đừng cứ phải ngóng về quê mẹ, cũng đừng ngó vào computer làm chi (nữa) để ruột… đỡ đau – chút đỉnh.

Tưởng Năng Tiến

 

By daohieu Posted in Chưa phân loại

– Ký ức sơ sài 05

Nguyễn Khiêm

KỲ NĂM

 

Vào học SP, tôi sợ không rảnh nên xin nghỉ chỗ Hội Ngữ Học, chỉ giữ lại vài buổi tối dạy tiếng Việt cho một ông thiếu tá bác sĩ Mỹ ở Bệnh viện 3 dã chiến trong phi trường Tân sơn nhứt, tên Thomas Benton. Chiến tranh lúc này gần như đạt đỉnh điểm ác liệt, Sài gòn liên miên bị pháo kích, rạp hát, chợ búa thỉnh thoảng bị đánh chất nổ, xe lửa bị đặt mìn.

 

Chuyến xe lửa em đi trúng mìn bật tung như con sâu

Như con sâu nhỏ mọn trợt chân trên cuống lá trơn lùi

Vậy là em đã chết

Em đã chết em đã chết

Ngoài miền trung

Xứ sở những cây dừa phù thủy xõa tóc hú cuồng phong

Những bờ cát thau, những trái núi chì

Con đường sắt dài xương sống quê hương

Em đã chết lẽ nào em đã chết

Em nào có biết gì đâu

Vậy sao em lại chết

Chết trên xe lửa trúng mìn chết vô tình cho lịch sử (Tô Thùy Yên)

 

Tình hình chính trị cũng hỗn loạn không kém, việc nước được tháo khoán cho quân nhân, bọn tướng tá bất lương kết bè kéo cánh gây đảo chánh, chỉnh lý liên tục tranh giành quyền lực hệt những vở bi hài kịch có quá nhiều diễn viên hề lố bịch, lắm lúc xem như trò đùa. Thomas nói với tôi: “Đêm nào anh thấy máy bay trực thăng lên xuống nhiều trên phi trường thì khỏi đến dạy, họ chở lính Mỹ bị thương về, tôi bận mổ xẻ, tôi sẽ trả anh phân nửa số tiền hai giờ anh thực dạy”. Tôi nói: “Không sao, ông bắt buộc phài nghỉ, tôi thì đâu có dạy mà lấy tiền”. Ông vẫn nói: “không nên, phải… fair một chút, fair là gì anh?” Tôi nói: “Công bình”, “à, phải công bình một chút”. Từ đó, hễ thấy trực thăng lên xuống nhiều là …tôi khỏe! Có lần ông dẫn tôi vào phòng mổ xem ông làm việc, tôi cũng bận áo blouse màu xanh như ông, bữa đó vài người bị thương, nặng có, nhẹ có, đều Mỹ đen cả. Họ la khóc như trẻ con chứ không dũng cảm như lính tráng trong phim ảnh. Ngay từ những ngày đầu, ông đã than với tôi về sự vô ích của chiến tranh, đại khái ông nói dân tộc VN khá bất hạnh, nhiều ít cũng giống như cuộc nội chiến của Hoa Kỳ, ông không thấy lý do gì chính đáng để Mỹ phải trực tiếp tham chiến, ông luôn miệng mong chiến tranh sớm kết thúc…để đem cô vợ V N xinh đẹp về Mỹ.

Ông tỏ ra lo lắng vì chưa cưới được cô này. Cô là tiểu thư yểu điệu, ái nữ của một gia đình quí tộc gốc Huế, ông nói người VN trưởng giả còn “phân biệt chủng tộc” hơn Mỹ nữa, cha mẹ nàng cứ ngăn cản cuộc hôn nhân vì sợ thiên hạ đàm tiếu con gái mình là me Mỹ, một từ khá khinh miệt thời đó.

Miền Nam lúc này đã là một xã hội thực dụng, bấn loạn trước làn sóng nửa triệu quân Mỹ và đồng minh ập vào nhưng chuyện lấy Tây lấy Mỹ vẫn bị khinh thường chứ không đến như lấy Đài Loan, Đại Hàn trong thời CS vẫn được xem là vinh hạnh. Dân miền Nam gọi lính Mỹ là thằng,  sau này họ ngạc nhiên nghe dân Bắc gọi người Nga là ông Liên Xô, gọi các viên chức chính trị ngoại quốc là ngài. Chỉ gần đây, đi tập thể dục ngoài công viên, tôi mới nghe mấy ông cán bộ về hưu gọi bằng thằng Gorbachov. Tiếng Việt rối rắm chuyện đại từ nhân xưng, chuyện  phân chia từ loại, cấu trúc câu…chẳng giống ai khiến các nhà ngữ học không tiếc lời mắng mỏ nhau . Không mắng nhau là gì, có lần tôi nghe ông Cao Xuân Hạo bảo: “Chúng nó bắt chước văn phạm các nước Châu âu, mà bắt chước cũng không ra hồn, có hiểu ngữ pháp Việt nam là gì đâu anh, chúng nó đọc sách của tôi có hiểu gì đâu, chúng dốt lắm!”.

