– Tướng Giáp, McNamara và “bảo hiểm quốc gia”

28/07/2009

(TuanVietNam) – Báo chí đang bàn về thế hệ lãnh đạo tương lai cho đất nước. Con người họ, với tài năng và nhân cách là sự đảm bảo cho hình ảnh và cả an ninh quốc gia. Nếu được dịp bỏ phiếu trực tiếp cho họ nghĩa là người dân đã thực sự mua bảo hiểm cho đất nước.

TUONG GIAP VA MACNAMARAỞ các nước tiên tiến, ngưởi ta bỏ tiền mua bảo hiểm xe hơi, y tế, nhà cửa, kể cả đôi chân cầu thủ hay vòng một của người đẹp nếu cần. Quốc gia được bảo hiểm bằng máy bay, tên lửa, vũ khí nguyên tử kể cả “sắm” thật nhiều tướng tài. Giới lãnh đạo đất nước với tài cán và nhân cách chính là sự đảm bảo cho hình ảnh và an ninh quốc gia. Bỏ phiếu cho họ nghĩa là người dân đã mua bảo hiểm cho đất nước.

 

Tướng Giáp và tướng McNamara đối đầu

Nếu đi du lịch vòng quanh trái đất mà hỏi dân địa phương là có biết Việt Nam không, câu trả lời hầu hết là có, nhưng nước này nằm ở đâu cũng khá đông lắc đầu. Ai nổi tiếng nhất: tướng Giáp, dù tên ông được phát âm ngồ ngộ. Tại sao: ông ấy thắng Pháp ở Điện Biên Phủ và đuổi Mỹ sau này. Ít có dân tộc nào được vinh hạnh ấy, dù rằng cũng nói lên sự mất mát rất lớn qua nhiều cuộc chiến tàn khốc.

Hỏi về nước Mỹ, hàng tỷ người mơ ước đến xem thần Tự do. Nhưng tướng McNamara thì ít người biết hơn. Vài đồng minh, công ty Ford, Ngũ Giác Đài và kể cả Ngân hàng Thế giới, biết rõ ông là ai.

Trong cuộc gặp mặt nhau tại Hà Nội khi đã gác kiếm (năm 1995), tường thuật trên báo chí kể rằng, McNamara chào: “Tôi đã nghe về ông khá nhiều”. Tướng Giáp đáp từ “Tôi cũng thế”. Hay, quân đội Mỹ thắng tất cả các trận trên chiến trường thì tướng ta trả lời, người Việt lại thắng cả cuộc chiến tranh.

Nghe về nhau nhiều là phải vì hai vị tướng này từng đứng hai bên chiến tuyến. Sự kiện vịnh Bắc Bộ, chiến tranh leo thang, ném bom rải thảm để biến miền Bắc thành thời kỳ đồ đá, trận Mậu Thân mà sau đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ than rằng, không thể thắng được Việt nam. Đó là chưa kể vụ, tướng Mỹ đi từ sân bay Tân Sơn Nhất qua cầu Công Lý, chút nữa là “va” biệt động Sài Gòn.

Là một thiên tài đến từ Đại học Berkeley danh tiếng, McNamara vực dậy công ty sản xuất xe Ford, vào Nhà trắng đã làm rung chuyển cả ngôi nhà hình sao này vì cách quản lý hiệu quả, đầu tiên dùng máy tính vào xử lý dữ liệu chiến tranh. Những gì đặt trên bàn báo cáo hàng ngày của McNamara hay bàn làm việc của tổng thống Johnson đều nói lên, Việt Nam đang thất bại trên chiến trường.

Thật đáng tiếc, số liệu máy tính và thực tế chiến trường khác nhau. Máy tính có thể xử lý được số liệu về bom đạn, thiệt hại của đối phương, đếm được số quân đang chuyển qua đường mòn Hồ Chí Minh, nhưng không thể đo được quyết tâm của những người chân đất áo nâu với ý trí đuổi giặc ngoại xâm.

Hai vị tướng bàn chuyện xưa tại một villa của Pháp ở Hà nội. McNamara hỏi, theo thống kê của Mỹ, quân đội Việt Nam đã thương vong quá lớn, khó mà đương đầu với Mỹ, tại sao các anh vẫn tiếp tục chiến tranh. Tướng Giáp cười và nói, chính người Mỹ các ông đã lầm, không hiểu hết lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc này. Họ có thể chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ đất nước.

Trong cuốn phim tài liệu “Fog of War” do chính McManara giới thiệu tại Washington DC, vị tướng Mỹ này đưa ra 11 bài học cho cuộc đời mình. Nhưng ông quên đưa bài học thứ 12 về Việt Nam như lời tướng Giáp, rằng, kẻ nào dòm ngó biên giới nên nhớ hộ, người dân nơi đây sẵn sang “đốt cả dãy Trường Sơn” để bảo vệ Tổ quốc.

Một người có bằng cấp của Havard và trợ lý giáo sư trẻ nhất, tiền lương cao nhất tại đại học danh tiếng này. Một người là giáo viên trường Chu Văn An, chưa hề qua một trường quân sự chính thống nào. Một bên là đầu óc điện tử với những số liệu được xử lý chính xác với mấy chữ số sau dấu phảy, quân đội thiện chiến, một bên chỉ có bàn tính gẩy thô sơ, lính đội mũ tai bèo đi dép lốp.

Những người từng đương đầu với tướng Giáp đã lần lượt sang thế giới bên kia. Trước là Nava của Pháp, và gần đây là McNamara. Tướng Giáp vẫn đang minh mẫn ở tuổi gần 100, như báo chí quốc tế đưa tin, vẫn đang nặng lòng với tình hình đất nước.

 

Một lần bắt tay các tướng

Người bạn kể rằng, những gì biết về hai ông là do đọc sách báo như bao nhiều người khác. Anh đã gặp cả hai nhiều lần trên…tivi, được một lần…bắt tay.

Cách đây mấy chục năm, tướng Giáp đến thăm cơ quan, nơi anh đang công tác khi đó. Ông thân chinh gặp từng người, dừng lại hỏi han, vợ con thế nào. Vị tướng dặn dò, sau chiến tranh còn nhiều khó khăn, cần cố gắng. Người ta nói bàn tay tướng mà mềm như gấm, quả đúng thật, nhưng có lẽ trong chiến tranh, bàn tay ấy là quả đấm sắt.

Rời bỏ Nhà trắng, tướng McNamara tới Ngân hàng Thế giới làm chủ tịch lâu nhất, biến trung tâm tài chính quốc tế này thành một tổ chức năng động trong suốt 13 năm liền. Khi anh được tuyển vào làm việc tại văn phòng Việt Nam thì McNamara đến thăm tướng Giáp (1995). Văn phòng tiếp đón sếp cũ và được chụp ảnh lưu niệm trước trụ sở tại villa 53 Trần Phú.

Anh sang Washington DC công tác đúng dịp ông tới trụ sở của WB để giới thiệu cuốn phim Fog of War về cuộc đời ông và những bài học chiêm nghiệm, kể cả từ vịnh Con Lợn đến vịnh Bắc bộ. Âm thanh surround, màn ảnh rộng tại hội trường lớn mang tên Preston, vị chủ tịch đầu tiên của WB, đã gây xúc động ghê gớm cho người xem.

Sau đó là nhiều câu hỏi và thảo luận. Anh có một câu trong đầu: “Sau cuộc chiến, ông định đền bù những người đã chết của hai phía thế nào đây?”. Là người Việt, hay ngồi ghế cuối, chợt nhớ đến mất mát của chính gia đình mình, của người thân, bạn bè, bỗng dưng nghẹn trong lòng nên chẳng bao giờ câu hỏi được bật ra.

Hôm nay anh nhờ tôi viết lại để gửi McNamara dù ông đã ra đi. Nhưng anh biết, ông ấy sẽ trổ tài ngoại giao, không phải cương quyết như nhà quân sự khi ném bom miền Bắc, lảng sang chuyện khác như vị tướng đã làm vài lần hôm giới thiệu phim, khi gặp những câu hóc búa.

Tài liệu giải mật gần đây cho biết người Mỹ đã từng nghĩ đến việc dùng bom nguyên tử để ném Việt nam. Tuy nhiên cân bằng quốc tế, vụ khủng hoảng tên lửa Cuba đã làm cho kế hoạch chỉ nằm trong ngăn kéo. Không hiểu ông McNamara có nghĩ đến tiêu diệt tướng Giáp bằng trái bom khủng khiếp.

 

Bảo hiểm quốc gia trong thời đại mới

Ở bên Mỹ phải bỏ tiền ra mua bảo hiểm xe hơi, y tế, nhà cửa, kể cả đôi chân cầu thủ hay vòng một của người đẹp nếu cần. Bỏ tiền nhưng không bao giờ mong cần đến. Dùng tiền bảo hiểm nghĩa là bị ốm đau, tai nạn hay thảm họa.

Quốc gia mua bảo hiểm bằng cách mua máy bay, tên lửa, vũ khí nguyên tử kể cả “sắm” thật nhiều tướng tài như ông Giáp hay McNamara. Có bảo hiểm nhưng không ai thích dùng, trừ vài kẻ điên rồ.

Ấn độ và Pakistan gầm gừ dọa nhau nhưng không đánh bao giờ là vì hai quốc gia này sở hữu bom nguyên tử. Nhiều nước muốn tấn công Bắc Triều tiên hay Iran, nhưng không dám chắc trong hàng trăm tên lửa tầm xa, có quả nào được gắn đầu đạn hạt nhân.

Sau 1975, một đồng nghiệp chuyển vào lò phản ứng hạt nhân Đà lạt làm việc. Tôi hỏi đùa là liệu mình có làm bom nguyên tử được không. Anh trừng mắt, mới hòa bình xong, đất nước đang nghèo cần xây dựng, sao mà cậu hiếu chiến thế. Anh còn thì thầm, nhiều người hỏi câu đó và hình như có cả một vị tướng cũng thế.

Sau hơn 30 năm hòa bình với vài cuộc chiến tranh lẻ tẻ khác, chợt nhớ “mình không thích chiến nhưng kẻ khác cứ dọa” thì làm thế nào. Thế là phải mua bảo hiểm. Bảo hiểm bằng quan hệ quốc tế, bảo hiểm bằng đồng minh, bè bạn, bằng quân đội thiện chiến, vũ khí tối tân, bằng tri thức thời đại với dân giầu, nước mạnh, đội ngũ lãnh đạo có tài và trong sạch.

 

Thế hệ lãnh đạo tương lai

Báo chí đang bàn về thế hệ lãnh đạo tương lai cho đất nước. Con người họ, với tài năng và nhân cách, là sự đảm bảo cho hình ảnh và cả an ninh quốc gia. Nếu được dịp bỏ phiếu trực tiếp cho họ nghĩa là người dân đã thực sự mua bảo hiểm cho đất nước.

Cụ Hồ đã đưa hàng trăm trí thức từ nước ngoài về phục vụ. Họ khâm phục người lãnh đạo, có lòng tin vào ngày mai và vì thế mới chiến thắng nhiều kẻ sừng sỏ. Thời của cụ không có tham nhũng vì chính ông liêm khiết nên người dưới quyền không ai dám vun vén cho bản thân.

Lãnh đạo nào sinh ra quân nấy. Cụ Hồ trao kiếm cho tướng Giáp lúc 33 tuổi dưới cây đa Tân Trào để chỉ huy quân đội. Các trí thức trẻ như Tạ Quang Bửu, Tôn Thất Tùng, Trần Đại Nghĩa và bao nhiêu người khác đã giúp làm nên thương hiệu Việt Nam trong suốt mấy thập kỷ, được bạn bè quốc tế tin yêu.

Ngày nay, đầy những khẩu hiệu treo trong cơ quan, văn phòng bộ hay ngoài đường “Sống và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Trong thực tế, vẫn còn ai đó, không nhìn lời răn viết trên tường, khi thản nhiên vơ phong bì đút lót vào ngăn kéo.

Bàn về nhân tài trong thời đại mới, nói tới nói lui, tầm nhìn toàn cầu, phương Tây hay Trung Quốc, hay ở đâu đó ở xa tít tắp. Thật ra, người ta chỉ cần nhìn lên câu khẩu hiệu và lá cờ ngay trước mặt. Nếu thấy xấu hổ với những đồng tiền hối lộ thì đất nước sẽ tiến xa, nếu họ nghĩ đến trách nhiệm với đất nước, vì nhân tài thời nay không thiếu.

Chúng ta không làm bom nguyên tử, nhưng cần bảo hiểm đất nước bằng tri thức thời đại ”hạt nhân và tin học”. Vì thế, có môi trường nhằm tạo ra những thiên tài “tướng Giáp” để đương đầu với “McNamara” trong thời đại với biên giới quốc gia trở nên mong manh hơn bao giờ hết, là chìa khóa để đưa đất nước đi lên.

Hiệu Minh

Nguon: http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/7493/index.aspx

– KHÁNH LY, BÊN ĐỜI HIU QUẠNH

LTS: Blog LỀ BÊN TRÁI xin phép chị Khánh Ly cắt vài đoạn nhỏ để cả chúng tôi lẫn chị đều có thể có mặt trên trang này.

tùy bút Khánh Ly

KhanhLy1Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ra ngoài.

Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.

Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.

Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ…. Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.

Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.

Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.

Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”…. Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.

Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.

10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.

Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.

Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.

Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.

Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ – ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.

Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở – có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.

Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.

Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.

Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay – giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.

Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.
…………………

Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.

Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?

 

Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….

Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.

Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.

Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thẩm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.

Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.

Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa… đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….

Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam – Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ – Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.

Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.

Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.
……………….

Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.

 

Khánh Ly

Nguồn: fakeglasses

– TKV: Đại gia biển lận

Phạm Viết Đào

TAP DOAN THAN VA KHOANG SANChúng tôi đã đọc được một số thông tin của các mạng nước ngoài đưa tin: vấn đề bauxite Tây Nguyên chỉ là bề nổi của cả một tảng băng chìm; đằng sau bauxite là một loại quặng, một loại nguyên liệu quan trọng giành cho công nghiệp quốc phòng, loại quặng này có ở Tây Nguyên? Không phải ngẫu nhiên mà người Pháp đặt Viện Nghiên cứu hạt nhân tại Đà Lạt ?

Ngày 23.7.2009, Kiểm toán Nhà nước đã họp báo công khai công bố kết quả kiểm toán năm 2008. Năm 2008, Kiểm toán Nhà nước đã thực hiện 135 cuộc kiểm toán tại 35 tỉnh thành, 20 Bộ, 23 tập đoàn kinh tế và nhiều tổng công ty và tổ chức tài chính… Kết quả kiểm tra của 224 đơn vị thành viên thuộc 16 tập đoàn tổng công ty, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chiếm gần 10%.

Chúng tôi xin tổng hợp lại một số “chứng tích bất hảo” của một số “đại gia” mà Kiểm toán Nhà nước đã kết luận, đã bêu danh và một số báo đã đưa tin.

 

I. Thông tin do các báo, mạng đưa theo Kết luận của Kiểm toán Nhà nước

1. Tienphongonline cho biết:

“Theo đó (kết luận của Kiểm toán nhà nước), hầu hết các báo cáo tài chính của nhiều đơn vị bị sai lệch, không phản ánh đúng thực tế tài sản, doanh thu và kết quả kinh doanh.

Đáng chú ý, sai phạm này tập trung vào những ông lớn như, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV); Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); Tổng Cty Hàng hải (Vinalines); Tổng Cty Lắp máy Việt Nam (Lilama); Tổng Cty Bia- Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco)…

Theo Kiểm toán Nhà nước (KTNN), trong năm 2008, dù Chính phủ có chỉ thị hạn chế đầu tư ra ngoài ngành đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhưng phần lớn các đơn vị được kiểm toán đều có hoạt động đầu tư ra ngoài với các mức độ khác nhau.

Tiêu biểu tình trạng này là EVN với 3.590 tỷ đồng (chiếm 4,82% vốn chủ sở hữu); Vinalines 873,78 tỷ đồng (chiếm 11,8% vốn chủ sở hữu); TKV 1.786 tỷ đồng (chiếm 16,15% vốn chủ sở hữu).

2. Tuoitreonline đưa tin:

“Qua kiểm toán, KTNN phát hiện và kiến nghị tăng thu ngân sách nhà nước năm 2007 thêm 4.166 tỉ đồng, chủ yếu từ các khoản thuế và phí, lệ phí; đề nghị giảm chi ngân sách nhà nước 2.731 tỉ đồng gồm chi sai, quyết toán sai chế độ, không đúng nguồn kinh phí…

Tuy nhiên, KTNN cũng chỉ ra báo cáo tài chính của hầu hết các doanh nghiệp phản ánh chưa đúng tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và nghĩa vụ với ngân sách nhà nước nên tiến hành điều chỉnh tăng hơn 137 tỉ đồng về tài sản, nguồn vốn; gần 564 tỉ đồng doanh thu; giảm gần 159 tỉ đồng chi phí, tăng lợi nhuận trước thuế trên 722 tỉ đồng, chủ yếu từ các đơn vị đã nêu trên…”

3. Vnexpress đưa tin:

“Dù được đánh giá là vẫn “ăn nên làm ra” trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, song theo kết quả kiểm toán năm 2008 tổng số nợ của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn lên tới 181.000 tỷ đồng.

Một số đơn vị thua lỗ nhiều trong năm 2006 là Tổng công ty Sông Hồng và Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, với số tiền 57,7 tỷ đồng. Tổng công ty lắp máy VN lỗ lũy kế đến tháng 12.2007 là 23,4 tỷ đồng, Tổng công ty xây dựng Sài Gòn lỗ 90,4 tỷ đồng, tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8 – 93,4 tỷ đồng và Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 lỗ 102,7 tỷ đồng…

Các tổng công ty khác như Khánh Việt, Địa ốc Sài Gòn, tuy số lãi theo báo cáo, trên 600 tỷ đồng, nhưng số nợ phải trả hơn 4.600 tỷ đồng, chiếm lần lượt là 40 và hơn 60% tổng nguồn vốn. Như vậy, mặc dù lợi nhuận trước thuế, theo báo cáo của kiểm toán, đạt gần 1.800 tỷ đồng, nhưng số nợ phải trả quá lớn.

Một điểm đáng chú ý trong báo cáo kiểm toán năm 2008 là hầu hết các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính, ngân hàng… bị sai lệch, không phản ánh đúng thực tế tài sản, chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của các đơn vị này.

Sai phạm vẫn tập trung vào những “ông lớn” như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng công ty Hàng hải (Vinalines), Tổng công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama), Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco)…”

Các số liệu và kết luận của KTNN vừa công bố cho thấy Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam có tên trong số các đại gia đầu têu về biển lận trong hoạt động kinh doanh và báo cáo kết quả kinh doanh với Nhà nước.

 

II. Tập đoàn than và khoáng sản VN đã “biển lận” những điều gì theo kết luận của Kiểm toán Nhà nước?

1. Biên soạn ra các báo cáo tài chính doanh nghiệp: bị sai lệch, không phản ánh đúng thực tế tài sản, chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của các đơn vị này…

2. TKV là một trong những tập đoàn đầu têu trong việc sử dụng nguồn vốn do nhà nước cấp cho mình đầu tư ra các lĩnh vực không thuộc chức năng nhiệm vụ, mặc dù Chính phủ đã có chỉ thị cho các tập đoàn kinh tế phải hạn chế việc làm này. Số liệu do Kiểm toán Nhà nước cung cấp: TKV đã đầu tư ra ngoài 1.786 tỷ đồng (chiếm 16,15% vốn chủ sở hữu).

 

III. Từ sự biển lận đã kết luận này (cái sẩy) dư luận có quyền được đặt dấu hỏi về những hậu quả (cái ung) mà TKV có thể sẽ gây ra cho đất nước: Đó là dự án bauxite Tây nguyên và TKV là Chủ Đầu tư?

1. Hiện nay TKV đang là chủ đầu tư của Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, với số vốn đầu tư ban đầu theo ông Đoàn Văn Kiển Chủ tịch Hội đồng quản trị trả lời phỏng vấn báo chí cho biết: từ 600 triệu USD tới 900 triệu USD; vậy nếu xảy ra sự biển lận như kết luận của Kiểm toán Nhà nước đã kết luận thì hậu quả sẽ như thế nào và ai chịu trách nhiệm.

Hiện nay tại nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường lành mạnh thì những doanh nghiệp, tập đoàn đã được các cơ quan chức năng như Kiểm toán Nhà nước xếp vào diện “bất hảo”, “biển lận” như TKV thì người đứng đầu vừa có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà tập đoàn này sẽ bị lụn bại về thương hiệu vì sẽ không ai dám bắt tay làm ăn với.

Vậy việc giao Dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên cho TKV có là việc làm: “gửi trứng cho quạ” không ?

2. Hành vi bật đèn xanh cho các doanh nghiệp nước ngoài đưa ồ ạt công nhân tranh các công việc lao động phổ thông, trái với các quy định hiện hành của Luật Lao động Việt Nam: một số đã bị xử phạt và trục xuất về nước như thông tin các báo đã đưa; vậy hành vi này của TKV có nên coi là hành vi “cõng rắn cắn gà nhà” không ?

3. Ngay các nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước, Thủ tướng đã chỉ thị yêu cầu sử dụng đúng mục đích, thế mà TKV còn dám lấy ra 1.786 tỷ đồng (chiếm 16,15% vốn chủ sở hữu) để đầu tư sang các lĩnh vực khác?

Vừa qua TKV đã ký hợp đồng vay của một ngân hàng Hồng Kông một khoản tín dụng trên 500 triệu USD, tin các báo đã đưa; nếu TKV vẫn “ngựa quen đưỡng cũ”, trích ra 16 % của 500 triệu USD làm một việc gì mờ ám khuất tất ví như: làm hại môi trường, làm mất an ninh quốc gia, phục vụ cho mục đích tình báo kinh tế – an ninh cho một quốc gia nào đó thì ai kiểm soát, giám sát việc này?

Chúng tôi đã đọc được một số thông tin của các mạng nước ngoài: Vấn đề bauxite Tây Nguyên chỉ là bề nổi của cả một tảng băng chìm; đằng sau bauxite là một loại quặng, loại nguyên liệu quan trọng giành cho công nghiệp quốc phòng, loại quặng này có ở Tây Nguyên? Không phải ngẫu nhiên mà người Pháp đặt Viện Nghiên cứu hạt nhân tại Đà Lạt?

Một số doanh nghiệp kinh doanh du lịch đã đặt ra câu hỏi với Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch: Tại sao Đà Lạt là một thành phố du lịch lại vẫn duy trì một cơ sở nghiên cứu hạt nhân tại đây? Liệu có “khủng bố” khách du lịch không? Thực ra những câu hỏi này xuất phát từ tính toán của người làm du lịch, họ đâu hiểu được tảng băng chìm phía sau?