Chẳng là ông đến trường chúng tôi, chán nản thấy chúng tôi vẫn dạy thứ ngữ pháp ông hằng công kích, tôi không rõ “chúng nó” của ông là những ai nhưng chắc không thể không có mấy nhà giáo ưu tú, nhân dân gì đó chuyên soạn sách giáo khoa cho bọn tôi dạy, có khi cả những nhà ngữ học không theo kiểu của ông cũng nên. Ngược lại, có lần tôi được nghe nhà phê bình văn học tiếng tăm ĐT ca tụng các nhà ngữ học miền Bắc, đại khái ông nói sau Nhân Văn Giai Phẩm, trí thức xuất sắc của họ không làm văn nghệ được nên quay ra nghiên cứu ngữ pháp, đội ngũ đông đảo, rất uyên bác, chuyên ngành hẳn hoi chứ không mằn mò, tự phát . Ngành này miền Nam chỉ loe hoe, khá nhất là hai ông Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê nhưng không bài bản mấy.

Ông ĐT, ông Hạo đều là các bậc thức giả, nói vậy hay vậy, bọn thợ dạy chúng tôi chỉ răm rắp theo pháp lệnh sách giáo khoa, gặp lúc bị quay (chẳng hạn sao sách này nói mấy tiếng đó là cụm từ, sách kia bảo từ ghép, sách giáo khoa bảo chim chóc, cây cối , bạn bè là từ ghép trong khi tự điển bảo là từ láy…) chúng tôi chỉ còn biết nói các anh chị chỉ nên theo sách giáo khoa là đủ, đừng hỏi lôi thôi- làm như mấy cuốn ngữ pháp kia là của…bọn xấu.

Né dạy văn thơ Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa, dạy ngữ pháp tưởng khỏe nhưng vẫn bực mình vì đọc những dẫn chứng gượng gạo người viết đặt ra cho phù hợp với quy tắc đã phát biểu, trong khi “nhân dân” ít hoặc không nói như vậy; phải lo tránh xa những vấn đề rất thiết thực, nhiều khi nằm gác tay lên trán không khỏi không thấy bẽ bàng. Phải chi lương lậu nhiều nhặn gì cho cam. Làm người thật khó lắm thay! Nhớ người bạn Quảng nam – Nguyễn Công Thuần – viết mấy câu thơ vịnh Kiều trước khi bỏ dạy: Bán mình không để chuộc cha, nuôi thân không đủ đời hoa ê chề, suy đi tính lại mọi bề, trả quách son phấn trở về làng xưa

Nghe đâu về quê xưa cũng không xong vì chính quyền sở tại đố kỵ, anh trôi giạt vào Sài gòn làm công nhân của một công ty chế biến khô mực (cùng “nghề” với nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, người ta nói có lúc ông phụ trách phơi khô mực, bị kẻ gian ăn cắp hoài nên mất việc). Điều đáng ngạc nhiên là những vấn đề từ ngữ, ngữ pháp phức tạp còn tranh cãi vẫn được giảng dạy kỹ từ cấp tiểu học.

Trẻ con trên dưới 10 tuổi đã phải biết các khái niệm như từ ghép phân loại, từ ghép tổng hợp, từ láy âm láy vần, động từ làm định ngữ, bổ ngữ, câu đảo vị ngữ (cha đẻ kiểu nói “rất Tây” hằng ngày trên TV: “Hôm qua ờ Hà nội đã diễn ra lễ ký kết…”); câu đặc biệt (là những câu không thể phân được chủ ngữ – vị ngữ, tức hầu hết các câu tục ngữ phương ngôn, tức lời nói đầu môi của nhân dân – theo ông Cao Xuân Hạo – ông còn nói ngôn ngữ một dân tộc mà câu đặc biệt nhiều hơn câu bình thường thì quá… đặc biệt). Đây là một câu hỏi khá tiêu biểu trong một kỳ thi giỏi văn lớp 5: “Em tìm tiêu chí để phân loại các từ ghép sau đây thành nhóm, hãy đặt tên cho mỗi nhóm: bánh nếp, bánh ngọt, bánh gai, bánh rán, bánh nướng, bánh mặn*.

Dạy chu đáo vậy nhưng hình như người ta chỉ gặt hái được những hư hao. Học sinh vẫn viết câu sai, từ tiểu học tới đại học. Làm gì có chuyện càng học nhiều ngữ pháp càng viết sai, câu khô ran, cứng ngắc nhưng xem ra tình hình đúng như vậy mới quái lạ.