Chúng tôi không thể không quan ngại khi đặt ra vần đề này: Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan chức năng có đủ khả năng kiểm soát TKV khi giao cho Tập đoàn này được “cầm cái” một dự án – một “canh bạc” có liên quan tới rất nhiều vấn đề quốc gia –quốc tế ?

PVĐ

Nguồn: http:..vn.myblog.yahoo.com.phamvietdaonv.article?mid=585

 

– Ca sĩ trẻ Dave Carrol của Canada bị United Airline làm bể cây đàn guitar

ca siCa sĩ trẻ Dave Carrol của Canada bị

United Airline làm bể cây đàn guitar

của anh sau một chuyến bay, hãng máy bay này không đếm xỉa đến sự khiếu nại của anh (sau khi sửa đàn hết $1200). Cũng may Dave không phải là dân “thấp cổ bé miệng”, anh viết một bản nhạc ăn vạ và chỉ trong một tuần hơn 3 triệu lần người đã mê mẩn nghe Dave già họng cào đồ ăn vạ trên You Tube.Thế là cả cái head quarter của lão United Airline phải họp khẩn và đi đến quyết định năn nỉ mua lại cái video có cái họng to của người ca sĩ này. Xin mời nghe, cũng hay đáo để :

– SỐ PHẬN NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ NÔNG THÔN

Bức thư thứ ba:

 

SO PHAN DAN BA NONG THON…Họ (những người đàn bà thôn quê) sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân gio, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác. Và điều đau lòng mà tôi biết, họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Bởi hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về và trú ngụ trong tâm hồn họ…

 
Trong tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” của tôi (Giải thưởng Hội Nhà văn 1993) có một bài thơ viết về những người đàn bà thôn quê. Bài thơ đó như sau:
  
 Trên đại lộ
  
 Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải    sát mép đại lộ
 Người họ bọc kín bởi những lớp vải nâu và đen
 Chỉ đôi tay, đôi chân và đôi mắt lộ ra
 Nhưng tất cả cùng một màu như thế
 Những chiếc dậm trên vai họ như vầng trăng khuyết vớt từ bùn lên
 Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước
 Bóng họ đổ xuống đường thành những vũng đen
  
 Họ lặng lẽ đi như đội quân thất trận
 Cán dậm chúi xuống mặt đường – Những nòng súng gỗ hết đạn
 Những tấm áo rách sặc mùi bùn phơi trong lòng dậm như cờ ngày việc làng giã đám
 Vảy cá bám trên áo họ lấp lánh những tấm huân chương
 Họ chẳng cần tung hô, cũng chẳng đợi đón chào
  
 Như mây trước cơn giông trôi nặng nề, oi bức
 Những người đàn bà vác dậm đi thành một hàng dọc về phía bên phải sát mép đại lộ
 Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu?
 Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người.
  

Tôi đã viết bài thơ này 17 năm về trước. Nhưng cho đến bây giờ, những hình ảnh trong bài thơ về những người đàn bà thôn quê lam lũ và u buồn hình như vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu. Trên những con đường và trên những cánh đồng thôn quê, chúng ta vẫn nhìn thấy hiện thực ấy. Và bây giờ trong chính những đô thị thi thoảng chúng ta nhìn thấy họ đi qua khi chúng ta ngồi trong tiệm cà phê, quán ăn… Họ đi qua và bị lộ ra trước mắt chúng ta không thể nào che giấu được. Đại lộ trong bài thơ là hình ảnh của đô thị hóa. Đô thị hóa làm những ai đó thay đổi đời sống của mình, nhưng những người đàn bà thôn quê vẫn đang đi bên lề của sự đổi thay ấy. Họ đi như một sự cam chịu. Họ đi và không hề than thở. Họ thực sự là một đội quân thất trận trên cánh đồng của mình. 

Đã có không ít họ và con cháu họ đã phải rời bỏ cánh đồng và quê hương mình để ra thành phố. Họ làm tất cả những gì có thể làm để bảo tồn sự sống của thân xác họ. Họ làm ôsin, họ làm bồi bàn, họ bán hàng rong và họ bán cả thân xác và tâm hồn họ… Nhìn vào mâm cơm của họ, nhìn vào giường ngủ của họ, nhìn vào gương mặt của họ… tôi luôn luôn mang cảm giác rằng họ không bao giờ có một giấc mơ đẹp sinh ra từ đời sống của mình.
  
Hàng tuần tôi vẫn trở về làng mình và lúc nào tôi cũng bàng hoàng bởi sự đổi thay nhan sắc của những thiếu nữ thôn quê. Tóc họ vừa mới dài đấy, má họ vừa mới hồng đấy, mắt họ vừa mới lấp lánh đấy, lưng họ vừa mới thon thả đấy… nhưng chỉ như một cái chớp mắt tôi đã không còn nhận ra họ nữa. Họ nhanh chóng trở nên già nua và xấu xí như bị một mụ phù thủy hóa phép. Khi tôi cất tiếng chào họ trên đường làng thì không ít người cúi mặt đáp lại lí nhí và vội vã bước đi.
  
 Những người đàn ông quá mệt mỏi và thất vọng về sự cố gắng đổi thay đời sống của gia đình họ trên mảnh ruộng của mình, họ đã lao vào rượu chè và sự dữ dằn. Thế là bạo lực gia đình chẳng bớt đi mà mỗi ngày như một tăng lên. Tất cả sự thất vọng và cực nhọc được trút xuống những người đàn bà thôn quê. Chúng ta từng được biết qua các phương tiện thông tin đại chúng về những người đàn bà thôn quê bị bạo hành như thế nào. Nhưng đấy chỉ là những trường hợp chúng ta biết. Còn hầu hết, 99%, những người đàn bà thôn quê bị bạo hành đã cam chịu và không bao giờ nói cho chúng ta nghe. Bởi nếu họ cất tiếng thì tình trạng của họ cũng không cải thiện được gì mà những cơn phẫn nộ hung bạo lại càng gia tăng.

Chúng ta cũng đã từng đọc trên báo chí tâm sự của những thôn nữ đi bán mình. Họ bán mình một hai năm để có chút vốn trở về quê lấy chồng và lập nghiệp. Những chuyện như thế trước kia cũng có nhưng không phổ biến và không được coi là “chuyện thường tình” như bây giờ nữa. Trước kia, cả xã hội cùng nghèo. Nhưng bây giờ, sự phân hóa xã hội càng ngày càng có một vực sâu ở giữa mà những người đứng phía bờ của đói nghèo không bao giờ dám tin có ngày họ sẽ vượt qua.
  
Tổ tiên họ đã trồng lúa, ông bà họ đã trồng lúa, rồi cha mẹ họ và đến họ cũng vẫn trồng lúa. Trồng lúa chỉ duy nhất giúp họ không chết đói chứ không bao giờ giàu lên được. Những người đàn bà thôn quê đời này nối đời kia trồng cấy không ngơi nghỉ nhưng tôi cam đoan hầu hết gia đình họ không có nổi vài triệu tiền mặt trong nhà. Nhưng chỉ một người có tên là doanh nhân đến và mua hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn hecta đất cấy trồng của họ để lập dự án xây chung cư và bán cho những người giàu có thì lập tức họ có trong tay hàng trăm, hàng nghìn tỷ. Đấy là sự thật đang diễn ra hàng ngày mà chúng ta ai cũng biết.

*

Như hình ảnh trong bài thơ của tôi, họ vẫn đi sát mép đại lộ như một sự chấp hành tội nghiệp và không than thở. Những người đàn bà ở rất nhiều vùng thôn quê sống như một tù nhân trong chính ngôi nhà của họ. Họ bị bắt sinh đẻ hết đứa con này đến đứa con khác. Có những người đàn bà thôn quê làm cho tôi nghĩ lúc nào họ cũng có thai. Họ phải lao động nhiều hơn những người đàn ông. Họ không còn biết đến điều gì thuộc về đời sống tinh thần. Họ không có báo, có sách để đọc, họ không biết đến mỹ phẩm, họ không biết đến cả một bát phở tồi bán ở thị trấn, họ làm sao biết đến những từ như sinh tố, kem caramen, cà phê nâu, sữa chua… Họ càng không biết đến nhà hàng hay tiệm làm tóc…

Họ sống như ở một thế giới khác và một thời khác thời chúng ta đang sống. Họ chỉ biết đến trâu bò, lợn gà, phân gio, bùn đất, cấy hái, con cái và muôn vàn nỗi lo khác. Và điều đau lòng mà tôi biết họ không mấy khi có được một giấc mơ đẹp. Bởi hình như họ chẳng có một ngày thanh thản để một giấc mơ đẹp có thể bay về và trú ngụ trong tâm hồn họ. Trong suốt những năm chiến tranh, họ sống âm thầm với bao giáo lý về đức hạnh để chờ chồng. Ngay cả khi người chồng đã hy sinh, họ cũng không dám đi bước nữa bởi bao ràng buộc và thói thị phi.
  
Nhiều năm nay, tôi đã cố gắng làm những gì có thể cho đời sống văn hóa của làng tôi. Bởi tôi chỉ mong muốn tôi và bạn bè mình có thể mang đến cho họ một khoảnh khắc hạnh phúc để tạm quên đi những cực nhọc và u buồn đằng đẵng bám theo cả cuộc đời họ. Hai câu thơ cuối cùng tôi viết: Họ đến từ đâu và sẽ đi đâu? Với mùi tanh cua ốc tỏa quanh người. Tôi đang nói về họ chứ không phải nói về những câu thơ của mình. Cũng 17 năm về trước, tôi đã gặp những người đàn bà thôn quê đi buôn cá khô, nước mắm, cua ốc trên những chuyến xe khách. Từ áo quần, tóc tai họ tỏa ra mùi cá khô và mùi gà vịt. Họ nghẹo đầu ngủ trên xe và có người miệng chảy dãi. Và tôi đã viết Giấc mơ như thế nào trong giấc ngủ thế kia? Đó không phải là một câu thơ. Đó là một câu hỏi như một tiếng nấc khổ đau.
  
 Cuộc sống của con người đâu chỉ sinh ra, lớn lên, kiếm từng miếng ăn để nhét đầy dạ dày mà phải được khai mở tâm hồn và trí tuệ. Nhưng những người nông dân nói chung và những người đàn bà thôn quê nói riêng đã sống một cuộc sống hầu như không có sự khai mở ấy. Những điều tôi đang viết đây có thể ai đó cho rằng tôi đang cố tình bi kịch hóa đời sống của những người đàn bà thôn quê. Nhưng đó là sự thật, và nói chính xác hơn đó chỉ là một phần của sự thật. Hãy đến với họ và sống với họ, chúng ta sẽ phải kinh ngạc kêu lên: Chẳng lẽ con người sinh ra để sống như thế ư? Và làm cách nào mà họ có thể sống được một cuộc sống như thế khi quanh họ tất cả đã và đang thay đổi?

 

Nguyễn Quang Thiều  

– TỔNG THU NHẬP MỘT THÁNG CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN

Bức thứ hai:

 

NGUYEN QUANG THIEU-…“Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng”. Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?