Tất nhiên một số ít vẫn viết đúng, viết hay nhờ…trời cho. Một thứ ngữ pháp dù uyên bác, chuyên nghiệp tới đâu khi đem ra giảng dạy chỉ đạt được kết quả ít oi, hoặc đáng ngạc nhiên hơn, một thứ effect ngược thì cũng là thứ ngữ pháp đáng ngờ. Còn chưa nói công trình nghiên cứu đồ sộ, công phu vậy mà không gây được chút ảnh hưởng nào trong xã hội lại càng quái lạ hơn. Cứ nghe cách nói tiếng Việt tùy tiện kinh hoàng hiện nay thì ai có từ tâm tới mấy cũng phải oán giận những kẻ có trách nhiệm về học thuật, giáo dục, ngôn từ của dân tộc.

Năm khi mười họa xem TV, thấy người ta đọc thì còn đỡ phần nào, nhưng khi buộc phải nói vói nhau thì bất cứ ai có học hành đôi chút cũng thấy tiếng Việt bị tàn phá, rơi vào hỗn loạn hơn lúc nào hết.

Cái gì mà các nhà chính trị từ cao tới thấp “phát biều chỉ đạo” lúc nào cũng chỉ có mấy “từ khoá” như nỗ lực, phấn đấu, bức xúc, hoàn thành, trăn trở, mạnh dạn…; câu thì chỉ hai ba “câu khoá” như “Không được để…, phải hoàn thành…phải đẩy mạnh….Xem ra nói đi nói lại chưa tới một trăm từ! Các MC, BTV, BLV thể thao… gần như những tấm gương soi cho cộng đồng về ngôn từ trên TV thì muốn nói kiều gì cũng được, cùng một tiếng khi đọc âm này, lúc đọc âm khác, nói sai bậy mà mặt mày đầy tự tin phát ghét. Có thứ tiếng Việt nào trong lịch sử mà nông dân chỉ cần nói: “Bưởi rất ngon nhưng đất hẹp, trồng không đủ bán”, đến phiên quan chức sẽ thành ra “Chất lượng bưởi rất là đạt nhưng diện tích nuôi trồng là không nhiều vì chưa có hướng phát triển đúng đắn nên khả năng tham gia thị trường là còn hạn chế”.

Tôi không thể tin vào thính giác già nua của mình khi nghe một ông đại uý công an giao thông thay vì chỉ cần nói “đụng xe ngoài ngã tư” thì thành: “Các phương tiện xung đột tại giao lộ”, phải chi ông mỉm cười một chút là tôi khoẻ vì nghĩ ông giỡn thôi. Báo chí thì chính thức từ lâu nói “tham gia giao thông”. Gì mà “tham gia” trời. Kinh hoàng nhất là BLV bóng đá. Nghề đó phải nói nhanh và càng gọn càng hay nhưng sao ngược lại mới lạ đời. “Anh ta chạy cực nhanh” thì bảo “Tốc độ chạy của anh ta là rất lớn”, “Anh ta có kỹ thuật khéo léo” thành ra “Anh ta đã sở hữu những phẩm chất kỹ thuật rất là tốt”, “Đội A thay người” thì lại nói: “Đội A có sự thay đổi người”. “Cú đánh đầu vừa rồi là của A” tức “A vừa đánh đầu”, lại “đánh đầu chiến thuật” tức chuyền banh bằng đầu. Chiến thuật ở đây là gì? Luôn luôn nói “Thời gian còn lại là không nhiều” trong khi chỉ cần nói” sắp hết giờ”. Sao người ta say mê từ “là” quá trớn trong khi từ này cấm kỵ trong tiếng Việt ngày trước, nhất là không được đặt trước tính từ làm vị ngữ, bổ ngữ vì nó thừa thải, dở tệ. Cũng không thiếu hài hước khi nghe các từ ngữ phát sinh theo nhu cầu bẻ quẹo tin tức như “nới rộng biên độ giá xăng” tức xăng tăng giá, “điều chỉnh chỉ số giá tiêu dùng” tức tăng vật giá, “khiếu kiện đông người” là biểu tình, “ngưng việc tập thể” là đình công, “nông dân có khó khăn” là nông dân điêu đứng, “chi tiền chưa đúng đối tượng” là ăn chặn tiền tết của người nghèo…

Những nhà học thuật, họ uyên thâm đáo để, sắc sảo mọi bề, chẳng hiểu vì cớ gì không nhìn lại đôi chút kết quả việc mình làm mà thay đổi chương trình, thay đổi não trạng trong việc trích tuyển tác phẩm, nội dung văn thơ trích giảng. Cái gì cũng chăm bẳm rằng chỉ văn học của phe ta là giá trị, đáng học, rồi ra chỉ thu hoạch một “mùa gặt trên hư không” mà thôi.