Trong một tháng hay trong một năm, những người quản lý nông thôn nói riêng và những người quản lý xã hội nói chung có được bao nhiêu lần đặt câu hỏi cho chính trách nhiệm của họ: “Mỗi tháng, tổng thu nhập của một khẩu trong mỗi gia đình nông dân là bao nhiêu? Và với thu nhập như vậy họ sẽ sống như thế nào? ”Tôi không tin mỗi tháng thậm chí mỗi năm tất cả những người có trách nhiệm nói trên tự đặt câu hỏi này được một lần. Và nếu có ai đặt câu hỏi thì rất ít người trong số họ cũng không tự có câu trả lời được. Có câu trả lời rồi thì có bao nhiêu người sẽ suy nghĩ về hiện thực từ câu trả lời đó mà tìm giải pháp? 

Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể: “Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng”. Bạn có choáng váng khi mỗi tháng, một người trong mỗi gia đình nông dân chỉ có 40.000 đồng để chi tiêu tất cả những gì họ cần không?

40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê…

Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số “kinh hoàng” như thế. Nhưng buồn thay đó lại là sự thật. Nếu có sai số thì cũng chỉ rất nhỏ, khoảng 5%. Nhưng sau này, tôi đã nghe rất nhiều người nông dân phản ứng khi họ biết được số liệu mà tôi thu thập về tổng thu nhập trên một khẩu ở những gia đình nông dân. Với họ, 40.000 đồng là một con số quá lạc quan. Họ nói, quá nhiều nơi, tổng thu nhập tính ra tiền trên một khẩu chỉ khoảng 25.000 đồng đến 30.000 đồng.

Theo khảo sát tạm thời của tôi hiện nay thì mỗi một khẩu ở nông thôn trung bình có 1, 2 sào ruộng để canh tác. Mỗi năm họ cấy hai vụ lúa với sản lượng trung bình là hai tạ.một sào. Mỗi tạ thóc bây giờ có giá là 250.000 đồng. Tuy nhiên giá thóc có thể lên đến 300.000đ.tạ. Nhưng giá thóc chỉ cao trong một thời gian không đáng kể. Đến mùa tới, đương nhiên là giá thóc sẽ cân bằng trở lại. Như vậy, mỗi năm bằng trồng lúa, một khẩu sẽ thu nhập là một triệu đồng. Xen vào hai vụ lúa là một vụ màu (ví dụ là ngô). Sản lượng ngô.1, 2 sào lúc này tính ra tiền xấp xỉ lúa. Như vậy, tổng doanh thu của một người nông dân trong một năm từ lúa và hoa màu trên mảnh ruộng của họ là khoảng 1.300.000 đồng.

Trong khi đó, chi phí cho tất cả các dịch vụ từ cày cấy, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thu hoạch, chế biến… chiếm ít nhất 60% tổng doanh thu. Thực thu còn lại của một người nông dân từ việc canh tác trên mảnh ruộng của họ mỗi năm là khoảng 500.000 đồng. Nếu chia ra 12 tháng thì mỗi người nông dân chỉ có khoảng 40.000 đồng cho toàn bộ chi tiêu trong một tháng. Tất nhiên, ngoài nguồn thu nhập từ canh tác trên mảnh ruộng của mình thì người nông dân phải tìm những nguồn thu nhập phụ khác như chăn nuôi, làm nghề phụ, làm thuê trong thời gian giáp hạt v.v… Nhưng những thu nhập phụ này không phải là nguồn thu nhập ổn định và cũng không đáng bao nhiêu. Chăn nuôi của hầu hết các gia đình nông dân cũng chỉ để cải thiện thêm đời sống của họ. Còn nghề phụ của hầu hết các làng nghề truyền thống đã và đang dần dần teo lại vì tính hiệu quả quá thấp.

Số ruộng tính trên một đầu người mà tôi đưa ra ở trên là một con số hơi lạc quan. Thực tế có những gia đình nông dân tính đầu người không quá một nửa sào ruộng và có nơi còn ít hơn thế. Vì tất cả những người sinh sau năm 1993 không còn được chia ruộng nữa. Vì vậy, một gia đình có 2 vợ chồng trẻ và 3 đứa con, tổng cộng là 5 người chỉ có 2,5 sào. Số gia đình như vậy ở nông thôn càng ngày càng nhiều. Nhiều người nói ruộng canh tác của nông dân càng ngày càng ít đi. Thực tế không hẳn là như thế. Nhưng vì dân số càng ngày càng tăng nên tất yếu số ruộng tính trên một đầu người càng ngày càng ít. Hơn thế, các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, các khu vui chơi giải trí như sân gofl… càng ngày càng mở rộng và càng nuốt chửng hàng trăm, hàng ngàn và rồi sẽ đến hàng triệu hecta ruộng của những người nông dân.

Với hiện trạng như vậy, số phận người nông dân và con cháu của họ sẽ ra sao. Đất nước đã và đang phát triển. Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận được. Nhưng sự phát triển này đang ngày càng mất cân bằng. Nếu chúng ta dựng đồ thị sự phát triển của những đô thị và các vùng nông thôn chúng ta sẽ thấy sự chệnh lệch giữa nông thôn và thành thị mỗi ngày một cao. Sự phân cấp giàu nghèo giữa những người nông dân và các thị dân càng ngày càng làm cho những người nông dân tủi nhục và cay đắng. Một thị dân chi tiêu một ngày đã gấp ba, gấp bốn tổng chi phí một tháng của một người nông dân. Đấy là sự so sánh giữa một thị dân ngèo với một người nông dân chứ chưa phải so sánh với một thị dân thu nhập cao.

Cách đây khoảng 7 năm, tôi có làm việc với huyện Mai Châu, Hòa Bình và được biết: số tiền mà Nguyễn Văn Mười Hai vay ngân hàng Nhà nước và đã làm thất thoát bằng tổng thu nhập trong 80 năm của huyện Mai Châu. Ngày nay, việc làm thất thoát tài sản của nhân dân còn lớn hơn nhiều lần Nguyễn Văn Mười Hai trước kia. Trong khi đó, thu nhập của người nông dân vẫn chẳng cải thiện được bao nhiêu.

Việc phân cấp giàu ngèo là vấn đề đương nhiên của mọi xã hội phát triển. Nhưng việc quên lãng những vùng nông thôn là việc không được phép. Không được phép về mặt lương tâm và không được phép trong chiến lược phát triển một đất nước. Những cuộc vận động “lá lành đùm lá rách” chỉ là một lối hành xử văn hóa chứ không phải là một chính sách, một chiến lược đối với nông dân.

Chính vì với một thu nhập “kinh hoàng ” như thế mà tương lai của các thế hệ trẻ ở nông thôn Việt Nam là một tương lai bất ổn. Nếu chúng ta quan sát một cách nghiêm túc, chúng ta sẽ thấy những thiếu nữ từ các vùng nông thôn đi như trảy hội về thành phố làm những nghề “mập mờ” và bán dâm. Việc dấn thân đi làm dâu ở Hàn Quốc, Đài Loan v.v… là một bi kịch. Tất cả chỉ vì họ cố tìm cách thoát ra khỏi cuộc sống quá ngèo đói và không nhìn thấy hy vọng của họ và gia đình họ.

Sự thật là họ không làm thế nào để cải thiện được cuộc sống của họ. Họ chỉ có từng ấy đất đai, chỉ có từng đó mùa vụ, chỉ có từng đó sản lượng, chỉ có từng đó phương tiện lao động, chỉ có từng đó tư duy canh tác… thì chỉ có từng đó thu nhập. Chúng ta phải thừa nhận là chúng ta không quan tâm đến họ một cách thiết thực và nói thẳng ra là chúng ta đã từng bỏ rơi họ. Mấy gói mỳ tôm ném xuống làng họ khi họ bị bão lũ đâu phải là một chính sách hay là một chiến lược. Có thể có một doanh nhân nào đó sẽ khó chịu, nói: Nông dân, hãy làm đi, đừng kêu than. Tôi xin hỏi: giữa một doanh nhân được mua hàng trăm, hàng ngàn hecta đất ruộng của những người nông dân với giá vài trăm ngàn hay vài triệu đồng.mét vuông để ngay sau đó bán lại một mét vuông đất đó trên sơ đồ quy hoạch với giá là hàng chục triệu đồng thậm chí hơn thế thì ai là người được “quan tâm” và ai là kẻ bị bỏ rơi? Hãy trả lời đi các quý vị!

Vì bài báo không thể dài hơn, bởi thế tôi không thể kê khai những gì mà những người nông dân phải chi tiêu một cách cụ thể hàng ngày, hàng tháng với mức tổng thu nhập trung bình chỉ là 40.000 đồng. Tất cả những ai không là nông dân hãy thử hình dung xem với 40.000 đồng để chi tiêu trong một tháng thì chúng ta sẽ phải làm như thế nào? Và sau khi tính toán kỹ lưỡng bằng mọi cách thì chúng ta sẽ tự hiểu những người nông dân hiện nay đang sống như thế nào?

Nguyễn Quang Thiều  

– HỌ ĐANG ĐI THEO MỘT VÒNG TRÒN

Thư của đứa con những người nông dân

08:49” 26.06.2009 (GMT+7)

 

NGUYEN QUANG THIEUNhà thơ, nhà báo Nguyễn Quang Thiều sinh ra và lớn lên ở một làng quê Bắc Bộ. Dù ông làm việc ở thành phố, nhưng 50 năm nay, ông luôn gắn bó với làng ông và những người nông dân ở đó. Ông mang trong mình một phần những nỗi phiền muộn, cực nhọc và giấc mơ của những người nông dân. Và những người nông dân ở đó đã chấp nhận ông là một đứa con của họ.

Hiện thực cần báo động trong đời sống của những người nông dân được ông phác thảo trong hình thức những bức thư gửi đến chúng ta. Bây giờ, làng Chùa của ông và những làng khác ở tỉnh Hà Tây cũ đã trở thành một làng chính thức của Hà Nội mở rộng.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những bức thư của ông như một trong nhiều góc nhìn về nông thôn hiện nay để bạn đọc cùng tham khảo và chia sẻ.
Bức thư thứ nhất:

Họ đang đi theo một… vòng tròn

 