Lũ chúng tôi, suốt thời kỳ trung học, có học giờ ngữ pháp nào đâu, đó chỉ là những câu hỏi cho có vào cuối bài giảng văn, học sinh không kịp soạn thì thầy cũng không la rầy gì. Thế nhưng lên đến lớp 11, 12 chúng tôi chỉ mắc lỗi về ý tứ trong các bài nghị luận, hiếm khi thầy phàn nàn về lỗi từ ngữ, ngữ pháp. Không phải lúc đó trẻ con thông minh gì hơn bây giờ – dân tộc càng ngày càng khôn lanh hơn chứ – nhưng có lẽ nhờ chương trình chỉ chú ý dạy thứ tiếng Việt thực hành cốt rèn luyện cho trẻ em dùng từ ngữ đúng và viết trôi chảy các kiểu câu tiếng Việt thông qua các văn bản có giá trị thật về văn chương. Văn thơ thật sự có giá trị nghệ thuật, cái gì là tinh hoa của văn chương Việt nếu được trích dạy đúng lúc sẽ ở lại hoài trong tâm hồn trẻ, lời hay ý đẹp, mỗi ngày một ít, sẽ thấm dần trong các em, cách diễn đạt đặc trưng của ngôn ngữ dân tộc trong các áng văn thơ đó đâu khó khăn gì mà không gây được ảnh hưởng trên các em, rồi các em sẽ viết sáng sủa mà không cần phải học ngữ pháp quá nặng nề, vô bổ, mất thì giờ.

Chia ba nhóm từ ghép:

Danh từ + danh từ : bánh nếp, bánh gai

Danh từ + động từ : bánh rán, bánh nướng

Danh tứ + tính từ   : bánh ngọt, bánh mặn

– TỪ DÂN TRÍ ĐẾN DÂN KHÍ

(Ý nghĩa của bản Kiến nghị bauxite 12-4-2009)

Mai Thái Lĩnh

Dân trí là gì?

 

Trí 智 trong tiếng Hán-Việt có nghĩa là hiểu rõ sự lý, thông minh[1]. Khai dân trí thuờng được các học giả giải thích là mở mang sự hiểu biết của người dân. Giải nghĩa như thế tuy không sai, nhưng không thấu đáo. Cách giải thích phiến diện đó có thể làm cho người ta lầm tưởng chủ trương khai dân trí của Phong trào Duy tân hồi đầu thế kỷ XX chỉ nhằm phát triển giáo dục, truyền bá kiến thức để nâng cao trình độ học vấn hoặc trình độ khoa học-kỹ thuật cho người dân, hoặc nói rộng hơn nữa là làm thay đổi nếp sống văn hóa, vận động người dân xây dựng nền văn hóa mới.

Đành rằng trong con người của Phan Châu Trinh, ta có thể tìm thấy bóng dáng của một nhà giáo dục hoặc một nhà văn hóa. Ông đã từng tham gia giảng dạy tại Đông kinh Nghĩa thục và trong Phong trào Duy tân ở Quảng Nam, ông và các đồng chí đã cổ động đồng bào học chữ  quốc ngữ, cắt tóc ngắn, mặc âu phục, xây dựng đời sống văn hóa mới. Thế nhưng, nếu chỉ giới hạn công tác khai dân trí trong phạm vi của giáo dục hay văn hóa thì chúng ta không thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của phong trào đổi mới mà Phan Châu Trinh đã khởi xướng.

Trong Thư ngỏ gửi Toàn quyền Đông Dương (Đầu Pháp chính phủ thư), ông viết:

“Than ôi! Nước Nam bây giờ dân khí yếu hèn, dân trí thì mờ tối, ví với các nước châu Âu châu Á, cách xa không biết bao nhiêu dặm đường”[2].

Dân trí nước ta còn mờ tối, do đó trách nhiệm của các trí thức tiến bộ đương thời là phải làm sáng rõ trí tuệ của dân ta. Xét theo khía cạnh đó, khai trí phải được hiểu là mở cửa trí tuệ, khai dân trí là đưa dân trí từ chỗ tối đến chỗ sáng, là vạch ra con đường sáng trong cảnh tối tăm. Chữ khai trí có ý nghĩa tương tự chữ Enlightenment trong tiếng Anh dùng để chỉ Phong trào Khai sáng ở châu Âu trong các thế kỷ XVII, XVIII.