Tôi chọn năm 1954 là điểm xuất phát đường đi của những người nông dân. Bởi đó là lúc Miền Bắc được giải phóng hoàn toàn khỏi ách cai trị của người Pháp. Người ta thường lấy mốc năm 1954 là thời gian hòa bình được lập lại. Nhưng thực tế chiến tranh vẫn tiếp tục. Máu vẫn đổ. Chỉ sau năm 1975, chiến tranh mới chấm dứt.
Từ năm 1954 đến nay, những người nông dân đã đi một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ trên cánh đồng của họ. Và họ đã đi được đến đâu? Họ có biến được giấc mơ về sự giàu có và văn mình của mình thành hiện thực không?
54 năm qua, những người nông dân không một ngày ngừng cày cuốc, gieo trồng với tất cả những đức tính cần cù trên cánh đồng của họ. Họ đã lao động không hề than thở, họ đã hy sinh không hề than thở. Nhưng sau 54 năm, họ ngẩng đầu lên nhìn lại con đường của họ đã đi. Và họ kinh hãi nhận ra: họ đã đang đi theo một vòng tròn. Họ đang có nguy cơ trở lại điểm xuất phát.
Nếu ai đó phản biện điều tôi vừa nói trên thì xin đừng dùng những hình thức bên ngoài trong đời sống của họ để làm bằng chứng cho những phản biện của mình. Đời sống sinh hoạt có những thay đổi. Nhưng những thay đổi ấy không có ý nghĩa nhiều lắm so với sức lao động và sự hy sinh của họ hơn nửa thế kỷ qua. Nếu chúng ta nhìn gần hơn nữa vào hiện thực trên cánh đồng của họ và nhìn sâu hơn nữa vào ngôi nhà họ, tôi tin chúng ta không thể cầm lòng.
Trước năm 1954, những người nông dân là những người làm thuê cho các chủ đất mà chúng ta gọi là địa chủ. Sau khi Miền Bắc được giải phóng mang theo cuộc cách mạng ruộng đất lớn, đất đai không thuộc về những chủ đất trước đó nữa. Nhưng bản chất sâu xa thì người nông dân vẫn chưa thực sự trở thành người chủ sở hữu đất đai của họ. Hợp tác xã được thành lập. Trước kia, đất đai thuộc sở hữu của một cá nhân thì sau này thuộc sở hữu của một tập thể những cá nhân. Những người nông dân vẫn chỉ là những người làm công ăn điểm. Họ không được toàn quyền quyết định hình thức và nội dung sản xuất của họ. Chỉ đến khi Khoán quản ra đời thì vai trò tự chủ của người nông dân đối với mảnh đất của họ mới được xác lập một phần. Nhưng việc sở hữu đất đai vẫn chưa thuộc về họ.
Lý thuyết về Khoán quản là của ông Kim Ngọc. Nhưng người thực hiện thành công đầu tiên lại thuộc về những người nông dân xã tôi – xã Sơn Công, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây. Ngày đó, các ông Phạm Văn Đồng, Tố Hữu và một số vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã về xã tôi để tận mắt nhìn thấy sự thay đổi lạ lùng này. Báo Nhân Dân đã có hẳn một bài báo của nhà báo Đắc Hữu với dòng tít lớn: “Sơn Công, câu trả lời cho vấn đề nông nghiệp Việt Nam”. Và ông chủ nhiệm hợp tác xã Sơn Công đã trở thành đại biểu Quốc hội ngay sau đó khi ông mới chỉ học hết lớp ba. Dăm năm trước, nhân một lần về quê, tôi đã đến thăm ông. Ông là người đầu tiên và có lẽ là người duy nhất của xã tôi là đại biểu Quốc hội. Ông vẫn thế, ngôi nhà ông ở vẫn thế, không có một chút gì thay đổi ngoài thời gian phủ những nếp nhăn lên gương mặt ông và phủ rêu phong lên những bức tường.
Nhưng từ đó đến nay, phương thức sản xuất nông nghiệp của những người nông dân vẫn không có gì thay đổi đáng kể. Vào những năm 1950 và đặc biệt những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ trước, hệ thống tưới tiêu, hệ thống cơ giới và kỹ thuật nông nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp khá tốt. Ngày đó, người nông dân được tuyên truyền về tương lai của những cánh đồng. Tương lai này có thể gọi là thời đại cơ giới hóa. Máy móc và kỹ thuật sẽ trợ giúp việc canh tác của họ. Bản thân những người nông dân cũng tin và mơ ước như thế. Nhưng cho đến bây giờ, sau mấy chục năm, giấc mơ cơ giới hóa nông nghiệp đã coi như tan biến. Ngay cả những người tuyên truyền về giấc mơ này cũng “ngủ” thiếp từ lâu. Tôi mang cảm giác người nông dân bị bỏ mặc và trở nên bơ vơ trên cánh đồng đầy nắng mưa, bão gió.
Thay vào giấc mơ cơ giới hóa là sự trở về của một hiện thực. Đó là một hiện thực buồn với hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau. Hình ảnh này trước kia được dùng để nói về nỗi thống khổ và lạc hậu của người nông dân thì bây giờ lại là hình ảnh quá quen thuộc trên những cánh đồng. Nhưng ngay cả trâu bò cũng không đủ cho nông dân cày ruộng. Bởi thế, hình cảnh cha mẹ, con cái, cháu chắt những người nông dân còng lưng cuốc đất trên đồng mỗi ngày lại càng trở nên phổ biến. Đây không phải là một hình ảnh thơ mộng mà là một hình ảnh cay đắng.
Có một điều kỳ lạ là bây giờ, thi thoảng chúng ta vẫn thấy trên truyền hình hồ hởi đưa tin những người nông dân sáng chế ra máy gặt lúa, tuốt lúa, máy gieo hạt… như một thành tựu khoa học. Tôi xin hỏi những nhà sáng chế nhiều bằng cấp trong các viện sáng chế của Nhà Nước đang ở đâu và đang làm gì mà phải để cho mấy người nông dân có khi chỉ học hết lớp ba trường làng hì hục nghiên cứu ra một số phương tiện để bớt đi những vất vả của chính họ rồi truyền hình và một số báo chí lao vào ca ngợi như một sự phát hiện?
Một hiện thực nữa là từ năm 1954, chúng ta đã bắt đầu đào tạo những kỹ sư nông nghiệp một cách có hệ thống. Theo tôi biết, mỗi năm ít nhất có khoảng vài trăm kỹ sư nông nghiệp ra trường. Nhưng suốt một nửa thế kỷ qua, ở rất nhiều vùng quê tôi biết thì không hề có lấy một ông (bà) kỹ sư nông nghiệp nào về sống, làm việc cùng nông dân và hướng dẫn họ. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì những người nông dân cả nước đang sống theo kiểu du canh. Nghĩa là, họ sản xuất nông nghiệp chủ yếu theo bản năng và thói quen như tổ tiên họ trước kia.
Những người nông dân được hỏi đều buồn bã thừa nhận rằng không ai quan tâm đến họ. Nhiều người nông dân nói: chúng tôi đang được quan tâm vì người ta muốn lấy ruộng để xây dự án. Họ được đền bù một số tiền mà họ chưa bao giờ có. Nhưng những đồng tiền đền bù đó chính là những đồng tiền sẽ mua sự thất nghiệp và những thách thức khác cho chính họ mà họ không biết. Hoặc họ có biết nhưng họ làm sao cưỡng lại được. Cái chính sách mà họ thực sự cần là chính sách tạo công ăn việc làm cho họ và con cháu họ sau khi không còn đất để cấy trồng nữa ở những nơi mà ruộng đất ngàn đời của họ đã và đang bị chung cư hóa. Nhưng một chính sách cụ thể như thế cho đến giờ không một người nông dân nào nhìn thấy và hình như cũng chưa nghe thấy.
Trong một triển lãm ảnh về nông thôn mà tôi đến xem, những bức ảnh chụp rất đẹp theo nghĩa nghệ thuật chụp ảnh. Nhưng tôi nhận ra rằng: những cảnh làm ruộng của những người nông dân của mấy chục năm trước kia và bây giờ chẳng khác nhau chút nào. Có khác thì chỉ khác một điểm. Đó là người nông dân đi sau đít con trâu mấy chục năm trước kia hiện ra trong ảnh đen trắng còn người nông dân bây giờ vẫn đi sau đít trâu nhưng là trong ảnh màu rực rỡ.
Những người nông dân đang đi theo một vòng tròn. Đấy không phải là ý của tôi. Đấy là ý của những người nông dân làng tôi. Họ nói: Ngày xưa ông bà chúng tôi làm ruộng thế nào bây giờ chúng tôi vẫn làm như thế. Chỉ khác là bây giờ có điện. Nhưng cứ vào ngày mùa thì điện lại cắt. Từ ý đó, hay đúng hơn từ hiện thực mà tất cả chúng ta đang nhìn thấy, tôi, một nhà văn có biết một chút phép tu từ nên viết thành câu: Họ đang đi theo một… vòng tròn.
Nguyễn Quang Thiều

– Ký ức sơ sài 04

Nguyễn Khiêm

KỲ BỐN

 

Ngôi trường Đức Tin nói trên do hội thánh Tin Lành sở hữu, khuôn viên rất rộng nhưng cơ sở đó mới chỉ là hai dãy phòng học nấp dưới bóng cây dầu, lớp Đệ tứ là cao nhất.Tôi thấy hội thánh Tin Lành vốn nghèo, muốn xây nhà thờ thì quyên góp dâng hiến lâu dài, khó khăn, dường như không có chuyện “Mỹ tới đâu thì lo xây nhà thờ trước rồi đem xe bọc thép và máy bay ném bom đến sau.” Đạo Tin Lành có vẻ bị mang tiếng oan vì đa phần giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam truyền giáo là người Mỹ. Xây trường học có vẻ còn khó khăn hơn, họ không chủ trương kinh doanh trường tư như Công Giáo hoặc kinh doanh bệnh viện tư như hệ phái Cơ Đốc. Do vậy kế hoạch xây trường cứ nằm hoài trên giấy cho tới lúc bị CM tịch thu. Trên khuôn viên đó còn có nhà thờ Tin Lành Pháp nhìn ra đại lộ Thống Nhất. Ngôi nhà thờ này  nhỏ nhắn nhưng  kiến trúc rất Tây, đẹp một cách đơn giản, đầy thần sắc .

Sau 1975 bị dùng làm hộp đêm hay dancing gì đó, còn  trường Đức Tin thì bị đập phá để xây một rạp hát “hoành tráng” . Lịch sử, ngoài chuyện “lên cơn dữ bất thường” (TTY) còn biết mỉa mai nữa, mỉa mai tới bến! Lúc này, tôi còn được giới thiệu dạy tiếng Việt cho Hội Ngữ Học (Summer linguistics institute) ỏ số 5 đường Sương Nguyệt Ánh. Họ thuê ngôi biệt thự nhỏ làm trụ sở, ở xúm xít mỗi gia đình một phòng. Họ có vẻ nghèo. Báo chí sau 75 ám chỉ phần lớn họ là CIA.Tôi hoang mang. Có dịp gần gũi, thấy họ sống rất đạo đức, ăn uống đạm bạc. Tôi được mời ăn cơm mấy lần, thấy họ chia nhau một đĩa cá thu chiên, một thố xúp đậu trắng lỏng như canh của VN, một tô khoai tây nghiền, hũ beurre đậu phộng, một đĩa lớn đu đủ xanh luộc trộn sauce mayonnaise, một đĩa bánh thuẫn có bán nhiều ở Sài gòn, có khi thứ bánh mì mềm, họ không thích bánh mì kiểu Pháp.

Tôi còn nhớ tên mấy người như ông bà Haupper, Ông bà Grekinson, ông Grekinson cao dong dỏng và thư sinh như Anthony Perkins, thổi sáo miệng tài tình, bắt chước tiếng chim hót líu lo nghe mê tơi, miệng ông có duyên  như miệng Steve Mc Queen. Mới đây, tôi nghe ai đó nói có một giáo sư ngữ học Mỹ được mời thỉnh giảng ở Đại học Hà nội tên Grekinson, không biết có phải ông này không. Học với tôi lâu nhất là ông Fippinger, từ lúc ông mới qua VN đến khi ông nói được tiếng Việt, gần hai năm, nếu tôi nhớ đúng. Ông nói trôi chảy về câu kéo thôi chứ ngữ điệu (intonation) và nhất là thanh điệu (ton) chưa đạt. Về thanh điệu, nói như cụ Nguyễn Hiến Lê, chắc ông phải ăn hết mấy chục thùng nước mắm rồi mới nói đúng, rõ là ông không còn dịp ăn được nhiều nước mắm nữa. Ông phát âm khó khăn những câu đại loại như: “Chị Phụng bị bịnh nặng quá”, các thanh nặng thành huyền, thanh sắc thành ngang -không dấu-  nghe rất tức cười, câu này nữa:” Hồi này chúng tôi bận, ăn uống qua loa cực khổ lắm”  thành ra “ hồi này chúng tôi bẩn, ăn uống qua loa cức khô lắm”. Ông hay lộn phụ âm đầu nữa, ví dụ thung lũng ra lung thũng, dùng sai động từ một cách …sáng tạo như con muỗi ngồi trên mặt anh kìa, than chín hồng rồi, bắt nồi lên, gió thổi nón chạy trên bãi cỏ, tôi có thể rô ti cà phê…Một người nào đó trong nhóm này hỏi tôi: “Vì sao người Việt mấy anh gặp nhau không bắt tay nhau mà tự bắt tay mình?” Tôi ngạc nhiên:”Hồi nào?” “Thì tự bắt hai bàn tay lại, rung rung trước ngực chứ còn gì?” Tôi bật cười nhận ra đúng. Kỳ chưa, chuyện mình làm hằng ngày mà vẫn không thấy, người ngoài lại thấy với nhận xét hài hước, bình thường ta vốn quan sát kém vậy sao?

Tôi nhớ mãi những buổi sáng kê ghế dưới bóng cây dầu học tiếng Việt với ông Fippinger. Đường Sương Nguyệt Ánh ngày đó đẹp và tĩnh lặng nhất Sài gòn. Đứng ở đầu này ngó mông cuối phố thấy như một đường hầm cây xanh hun hút. Hai hàng thân dầu dày khít mọc song song như hai bức tường xám dựng đứng và cao vút trên kia, vòm mái xanh bằng lá đan nhau dày mịt. Có lẽ đã hình thành từ lâu lắm nên lòng đường không mấy rộng rãi. Cứ nhìn những gốc cây to tới mấy người ôm ta cũng cảm nhận được đâu đây hồn xưa của phố cũ. Lề đường không được bằng phẳng vì bị mấy chiếc rễ cây vạm vỡ núng lên nhấp nhô. Tàng dầu không tỏa rộng nhưng nhờ trồng khít nhau nên bóng mát vẫn che rợp.

Từ ngoài đại lộ nắng chói quẹo vào, ai cũng nhận ra làn không khí mát mẻ khác thường chan hòa khắp nơi và nắng ở đây chỉ còn là những sợi tơ vàng mỏng manh chiếu những đóm loang lổ trên mặt nhựa bóng loáng. Đầu mùa hè, những cánh dầu màu nâu quay tít trong gió, xoay tròn tưng bừng một điệu luân vũ thật lâu trên không sau lúc lìa cành. Chúng len qua cửa sổ, rơi bất ngờ trên bàn học như nhắc nhở sự có măt kỳ diệu của thiên nhiên giữa chốn đô thành san sát cửa nhà, tấp nập xe cộ. Nhà trên phố lúc đó còn giữ nguyên vẻ xưa, kiểu biệt thự cũ thời Pháp, trước cổng che rợp lùm dây leo hoa tím hay giàn bông giấy ngũ sắc lộng lẫy xiêu xiêu trong gió. Đường Sương Nguyệt Ánh may mắn nay vẫn còn đủ hai hàng cây nhưng cảnh sắc khác xưa nhiều lắm. Nhà cửa đồ sộ, tráng lệ nhưng toàn xi măng khô nóng lạc lõng vô duyên, ô tô đậu chen chúc  chẳng còn một khoảng không để thở, người đi bộ tràn xuống lòng đường, thật khó khăn mỗi khi muốn băng ngang qua lộ. Còn ở đâu miền xanh bóng cây, để ta đến đó ngồi trưa nay, dường như hơi mát trong vòm lá, có chất men làm ta thoảng say (Tô Thùy Yên).

Nhà văn Võ Phiến có nói đâu đó rằng mỗi thành phố có một thứ cây tiêu biểu lưu lại nơi du khách nhiều kỷ niệm hơn các cây khác, Sài gòn với cây dầu.Chắc kể được cây me nữa. Đà lạt đặc sắc thông xanh nay cũng chỉ còn là thành phố xi măng cốt thép, thật không thể tin nổi. Cậu tôi cứ nhắc chuyện ngày còn Pháp cai trị, đốn một cây thông nhỏ về làm cây  Noel bị phạt vi cảnh đến một tháng lương công chức. Cũng không thể tin nổi! Nhắc tới cây cối trồng trên phố, vẫn chưa quên hàng phượng rực rỡ trong nắng hè trên bờ sông Hàn Đà nẵng bị thuốc khai quang hủy hoại trong chiến tranh, nay chẳng thấy trồng lại. Phượng mà trồng ờ Sài gòn là tội nghiệp nhất. Ngay bên kia đường chỗ Hội Ngữ Học ngày trước, ai đó trồng cây phượng xen giữa hai gốc dầu, cây phương tội nghiệp sinh ra không đúng thổ ngơi, lớn không nổi, lại bị bóng dầu che kín, cành nhánh cứ tán ngang ẻo lả, rủ xuống la đà, chưa bao giờ nở được cánh hoa đỏ báo hiệu mùa hè. Hội an cũ cũng nhan nhản phượng hồng, mấy năm sau bắt chước Hà nội trồng nguyên một con đường hoa sữa dày mịt, mùa hoa nở, tưởng thơm tho nhưng nhiều quá hóa ra thối hoắc, phải vội vàng chặt bỏ. Lại liên tưởng tới xóm quê cuối những năm 50 đầy thanh bình, nề nếp. Từ làng đi khoảng một cây số là đến bìa rừng với ba ngọn đồi chắn ngang gọi là núi cấm, tức cấm chặt cây. Ai chặt phá sẽ bị phạt giam, tịch thu dao rựa (vì dân nghèo không có tiền), lệnh cấm rất nghiêm, hiếm có ai vi phạm. Rừng xanh ngút ngàn, chim muông đông đủ, khe suối dồi dào, dòng chảy hiền hòa hiếm khi nổi giận, không nghe từ “lũ quét” bao giờ. Con suối chảy ra núi cấm đó dạy cho chúng tôi lòng yêu quí thiên nhiên, chứng kiến bao nỗi hân hoan  hạnh phúc của một thời tuổi thơ diễm ảo mà đám con cháu của chúng tôi ngày nay không bao giờ biết tới. Lũ chúng tôi, năm bảy đứa thiếu nhi, mỗi đứa một mo cơm, nhà ai có mắm cái cá cơm ngon thì đem theo một ve nhỏ, không cần mang theo thức ăn, sẽ câu cá, bắt ếch đá dưới khe nướng rồi dằm mắm làm thức ăn, nói ếch đá vì phải lật mấy hòn đá lên, chúng mất nơi ẩn nấp dù có nhảy nhanh và xa tới đâu cũng vẫn bị tóm, thịt chúng dai và ngọt như đường. Chúng tôi câu theo dòng suối, càng lúc càng đi sâu vào rừng, có đoạn phải trèo lên khỏi vực sâu khó khăn mới đi tiếp được. Con suối đó tổ tiên chúng tôi đặt tên Khe Gành, nhiều nhất là giống cá xanh thân ánh bạc, không lớn lắm, chỉ bằng chừng hai ngón tay nhưng khôn và… láu cá vô cùng. Đừng hòng câu được hai con trong cùng một vũng nước. Bất ngờ thả câu xuống sẽ mau chóng giật được con đầu tiên ham ăn và không bao giờ lừa được con kế tiếp mặc dù chắc chúng cũng đói bụng và thèm của lạ như con đã dính câu. Hình như chúng có tổ chức chỉ đạo đầy kinh nghiệm nên chỉ thiệt hại chút ít lúc ban đầu. Muốn kiếm thêm cá bảo đảm bữa trưa thì phải đi tiếp, ẩn nấp cẩn thận, thình lình quăng câu xuống, có thể bắt được một con và không có con thứ hai, đừng nấn ná mất công, phải đi chỗ khác. Điều lạ là vượt qua bao nhiêu vực sâu, trèo lên gần tới đỉnh vẫn có cá bơi loạn xị trong lòng suối, không biết lũ cá lên tới thượng nguồn bằng cách nào và lên cao thế làm gì cho vất vả. Dòng suối hoang sơ, lâu lâu mới có bọn nhỏ chúng tôi câu cầu vui, không hiểu sao bọn cá nhỏ thông minh, kinh nghiêm và hiểu đời tới vậy. Mặt trời trên đỉnh đầu, chúng tôi dừng nghỉ bên tảng đá, nhóm bếp nướng các thứ, những bữa cơm đạm bạc dưới bóng râm trong tiếng nước chảy róc rách vì sao cứ đeo đuổi cả đời ta? Những cánh hoa rừng tinh khiết đung đưa thơm lừng bên suối với lũ bướm nhởn nhơ chấp chới trong nắng lóa cứ đọng hoài trong ký ức, bọn nhỏ chúng tôi nói là bông chùm gởi, đâu biết đó là những thứ lan rừng thanh quí mà ông Nhất Linh săn tìm vất vả vả đặt tên chữ Hán cầu kỳ ở suối Đa mê. Hôm tôi về thăm, mấy hòn núi cấm như mái đầu ghẻ chốc, cây cối trơ trụi, chỉ còn là những đồi cỏ tranh day buồn trong gió đìu hiu. Đất xám bày ra lồ lộ khắp núi đồi quanh thung lũng. Dòng suối vẫn còn chảy nhưng chỉ là một mương nước nhỏ, đá cuội bị lũ dữ cuốn trôi, lùa từ sườn đồi lấp đầy mấy thửa ruộng ven rừng, không còn canh tác được. Mỗi năm đá sỏi càng lấn tới phủ lấp ruộng cày.  Núi, quả thật không còn phải núi nữa. Không có đạn bom của thực dân đế quốc nào có thể tàn phá quê hương bằng tự dân ta trong thời gọi là độc lập. Độc lập thì hả hê nhưng nó lại mang theo kè kè bao nhiêu cái độc khác coi bộ cũng…độc địa bội phần. Ta không đủ trình độ cai trị dân chứ chẳng lẽ ta ác với dân, với thiên nhiên, núi rừng châu báu hơn kẻ ngoại nhân sao? Mấy năm trước tình cờ xem phim, Charton Heston trong vai một nhà ngoại giao Anh đầy lòng nhân ái bị giết tàn bạo ở Afghanistan.  Anh quốc lìa bỏ, trả độc lập cho họ tự cai trị. Từ đó thôi thì đói kém tứ bề, loạn lạc khắp chốn, luật pháp bị chà đạp, văn minh thì được bảo là đồi trụy, bạo lực lên ngôi bền vững, dân chúng mặt mày hớt hơ hớt hãi âu lo thường trực. Mãi cho tới giờ này, hơn nửa thế kỷ sau, không những vẫn thế mà còn tệ hơn. Xứ đó nghe nói cũng có tới mấy ngàn năm “văn hiến” chứ đâu có tào lao mới vài trăm năm lập quốc như Hoa kỳ.

Nguyễn Khiêm

 

– Tàu lạ lại tấn công ngư dân Việt Nam

7 người bị thương

TAU LA TAN CONG NGU DANSáng nay, tàu cá của ông Đặng Nam ở Quảng Ngãi đang đánh bắt trên vùng biển giữa Quy Nhơn và Phú Yên, cách đất liền khoảng 200 km, đã bị một tàu lạ đâm chìm. Thuyền trưởng tàu bị nạn chỉ kịp phát tín hiệu cấp cứu.

Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi cho biết, tín hiệu cấp cứu được các tàu đánh cá xung quanh vị trí tàu ông Nam nhận được vào lúc 1h30 sáng 15/7. Lúc đó tàu của ông Nam đang ở trong vùng biển lãnh hải Việt Nam. Trên tàu có 9 thuyền viên.

Vụ đâm tàu đã khiến 7 ngư dân bị thương, trong đó có hai người bị thương nặng. Các thủy thủ đã kịp bám vào những vật dụng làm phao nổi trên biển khi tàu chìm. Tàu đánh cá của ông Huỳnh Bẻo đang thả lưới gần đó nhận tín hiệu cấp cứu kịp chạy đến cứu sống toàn bộ thuyền viên trôi dạt.

Ngay sau đó, ông Bẻo đã dùng Icom liên lạc báo khẩn cấp cho Đài Duyên hải miền Trung (Đà Nẵng) và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi để có giải pháp cứu hộ.

Chiều nay, tàu đánh cá cứu hộ trên đường từ ngoài khơi quay về đất liền, thông tin qua điện đàm cho biết sức khỏe các ngư dân bị thương đã ổn định. Dự kiến sáng 16/7 tàu sẽ về đến Quảng Ngãi.

Hiện tung tích tàu lạ đâm chìm tàu Việt Nam chưa được xác định.

Trí Nguyễn

Nguồn: vnexpress ngày 15.7.2009

 

– CHẶT CẦU ĐỂ TIẾN LÊN

TÁC GIẢ: T.S Vũ Minh Khương

 

 (TuanVietNam) – Nghĩ về đất nước thấy trách nhiệm, nhìn ra thế giới thấy ước mơ. Bài viết của TS. Vũ Minh Khương nhằm thể hiện dũng khí của người Việt ta trong giai đoạn đầy thử thách hiện nay.

Chuyện xưa kể rằng: Trong một trận đánh quyết liệt có tính sống còn, nhưng quân sĩ cứ lui dần, lui dần đến bờ sông. Để thể hiện ý chí quyết tâm, các vị tướng đã quyết định chặt đi cây cầu duy nhất để không còn đường rút. Khi giặc đến, tất cả đều hét vang, xông lên chiến đấu với ý chí vô song. Trận đánh thắng lợi và quyết định của các vị tướng khi đó đã trở thành một bài học lịch sử cho sự phát triển.

Dựa trên tích cổ này, trong một bài viết, TS. Vũ Minh Khương đã chọn tựa đề: Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên? nhằm thể hiện dũng khí của thế hệ người Việt Nam chúng ta hôm nay. Tuần Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết đầy tâm huyết này để mọi người cùng suy ngẫm.

 

I. Định lượng nỗi đau dân tộc:

Mỗi con người khi thấy dân tộc mình ở vào vị thế thấp kém so với tiềm năng đều mang trong mình một nỗi đau. Nỗi đau này dù không ai giống ai hoàn toàn và không thể đo đếm chính xác. Thế nhưng, nó cũng có thể ước định được ở một chừng mực nhất định. Dưới đây là một phương cách đơn giản.

 

Mỗi người hãy tự trả lời bốn câu hỏi sau:

1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?

2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?

3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?

4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Với mỗi câu hỏi, câu trả lời “có” được điểm 1 và câu trả lời “không” được điểm 0. Theo cách này, nỗi đau dân tộc của mỗi con người được đo bằng tổng số điểm của ba câu hỏi đầu trừ đi điểm của câu hỏi 4. Ví dụ, người mà câu trả lời là “có” cho cả ba câu hỏi đầu và “không” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng 3 (1+1+1-0=3); đó là nỗi đau ở mức tột cùng. Trái lại, người mà câu trả lời là “không” cho cả ba câu hỏi đầu và “có” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng -1 (0+0+0-1= -1); trong trường hợp này, người trả lời không có nỗi đau gì và thấy rất hài lòng với hiện tại.

Trong tập thể hàng triệu người, mức đau này có thể khác nhau, nhưng có lẽ, nhiều người cùng chia sẻ một cảm nhận là mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta cũng không thấp hơn quá xa so với mức tột cùng nói trên. Người viết bài này mong rằng Ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội khi có dịp hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình. Nếu mọi người thấy không đau mà lại tự hào vì thấy dân mình được “xếp hạng hạnh phúc hàng đầu thế giới”[1] thì cũng là điều đáng suy nghĩ lắm.

 

II. Định lượng nguy cơ mất nước:

Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào cách làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.

 

III. Tình thế nước ta và đôi điều trăn trở

Ai đã sống ở nước Nhật chắc đều ấn tượng về sự sâu sắc và cẩn trọng trong hành xử của dân tộc này. Họ đã làm nên những điều kỳ vĩ trong cải cách Minh Trị trong nửa cuối thế kỷ 19 và sự vươn lên kỳ diệu từ đống tro tàn sau thế chiến thứ Hai.

Điều đặc biệt đáng nói là Nhật Bản đã và đang là quốc gia có sự đồng cảm và giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc phát triển vừa qua. Thế nhưng, dường như sự kỳ vọng cao của họ về một dân tộc Việt Nam có thể so sánh được với Hàn Quốc hay Nhật Bản có lẽ đang tắt dần. Quan sát động thái hợp tác của Nhật Bản với nước ta có thể giúp chúng ta thấy phần nào cảm nhận của bè bạn thế giới về tương lai của nước Việt chúng ta.

Năm 2006, tại Tokyo, Nhật Bản và Việt Nam có tuyên bố chung rất long trọng và ấn tượng khẳng định hai bên cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược[2]. Viện trợ của Nhật Bản cũng từ đó tăng lên.

Thế nhưng, Việt Nam, khác với những quốc gia và vùng lãnh thổ có công cuộc phát triển kỳ vĩ (như Hàn Quốc hay Đài Loan), viện trợ nhiều lên không làm chất lượng thể chế của chúng ta tốt lên, mà trái lại sa sút trong sự so sánh với thế giới (hình 1). Đáng buồn hơn nữa, tháng 12 năm 2008, Nhật Bản thông báo tạm ngừng viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề tham nhũng và tin này công bố rộng rãi khắp thế giới.[3]

CHAT CAU TIEN LEN 01

Hình 1. Việt Nam: Viện trợ Nhật Bản và chất lượng thể chế

Nguồn: số liệu về ODA Nhật bản (khoản cho vay) từ bộ ngoại giao Nhật bản; số liệu về hiệu lực chính phủ từ Ngân hàng Thế giới.

Ví dụ trên cho thấy sự sa sút của chúng ta không phải do ai chống phá, mà chính do sự yếu kém trong hệ thống trước công cuộc phát triển của dân tộc.

Trong thực tế hiện nay, chúng ta không thể đổ lỗi cho cá nhân cụ thể nào mà phải thấy đây là “lỗi hệ thống” như nhiều người đã từng nêu ra. Bản chất của lỗi hệ thống là sự khủng hoảng về hệ thức tư duy[4]. Nguyên nhân gốc rễ của sự khủng hoảng này là do những định đề và thiết kế tổ chức kiểu cũ đã trở thành lực cản cho quá trình nhận thức của tư duy và cải biến của xã hội sang khung thức vận hành mới.

Nếu hệ thống quản trị xã hội không chủ động tạo sự chuyển dịch có tính hồi sinh sang khung thức phát triển mới thì xã hội chắc chắn sẽ trải qua giai đoạn khủng hoảng trong sự suy tàn của hệ thống cai trị hiện thời. Trái lại, nếu hệ thống biết chủ động nắm bắt qui luật, mạnh dạn bước vào công cuộc hồi sinh thì nó có thể bước vào trạng thái khởi phát (xem Bảng 1 dưới đây).

 

IV. Làm gì để vượt lên

Không ít bè bạn đã có thời tin rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần quật khởi và là một ứng viên làm nên những kỳ tích phát triển ở nửa đầu thế kỷ 21. Trong thế kỷ 21 này, động lực cho sự phát triển thần kỳ chỉ có thể có được nếu ba điều kiện sau hội đủ:

 

1- Toàn dân tộc đồng tâm trong khát vọng vươn lên sánh vai các dân tộc vẻ vang của thời đại.

2- Hiểm họa an ninh quốc gia ngày càng gay gắt.

3- Hệ thống chính trị nhận thức được lòng dân là ánh sáng mặt trời và văn minh nhân loại là qui luật của trời đất. Trong nhận thức đó, lãnh đạo phải là người có thể ngẩng cao đầu đón ánh mặt trời của lòng dân và lái con thuyền dân tộc vượt qua biển cả trong sự thuận hòa của qui luật trời đất.

Kinh nghiệm của Indonesia với thắng lợi vang dội của Tổng thống Yudhoyono trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tháng 7 vừa rồi là điều đáng suy nghĩ. Ông được đánh giá là đã làm xuất sắc cương vị tổng thống trong 7 năm qua (2002-2009) với nỗ lực ấn tượng trong củng cố nền móng phát triển của Indonesia và chương trình chống tham nhũng với lời nói và hành động nhất quán và mạnh mẽ.

Cũng nhờ vậy mà trong mấy năm qua, Indonesia đã vượt lên từ sự sa sút sau sụp đổ của chính quyền độc tài Suharto và trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong các nước Đông Nam Á trong những tháng đầu năm 2009. Cũng trong bối cảnh dân chủ sống động, ở Malaysia, Thủ tướng mới Najib nhận được sự đồng thuận cao của người dân (65% tín nhiệm) sau 100 ngày cầm quyền nhờ những cải cách đặc biệt ấn tượng.

Trong nỗ lực cải cách hệ thống ở Việt Nam, với xu thế tất yếu hướng tới một nền dân chủ do dân và vì dân, chúng ta trước hết cần đặc biệt chú ý áp dụng một số cải tiến kỹ thuật, tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa cực kỳ then chốt. Dưới đây là hai ví dụ nhỏ.

 

1- Lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử

Trong bối cảnh không dễ dàng đổi thay một cơ chế hay một hệ tư duy, việc lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử có tác dụng quan trọng.

Bài học này có từ kinh nghiệm của Tổng thống Abraham Lincoln khi ông còn là một luật sư. Khi đó nước Mỹ có luật là người lớn không thể đòi khoản nợ mà người vị thành niên vay mình. Điều luật này lập tức bị nhiều nhiều thiếu niên lạm dụng: họ vay tiền rồi từ chối trả nợ. Nhiều chủ nợ cay đắng chấp nhận vì luật pháp không ủng hộ họ.

Trong tình thế này, luật sư Lincoln cũng không có cách nào khác để giúp thân chủ của mình đòi nợ ngoài việc đề nghị tòa án lưu giữ hồ sơ là cậu thiếu niên này đã quỵt nợ và ghi rõ cậu đó sẽ không bao giờ được coi là người lớn nếu không trả món nợ này. Lo sợ về đề xuất này được thực hiện, cậu thiếu niên này và gia đình đã vội vã xin trả món nợ và tình trạng quỵt nợ kiểu này từ đó không còn nữa.

Bài học này cho thấy, con người ta sẽ thường chỉ có hành vi lạm dụng khi trốn lủi được sự phán xét. Do đó, chúng ta đề nghị có đạo luật để Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ phải lưu trữ thật tốt mọi luận bàn và quyết định quan trọng về chính sách phát triển và bổ nhiệm nhân sự để toàn xã hội được biết trong một thời hạn sớm nhất có thể. Khi đó, ai đề xuất hay quyết định những việc gì, dù tốt đẹp cho dân cho nước hay làm hại dân hại nước; dù đề bạt người hiền tài hay nâng đỡ kẻ tham nhũng sẽ đều được sự phán xét nghiêm minh của lịch sử.