Cũng tương tự như Enlightenment, khai trí còn bao hàm một một ý nghĩa mạnh mẽ hơn. Theo cách nhìn của Phan Châu Trinh, kể từ đời Nhà Tần, Nho giáo ở Trung Quốc đã bị nhiễm cái nọc độc chuyên chế. Nọc độc chuyên chế biến triết lý Khổng Mạnh mang tính nhân bản, khai phóng trở thành Nho giáo mang tính giáo điều – một loại công cụ lợi hại để làm ngu dân. Nhà Lê sau khi giải phóng đất nước khỏi ách nô lệ của nhà Minh, đã du nhập hệ thống chính trị rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc, đồng thời đưa Nho giáo lên địa vị chính thống trong học thuật và giáo dục. Kể từ đó, tầng lớp trí thức Việt Nam thời trung cổ nghiên cứu học hỏi Nho giáo, say mê với những bài học đạo đức, triết lý nhân sinh hay vũ trụ quan rút ra từ Tứ thư và Ngũ kinh, nhưng lại quên mất một điều: xét về cốt lõi, Nho giáo là một ý thức hệ nhằm biện minh cho quyền lực tập trung của nhà vua, tư tưởng chính trị trung tâm của nó nhằm bảo vệ quân quyền chuyên chế. Trong một bài diễn thuyết tại Sài Gòn vào năm 1925, Phan Châu Trinh nói:

“Thương hại thay, trong hai ngàn năm các nhà vua chẳng ngó chi tới cái lợi hại dân tộc, chỉ lo tính toán mà đè nén cái trí dân để mà giữ chắc cái chìa khóa tủ sắt ngôi thiên tử cho con cháu mình”[3].

Do đó, khai trí còn có ý nghĩa thứ hai là giải phóng trí tuệ. Khai dân trí chính là một cuộc cách mạng về mặt tư tưởng và văn hóa, giải phóng trí tuệ cho người dân khỏi sự mê muội gây ra bởi một thứ  ý thức hệ mang tính nô dịch.

Từ dân trí đến dân khí

Về khái niệm dân khí, cần lưu ý một điều: mặc dù Phan Châu Trinh và các đồng chí của ông đều theo học cái học cử  nghiệp của nền học thuật Nho giáo bắt nguồn từ Trình Di (1033-1108) và Chu Hy (1130-1200), nhưng chữ khí mà các ông sử dụng ở đây không liên quan đến quan niệm về khí trong triết học của Trình-Chu. Theo Chu Hy, lý 理 là một quy luật, một nguyên tắc của vũ trụ phi vật chất khác với khí 氣 – một thứ hơi (éther) tạo thành mọi sự vật vật chất. Nói cách khác, khí là một thứ nguyên liệu ban đầu (matière primordiale) làm nên mọi sự vật. Trong một đoạn văn thường được trích dẫn, Chu Hy viết: “Người nhận được khí trong là những hiền nhân, với bản chất giống như một viên ngọc nằm dưới đáy một dòng nước lạnh và trong suốt. Nhưng những người nhận được khí đục sẽ là kẻ ngu đần hay kẻ bất lương với bản chất giống như một viên ngọc nằm dưới đáy một dòng nước đục ngầu”[4].

Chữ khí 氣 mà Phan Châu Trinh và các đồng chí của ông sử  dụng không giống với chữ  khí của siêu hình học Trình-Chu nhưng lại có ý nghĩa tương tự như chữ khí trong quan niệm của Mạnh Tử về khí hạo nhiên (khí lớn lao). Trong cuốn Lịch sử ngắn gọn về triết học Trung Hoa của nhà triết học sử Phùng Hữu Lan (xuất bản năm 1948), khí hạo nhiên được dịch là Great Morale. Chữ morale trong tiếng Anh dùng để chỉ một mức độ của sự tin cậy và tình cảm tích cực mà con người có được khi làm việc cùng với nhau hoặc cùng sống trong một tập thể. Chữ khí ở đây có ý nghĩa tương tự như chữ khí trong dũng khí hay sĩ khí (tinh thần của kẻ sĩ, tinh thần của chiến sĩ)[5].

 

Như vậy dân khí dùng để chỉ một sức mạnh tinh thần không chỉ dựa trên lý trí mà còn bao gồm cả tình cảm, ý chí và gắn liền với hành động. Chấn dân khí chính là khôi phục, tăng cường, bồi bổ sức mạnh tinh thần, nhuệ khí của dân tộc. Một khi dân trí mờ tối, dân khí yếu hèn thì nhiệm vụ của sĩ phu yêu nước là phải mở cửa trí tuệ cho người dân, vạch đường đi cho nhân dân, giúp nhân dân nhìn thấy hướng đi tiến bộ của nhân loại, và từ đó chấn hưng sức mạnh tinh thần, nâng cao ý chí của nhân dân để nhân dân có thể tự  giải phóng, giành lấy địa vị làm chủ.

Trong bản thảo “Pháp-Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”, thay vì nêu phương châm khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, Phan Châu Trinh chỉ nêu bốn chữ khai trí, trị sinh:

“Đã lợi trí, lợi có đường sống, cho nên không thể không nói khai trí trị sinh; cho nên cái thế là không thể không lập nhiều hội học, hội diễn thuyết, hội buôn”[6].

 

Trị sinhđiều hành đời sống vật chất, tưong đương với hậu dân sinh (làm giàu đời sống vật chất của người dân). Trong câu nói này, khai trí thay thế cho cả hai vế khai dân trí (mở cửa trí tuệ) lẫn chấn dân khí (chấn hưng sức mạnh tinh thần và ý chí của người dân).

Như vậy, trong ngôn ngữ chính trị của Phan Châu Trinh, chữ trí có một ý nghĩa rất rộng, không chỉ là sự hiểu biết mà còn bao gồm cả tình cảm, ý chí hướng đến hành động. Khai dân trí bao hàm cả chấn dân khí: mở cửa trí tuệ là để giải phóng trí tuệ, đồng thời bồi bổ, tăng cường ý chí, tình cảm cho người dân. Nói tóm lại, đó là việc khôi phục và tăng cường sức mạnh tinh thần của dân tộc, sức mạnh đã bị hao mòn hay đánh mất do bị nô dịch bởi một nền văn hóa – giáo dục giáo điều, ngu dân.

Giới trí thức và trách nhiệm khai dân trí, chấn dân khí:

 

Để khai trí, trước hết phải đánh thức giới trí thức, bởi lẽ cần có sự hợp tác của toàn bộ giới trí thức để khai sáng và giải phóng trí tuệ cho cả dân tộc.

Vào đầu thế kỷ XX, nền giáo dục chính thống vẫn còn dựa trên nền tảng của Tống Nho (Nho giáo đời Tống) – một thứ Nho giáo đã biến thành giáo điều và được các vương triều ở Trung Quốc và Việt Nam sử  dụng với mục đích làm ngu dân. Trong các kỳ thi chính thức, thí sinh phải làm bài thi kinh nghĩa, tức là bài văn giải thích ý nghĩa các chủ đề trong Tứ thư  và Ngũ kinh – những cuốn sách kinh điển của Nho giáo. Lối văn kinh nghĩa thông dụng là bài văn có tám đoạn, do đó văn chương bát cổ (tám đoạn, tám vế) là một thuật ngữ  được dùng để ám chỉ nền văn hóa – giáo dục đương thời. Trong khi nhân dân đang chịu thống khổ dưới ách của cường quyền thì trí thức vẫn còn mộng mị ngủ yên trong nền văn chương “tám vế”, ngụp lặn trong văn chương và nghệ thuật diễm lệ của “phương Đông” kiêu hãnh và cao đạo để quên đi thân phận của người dân mất nước. Đánh thức giới sĩ phu ra khỏi cơn mộng mị của ý thức hệ Nho giáo là để trí thức thời đó tỉnh giấc, can đảm nhìn thẳng vào thực tại và dấn thân vào cuộc đấu tranh để giành lại quyền làm chủ cho nhân dân, đòi quyền tự  trị cho dân tộc, tiến đến giành độc lập hoàn toàn. Vào năm 1903,  Phan Châu Trinh cùng hai người bạn là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng vào Bình Định. Lúc ấy đang kỳ thi khảo hạch. Cả ba người cải trang và mạo danh vào ứng thí để làm một bài phú có tên là Lương ngọc danh sơn và một bài thơ có tên là Chí thành thông thánh, với nội dung lên án nền giáo dục ngu dân.

Trong bài thơ Chí thành thông thánh mà cả Hùynh Thúc Kháng lẫn hầu hết các nhà nghiên cứu đều xác định là tác phẩm của Phan Châu Trinh, có hai câu thơ sau đây:

Vạn gia nô lệ cường quyền hạ,

Bát cổ văn chương thụy mộng trung.

Có nghĩa là : [Trong khi] muôn nhà làm nô lệ dưới ách của cường quyền [thì các nhà nho vẫn đang] ngủ say trong giấc mộng của nền văn chương “tám vế”.

Điều trớ trêu là ngày nay, mặc dù Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền, thế mà chúng ta cũng đang ở vào một tình trạng tương tự. Học sinh, sinh viên và giới trí thức chính thống cũng đang say sưa với giấc mộng “con rồng nhỏ” được nuôi dưỡng bằng ảo tưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin cộng với giấc mơ làm giàu theo con đường tư bản chủ nghĩa (ngôn ngữ  chính thống thường gọi đó là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”).

Ngoài việc bơm vào đầu óc thanh thiếu niên những ảo mộng về một thứ chủ nghĩa xã hội trên đầu lưỡi và trên giấy tờ nhiều hơn là trong đời thực, nhà trường và các phương tiện truyền bá văn hóa còn nhồi nhét vào đầu óc họ tình cảm thù ghét vô cớ đối với thế giới phương Tây văn minh, tiếp tục nuôi ác cảm đối với những quốc gia tuy đã có một thời đụng độ với Việt Nam trong chiến tranh nhưng nay đã và đang sẵn sàng xây dựng mối quan hệ hữu hảo để giúp dân tộc ta tiến lên trên con đường văn minh, hiện đại hóa.