 

2- Lựa chọn và đánh giá lãnh đạo dựa trên phân loại khoa học

Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo và chủ chốt có ý nghĩa sống còn với công cuộc phát triển. Công việc hệ trọng này nên dựa trên một sự phân loại khoa học, có hệ thống. Tối thiểu cần dựa trên hai tiêu chí: Phẩm chất hiến dâng và Tư duy cải cách. Trên mỗi tiêu chí, cho điểm từ 1 đến 5 (1=rất thấp so với mức trung bình; 2=thấp hơn mức trung bình; 3=mức trung bình; 4=cao hơn mức trung bình; 5=vượt xa mức trung bình).

Để lựa chọn người cho một cuộc bầu cử chính thức, một tổ chức (dù là Đảng, Quốc hội, hay Chính phủ) nên có phân loại khoa học theo hai tiêu chí trên. Ví dụ: (i) Ban Chấp Hành Trung ương đánh giá về các ủy viên Bộ Chính trị hiện tại hoặc các ủy viên dự kiến cho khóa tới; (ii) Quốc hội đánh giá các bộ trưởng và các vị giữ trọng trách cao hơn.

 

Tổng hợp đánh giá của cả tập thể về một cán bộ chủ chốt sẽ cho phép phân loại cán bộ theo hình vẽ 2 nêu trên.

Theo đó, chỉ người có mức điểm trung bình cao (nghĩa là trên 3,0) trên cả hai tiêu chí: “Phẩm chất hiến dâng” và “Tư duy cải cách” (ô I) mới được lựa chọn vào bầu cử cho các cương vị cao như ủy viên Bộ chính trị hay bộ trưởng và các vị trí cao hơn. Đảng và Quốc hội, nếu muốn có lòng tin của dân cần công khai các chỉ số này cho cán bộ chủ chốt ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đánh giá của nhiều người, có nhiều cán bộ chủ chốt của ta ở ô III (có năng lực nhưng cơ hội, tham nhũng) và ở ô IV (vụ lợi cá nhân, bảo thủ). Điều đặc biệt đáng nói là cách đánh giá này không chỉ xác đáng còn tạo động lực để mỗi cán bộ đều tự rèn luyện và tốt hơn lên. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là, tất cả những ai được đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, thậm chí chỉ là cán bộ trong bộ máy nhà nước, đều phải ở ô I với độ tin cậy cao của toàn dân về phẩm chất hiến dâng và tư duy cải cách.

 

V. Thay lời kết

Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.

Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày. Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “chặt cầu để tiến lên không?”

TS. Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore)

Chú thích

[1] Tổ chức New Economic Foundation vừa đưa ra xếp hạng chỉ số hạnh phúc năm 2009, trong đó Việt Nam xếp hạng 5. Điểm tốt của cách xếp hạng này là khuyến khích các nước tiêu dùng ít vật chất hơn. Điểm hạn chế là phương pháp dễ gây ngộ nhận cho các nước nghèo. Thứ nhất, họ dùng khảo sát mức độ hài lòng với cuộc sống thực hiện năm 2005 (nghĩa là 5 năm trước đây) và khảo sát này chủ yếu dựa vào một nhóm nhỏ người sống ở thành phố. Thứ hai, họ chia chỉ số hài lòng cho lượng vật chất tiêu dùng; nói một cách nôm na, chỉ số hài lòng của người Mỹ là 8 nhưng vì họ đi ô tô nên chỉ số hạnh phúc của họ thấp hơn Việt Nam với chỉ số hài lòng là 6,5 nhưng đi xe máy.

[2] “Japan-Vietnam Joint Statement: Toward a Strategic Partnership for Peace and Prosperity in Asia”; October 19, 2006; Ministry of Foreign Affair, Japan; URL: http://www.mofa.go.jp/region/asia-pa…joint0610.html, xem ngày 11/07/2009.

[3] “Japan Suspends Aid to Vietnam, Citing Corruption”; URL: http://www.bloomberg.com/apps/news?p…2Ko&refer=asia, xem ngày 11/07/2009

[4] Xem thêm Elgin, D. (1977), “Limits to the management of large complex systems”, Assessment Of Future National and International Problem Areas, Stanford Research International, Palo Alto, CA.

Phản hồi

hanhdragon nói:

14/07/2009 lúc 10:35 chiều

Tôi đọc trên diễn đàn của BBC thấy có rất nhiều người hãnh diện vì Việt Nam được xếp thứ 5 trong top 10 nước hạnh phúc nhất thế giới và hôm nay đọc bài này của TS Vũ Minh Phương lại thấy người dân VN lại cạn nghĩ và đơn giản quá, họ chỉ thấy những con số thống kê và đã tin rồi.

Hoài Quốc Việt nói:

14/07/2009 lúc 3:20 chiều

Bài báo này làm tôi nhớ đến bài hát ngày xưa: Một người ngã gục thì một người đứng lên… mình mà ngã gục thì giòng Lạc Hồng sáng chói…
Rất đáng khâm phục lòng quả cảm của những nhà báo chân chính, không sờn lòng trước bắt bớ, răn đe, thải hồi chức vụ đã xảy ra trước đây với các đồng nghiệp của các anh. Hình như Luật sư và nhà báo đang lọt vào tầm ngắm của bộ máy cai trị độc đoán này thì phải. Chân thành cám ơn các anh/chị đã cho đăng những bài cần phải được đăng.

Lê Điều nói:

14/07/2009 lúc 7:03 sáng

Ông Vũ Minh Khương “mong rằng Ban chấp hành trung ương Đảng và Quốc hội khi có dịp hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình.”

Ông sinh năm 1959, vào Đảng năm 1981 (22 tuổi), nay đã có 28 tuổi Đảng, từng giữ nhiều chức vụ không nhỏ trong bộ máy lãnh đạo chính trị và kinh tế tại Việt Nam. Chắc chắn ông phải biết BCHTÜ Đảng chỉ có thể báo cáo “Nỗi đau bằng -1″ của mình thôi, tức là thấp hơn “mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta”. Vì thế tôi thực sự rất e ngại cho ông Vũ. TGM Ngô Quang Kiệt mới trả lời câu hỏi 1 trong “định lượng nỗi đau dân tộc” bằng “Có” (+ 1 điểm) thì đã bị đánh tơi bời rồi. Nếu một ngày không xa, Bộ Công an công bố lệnh bắt khẩn cấp TS Vũ Minh Khương vì đã cấu kết với tổ chức phản động… không lưu vong là Tuần Việt Nam để tuyên truyền bôi nhọ đất nước, dân tộc và chống phá chính quyền nhân dân thì cũng không đáng ngạc nhiên. So với những bài viết của LS Lê Công Định, bài viết này của ông Vũ quả là đi xa hơn nhiều nữa. Thông điệp quan trọng nhất của bài viết, nói trắng ra là: Ngược với tinh thần tuyên truyền “thời cơ vàng” (hình như cũng rất mạnh trên VNN?)và “lo gì mà lo, có Đảng lo hết cho rồi” thường lệ, ông Vũ cho rằng tình hình VN rất nguy kịch, bắt buộc phải có quyết định “một là sống, hai là chết” (chặt cầu sau lưng).

Một đảng viên loại một nói ra những lời ấy thì trong nội bộ ĐCSVN quả là còn có những lực lượng khác đang sôi sục!

Nguyễn Việt nói:

14/07/2009 lúc 12:54 sáng

Tôi nhớ thời chiến tranh hay đuợc các cán bộ lãnh đạo dạy dỗ tinh thần chiến đấu: „Địch phá ta lại sửa ta đi“ hay là sau này: “Cứ làm tới đi, sai đâu sửa đấy!“. Tinh thần này vẫn đang được một số nhà báo, biên tập viên ở Việt Nam quán triệt! Chẳng riêng gì VNN, các báo Sài Gòn Tiếp thị, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Dân trí, Tia sáng, Vitinfo… luôn tìm cách đưa các ý kiến đa chiều và chấp nhận bị bắt phải xóa bài hoặc xóa các ý kiến bạn đọc.

Vài giờ sau khi đăng bài này của Vũ Minh Khương, Tuần Việt Nam đã phải gỡ xuống, vì đuợc ai đó trách là đi sai luồng. Một blog khá nổi tiếng khác từ Hà Nội cũng đăng bài này từ sáng sớm hôm nay. Sau khi tôi cảnh báo với ông bạn blogger là bài gốc bị xóa rồi, cậu ta cũng xóa ngay. Tuy nhiên hàng trăm ngàn người đã đọc đuợc trên các trang web như vậy truớc lúc nó bị xóa. Kẻ thì hả hê đuợc ăn trái cấm, kẻ thì nhăn nhó hít hà vì ớt xanh cay quá.

Tôi đã phải đùa với ông blogger kia sau khi hắn ta xóa bài: Từ bài báo “Chặt cầu để tiến lên” nay đã thành bài “Lùi lại để khỏi bị chặt đầu”.

Dù sao thì tiến cũng vài buớc, mà lùi có một buớc thôi! Cứ làm đi, sai đâu ta lại “sửa” đó mà!

Vũ Hoài Nam nói:

13/07/2009 lúc 11:31 chiều

Chuyện chặt cầu quyết tử liên quan đến cái sống chết của con người, dừng lại để đánh thì thua, ai dám đánh khi địch mạnh thế, mà lại có đường rút, tất nhiên đánh cũng chết mà chạy thì chắc không nổi, chỉ có bị dồn vào đường cùng con người ta mới dám “quyết tử”, vị tướng rất hiểu con người ở chỗ đó nên mới cho chặt cầu. Chuyện nước Nam ta yếu hèn thì khác, nó không hệ trọng đến cái “chết cá nhân”. Dân ta ngủ yên trong hào quang chiến thắng cường địch, nói gì thì nói, kinh tế bây giờ có hơn, những người hiểu rõ giá trị của vấn nạn thì quá ít, còn lơ mơ chỉ lo đến nồi cơm của mình thì là tình trạng chung, thế thì việc gì họ phải lo lắng “quốc gia đại sự” sắp tới hồi cáo chung, hay chỉ cho đó là “rỗi hơi lo chuyện thiên hạ”. Khá hơn tí nữa là có nghe đấy nhưng “Chắc nó chửi ai đấy chứ đâu phải chửi mình”. Nhìn lại lịch sử từ những năm Bắc thuộc tới nay và tính đến tính cách người Việt một cách khách quan tôi tin là sẽ chẳng bao giờ Nam bang ta mới chịu chặt cầu để tiến bộ. Chỉ đến khi nào “Kẻ thù sau lưng ngươi đó!” thì tuốt kiếm ra giết chết con mình rồi biến ra biển ra… hải ngoại. Khi nào có điều kiện hợp pháp thì “Tôi sẽ là người Mỹ, Anh, Pháp…”, thế là rảnh tội nợ. “Sống dễ lắm!”

Phùng Tường Vân nói:

13/07/2009 lúc 8:48 chiều

Thứ Hai là ngày mà nhiều người cho là cái “ổ gà” (pothole) của đường đời, được đọc hai bài thật thích thú: bài này của TS Vũ Minh Khương và bài “Mọi” của Duy Ngọc, mỗi bài một vẻ nhưng đầy hàm súc, rất mong được quần hào phản hồi sôi nổi.

Nguồn: talawas blog 14.7.2009