Đã nhiều thập niên trôi qua sau chiến tranh, nhưng hình ảnh của “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ” vẫn còn ám ảnh trong đời sống văn hóa của người dân; mặt khác, các văn nghệ sĩ và nhà báo, nhà lý luận chính thống vẫn còn bám vào “truyền thống cách mạng”, vào “quá khứ hào hùng” theo một kiểu cách mà nhà văn Phạm Đình Trọng gọi là “ăn mày dĩ vãng”.

Ngược lại, từ các nhà trường cho đến các phương tiện truyền thông đại chúng được trang bị phương tiện hiện đại “cho đến tận răng” lại ra sức nuôi dưỡng một thứ tình hữu nghị mộng mị, một lòng tin mù quáng vào một nước láng giềng hùng mạnh cùng mang danh xưng là “xã hội chủ nghĩa”, cùng sinh ra từ một nguồn gốc “cộng sản quốc tế”, và ngày nay đang hợp tác toàn diện với Việt Nam theo phương châm 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Nền văn hóa – giáo dục đó đã và đang tìm cách che giấu một sự thật đau đớn là nước bạn láng giềng đó thật ra là một “đế quốc xã hội chủ nghĩa” có tham vọng bành trướng lãnh thổ và không hề giấu diếm dã tâm lấn đất, lấn biển. Những người biết tiếng Anh hay tiếng Hoa có thể lên các trang web của “nước bạn” Trung Quốc để thấy rõ dã tâm ấy là như thế nào.

Trước mắt và trong một tương lai rất gần, đế quốc kiểu mới đó đang rắp tâm làm chủ toàn bộ Biển Đông, coi đó là cái ao nhà của họ, bất chấp sự phản ứng yếu ớt đến kỳ lạ của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Trong khi tàu đánh cá của Việt Nam bị “tàu lạ” đâm chìm, trong khi ngư dân miền Trung hoạt động trong vùng biển quen thuộc của mình bị tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giam, thậm chí giữ con tin để đòi tiền chuộc theo kiểu hải tặc thì giới trẻ Việt Nam vẫn ngủ yên trong tương lai hóa rồng mà các nhà trí thức chính thống đang ra sức rao giảng, còn trong nhà trường thì các thầy cô giáo vẫn đàng hoàng lên lớp về một nước Việt Nam anh hùng đã từng đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ và nhất định trong tương lai sẽ xóa nỗi nhục nghèo hèn cho đất nước. Bên ngoài nhà trường, thanh thiếu niên được tha hồ vui chơi bằng đủ thứ trò chơi hiện đại, được phép say sưa với những diễn viên điện ảnh tài danh, những ca sĩ quốc tế, những trận đấu bóng đá, những kỳ thi đố vui kiến thức, những màn trình diễn thời trang và các cuộc thi hoa hậu, v.v… chỉ với điều kiện phải quên đi, đừng quan tâm gì đến những vấn đề được xếp vào diện “nhạy cảm”[7].

 

Hậu quả của chính sách văn hóa – giáo dục “chỉ được phép chạy theo lề bên phải” đó là: trong khi ngư dân đang khốn khổ ngay trên vùng biển của đất nước mình, sì sụp vái lạy các ông “phú-lít biển” của nước bạn, thậm chí phơi thây vì những “tàu lạ” thì thanh thiếu niên của nước Việt anh hùng chỉ biết quỳ lạy, khóc thương Micheal Jackson như vừa mất đi một người thân trong gia đình.

Dẫu biết rằng tiếp thu văn hóa, khoa học của thế giới là điều bình thường trong thế giới ngày nay, nhưng điều đáng chê trách là tại sao các em, các cháu lại không hề biết nền độc lập, tự chủ của đất nước mình đang bị quốc gia khác đe dọa, người dân nước mình đang phơi thây trên biển hoặc đang sống cơ cực hàng ngày trong khi bọn tham nhũng nhởn nhơ khắp chốn, luật pháp nằm trong tay kẻ mạnh, tình hình quản lý kinh tế – xã hội ngày càng bê bối nhưng người chịu trách nhiệm cụ thể thì tìm đỏ mắt cũng không thấy ai! Làm văn hóa, giáo dục như thế có khác gì cung cấp một thứ “thuốc phiện” để tuổi trẻ đi tìm sự quên lãng, tự tha hóa để quên đi thân phận tủi nhục của đất nước mình?

Chính trong hoàn cảnh giới trí thức “say sưa trong giấc mộng” đó, sự ra đời của bản Kiến nghị bauxite có ý nghĩa như một tiếng chuông cảnh tỉnh – tương tự như hai bài thơ nói trên của các nhà lãnh đạo Phong trào Duy tân, hay như lá thư ngỏ nổi tiếng Đầu Pháp chính phủ thư mà Phan Châu Trinh đã viết vào năm 1906. Trong một thế giới hiện đại – khi mà Internet giúp người ta đến gần với nhau một cách dễ dàng, nhanh chóng hơn, bản Kiến nghị 12-4-2009 không còn là một tiếng vỗ tay đơn độc của một cá nhân hay một nhóm người, mà là một tiếng vỗ vang dội của hàng ngàn “đôi tay”, như nhà yêu nước họ Phan đã từng mơ ước qua một bài thơ làm trong nhà tù La Santé ở Paris:

Trăm việc hai tay khó nỗi trông,

Làm cho nên bộp phải tay đông.

Nhiều bàn xúm lại cho chung rập,

Một tiếng kêu lên đã lạnh lùng.

Sảng vía hùm beo kinh chạy tản,

Giựt mình cò quạ hoảng bay bùng.

Xưa nay góp gió làm nên bão,

Muôn vạn xin ghi một chữ đồng[8].

Sự thức tỉnh của giới trí thức là tiền đề của sự thức tỉnh của cả dân tộc. Và khi dân tộc thức tỉnh thì đó cũng là bước đầu hình thành một xã hội dân sự lành mạnh, tiền đề của một chế độ dân chủ trong tương lai. Trí tuệ của dân tộc được khai mở thì nguyên khí của dân tộc sẽ hồi sinh. Đó mới là lúc lòng yêu nước thật sự được trỗi dậy, bởi vì lòng yêu nước không thể chỉ là tài sản của một người – dù người đó là một cá nhân vĩ đại, cũng không chỉ là của riêng của một dòng họ hay một đảng phái – dù dòng họ đó hay đảng phái đó có công lớn đến mức nào đối với dân tộc, mà chỉ có thể là tài sản chung của cả xã hội, cả cộng đồng, cả dân tộc.

Chỉ khi nào cả dân tộc cùng nhau yêu nước thì bờ cõi của đất nước mới có thể được giữ vững, vùng biển của Tổ quốc mới được vẹn toàn. Chỉ khi nào lòng yêu nước không còn là độc quyền của bất cứ cá nhân, tập đoàn hay phe phái nào, thì lòng yêu nước mới biến thành một sức mạnh thật sự làm cho “hùm beo sảng vía”, “cò quạ hoảng bay”.

Đó là bài học rút ra từ quá khứ đau thương của dân tộc Việt Nam chúng ta. Bài học của một nước nhỏ sống bên cạnh một nước lớn, bài học của kẻ yếu biết hợp quần để chống lại kẻ mạnh, bài học của sự thương yêu chống lại sự bạo tàn, bài học của những người dựa vào chân lý để chiến thắng sự dối trá – cho dù sự dối trá đó là sự dối trá của kẻ mạnh.

Đà Lạt, nhân kỷ niệm 4 tháng ngày ra đời bản Kiến nghị Bauxite,

12.4.2009 – 12.8.2009

MTL

Tài liệu tham khảo:

1.  Nguyễn Văn Dương, Tuyển tập Phan Châu Trinh, In lần thứ 2, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2006.

2.  Fung Yu-Lan, A short history of Chinese Philosophy, Edited by Derk Bodde, The MacMillan Company, 1948, Collier-Macmillan Canada, Ltd., Toronto, Ontario, First Free Press Paperback  Edition, 1966.

3.  Đào Duy Anh, Hán-Việt Từ-Điển, Trường thi, In lần thứ 3, Sài gòn 1957.

Chú thích

[1] Đào Duy Anh, Hán-Việt Từ điển .

[2] Phan Châu Trinh, “Đầu Pháp chính phủ thư”, 1906; Nguyễn Văn Dương, sđd, tr. 406.

[3] Phan Châu Trinh, “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”, 1925, Nguyễn Văn Dương, sđd, tr. 974.

[4] Trích theo Phùng Hữu Lan: Fung Yu-Lan, op.cit., p. 301.

[5] Fung Yu-Lan, op.cit, p. 78.

[6] Phan Châu Trinh, “Pháp-Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”; Nguyễn Văn Dương, sđd, tr. 596.

[7] “Nhạy cảm” là tính từ mà ngôn ngữ báo chí hiện nay hay dùng để chỉ những vấn đề nóng bỏng, bức thiết có liên quan đến đời sống của người dân hay vận mệnh của Tổ quốc, đáng lẽ phải được đưa ra bàn bạc công khai nhưng lại bị xếp vào “vùng cấm”. Nói theo ngôn ngữ của thời quân chủ, đó là những vấn đề “húy” (kiêng không được nói đến), nói đến là “phạm húy”!

[8] Phan Châu Trinh, “Đông tay vỗ nên bộp”, Santé thi tập, Nguyễn Văn Dương, sđd, tr. 281.

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập