KÝ ỨC SƠ SÀI 01

Nguyễn Khiêm

KỲ MỘT

KY UC SO SAI 02Làng Non tiên, quê tôi, nằm ven con sông con chảy ra sông Vu gia tạo thành ngã ba sông, có đò ba bến nơi làng Hà tân –  quê hương của danh hề Hoài Linh. Toàn vùng nằm trong một thung lũng phía tây huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng  nam (Nơi diễn ra hai trận đánh đẫm máu, trận Thường đức và trận đồi 1062 vào những năm cuối cuộc nội chiến.). Dòng sông trong veo trườn ngoằn ngoèo dưới chân núi, ngồi trên đò ngang có thể nhìn thấy con tôm bơi lửng lờ trong lòng cát trắng. Cho đến đầu thế kỷ trước, làng tôi hình như vẫn là làng giàu nhất xứ, nhờ thiên nhiên ưu đãi: Một con suối nhỏ chảy hiền hòa quanh năm ngang qua cánh đồng đủ cung cấp nước cho cư dân gieo cấy hai mùa trong khi các làng khác phải đợi mưa cho một mùa lúa duy nhất trong năm. Cách nay ngót trăm năm mà dân cư đã dựng được mấy chục ngôi nhà rường lợp ngói, vách tường. Trước năm 40, ông tôi đã sắm được xe đạp, súng săn hai nòng. Từ xa xưa, tổ tiên tôi đã “qui hoạch” một ngọn đồi trồng gỗ sao để dựng đình chùa, một triền núi trồng mít lấy gỗ tạc tượng Phật, mấy gò hoang rộng rãi trồng xoài hầu con cháu chia nhau ăn. Hằng năm, mỗi nhà đấu giá một cây lúc trái còn xanh, sở hữu cây đó cho đến hết mùa. Đó là giống xoài cơm nhỏ quả, chín cây, thơm nức và ngọt lịm. Những đồi xoài chín vàng đung đưa trong mưa giông tháng ba vẫn chập chờn theo tôi vào giấc ngủ mãi đến tuổi già và con suối róc rách ven bờ tre vẫn chảy mãi trong hồn tôi tận những ngày xế bóng. Tất cả đình chùa đồ sộ và đẹp thần tiên ven sườn núi đã bị Việt  Minh đốt phá trong tháng tám 1945, có lẽ cốt xóa dấu tích phong kiến hơn là tiêu thổ kháng chiến như họ vẫn thường bảo. Rồi  lần cuối, một buổi chiều 1965, máy bay Mỹ hủy diệt ngôi làng bằng 50 quả bom 500 cân Anh. Thuốc khai quang cũng quét sạch mấy đồi xoài, không một cây sống sót. Nay thỉnh thoảng tôi vẫn về lại thăm mồ mả tổ tiên. Về lại để thấy rong chìm, thấy đá nổi và không thể tin làng quê như một chốn địa đàng ấy đã từng có tại đây chỉ mấy mươi năm trước. Ngày đó, tôi học Tiểu học cách nhà chừng ba cây số, đi bộ trên bờ ruộng, vượt mấy cây cầu khỉ, ngang qua gò gỗ sao vắng tanh rờn rợn, nghe con công “tố hộ” trong lũng xa. Mấy học trò lớn chuyên dọa cọp, nhác ma, chiều đi học về chạy rớt dép, mực đổ tèm lem khắp mình mẫy. Kỷ niệm “sâu sắc” nhất, năm lớp ba, tôi bị ông thầy, vốn  người trong xã, xô mạnh, trán  va vào bảng đen đau điếng chỉ vì tôi viết THÌ MÀ LÀ  hơi nhiều trong bài văn miêu tả. (ông thầy, nếu còn sống đến nay, chắc ông đề nghị xử bắn hầu hết các biên tập viên đài truyền hình Vờ Tờ Vờ, họ nói một câu với hàng chục tiếng THÌ MÀ LÀ, nghe “bức xúc” tệ). Về mấy nhân vật trong làng, tôi không quên được ông bác họ. Mọi người cứ nhắc mấy chuyện về ông sau 1975. Hồi đó công an thôn, cũng là con cháu trong làng, phát cho mỗi nhà mấy câu khẩu hiệu để dán lên vách. Bác tôi chừa lại, không treo lên câu “Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, bị hạch hỏi lý do, bác nói bác đã nghĩ kỹ, bác thấy sự nghiệp của bác tệ quá, chỉ có mỗi tấm phên rách, Bác Hồ sống ở đây chi cho cực khổ, Bác nên đi chỗ nhà giàu “sống mãi” khỏe hơn. Môt lần ra thăm đồng, lúa vừa trỗ bông, gió bấc bỗng tràn về, nhìn bông lúa xác xơ, bác lẩm bẩm: “gió kiểu này thì rồi ra chỉ còn Bác Hồ sống mãi thôi, ai cũng chết tiệt hết.” Coi bộ bác tôi “tâm đắc” câu  sống mãi… đó dữ. Lại một đêm hội họp, học tập gì đó tại trụ sở thôn, về khuya ai cũng mỏi mệt, ngủ gà ngủ gật mà viên cán bộ xã  lại cao hứng chỉ ra nguồn gốc tổ tiên loài người là  khỉ, bác giơ tay xin phát biểu ý kiến: “Dạ , tôi thấy tổ tiên loài người là con khỉ hay con chi cũng được, xin cho chúng tôi về ngủ, mai đi mần sớm”. Nghe nói, nhưng không chắc, ông là tác giả câu nhận xét về “lưu thông phân phối”:  Có cứt chi mà phân, có phân cũng như…cứt.

Năm 1956, vào học lớp Đệ thất tại trường Trần Quí Cáp, chúng tôi phải lội bộ rục giò 25 cây số từ quê nhà tới Ái Nghĩa mới có xe đò đi Hội An để qua một kỳ thi concours tương đối khó vào lớp Đệ thất. Từ đây bắt đầu bảy năm trung học ăn nhờ ở chực với nhiều nỗi đắng cay. Nghề nông không còn khá nữa, tiền khó kiếm, má tôi vất vả lắm mới chu cấp đủ cho tôi ăn học. Càng điêu đứng hơn khi mùa đông năm đó ba tôi qua đời vì bạo bệnh. Ông chỉ mới 37 tuổi. Tháng ngày tiếp sau, tôi chẳng thiết học hành, không nguôi đau đớn tiếc thương ba. Ba tôi  đang làm công chức cho Pháp, chef gare Trà kiệu, Kỳ lam, năm 1945 bỏ về theo kháng chiến. Phải chi ông bớt yêu nước một chút hẳn cuộc đời chúng tôi đã khác. Thị xã Hội an ngày ấy trong trí nhớ tôi với những cống nước thải lộ thiên bốc mùi tanh nồng dưới nắng hè gay gắt, những ngày mùa đông mưa dầm áo quần phong phanh đi học ngang qua ruộng rau muống gió thổi lồng lộng lạnh thấu xương, mặt mày tái mét. Hội an với những ngôi nhà cũ kỹ mái ngói rêu phong, thấp lè tè, rệu rã như muốn đổ nhào trong cơn lụt sóng vỗ bập bềnh, nước ngập  gần tới nóc  phố dọc sông Hoài. Hội an với cách phát âm rặt địa phương, “mắm” thành  “múm”, “xuân” thành “xưng”, “cá lác” là “cá lóc”, lạ nhất là “phim” thành “phin” ( Tối  nay rạp Hòa bình chiếu phin(!) “Cầu sông Kwai”). Hội an với món cao lầu đặc trưng nấu bằng thịt heo xa-xíu, ăn với cọng bánh giòn giòn cán từ bột mì ngâm nước tro nước vôi gì đó. Nghe nói phải dùng nước giếng Bá lễ mới được. (chắc là huyền thoại  dành cho một món ăn đơn giản). Các bạn tôi, nhất là Mạc Phi Hoàng, con trai nhà buôn Phi yến nổi tiếng, hễ có tiền là đi ăn cao lầu, ăn hai ba bát. Như Lâm Ngữ Đường có nói văn hóa là những món ăn mẹ ta cho ta ăn từ ngày bé dại. Hội an ngày đó  thu mình trong chiến tranh, buôn bán sơ sài, dân cư nghèo khó, hầu hết không có tiền sửa nhà. Đó là một bất hạnh đầy may mắn, nhờ thế nên tới thời CS cai trị, thị xã trở thành khu du lịch phố cổ nổi tiếng khắp thế giới. Đúng là thánh cho ăn lộc. Nếu không còn mấy ngôi nhà cổ và giả cổ, thành phố sẽ sống bằng gì? Những năm đầu trung học, hễ có dịp là tôi đạp xe về quê, được nghỉ lễ vài ngày, tôi tự cho phép mình nghỉ thêm vài bữa nữa. Tôi hay bị phạt cấm túc vì trốn học. Mặc kệ, miễn được về quê tắm sông câu cá, lên đồi Sơn điều hái sim (Ôi, “ngọn  Sơn điều đen nhánh một mùa sim” (thơ của ông chú tôi), vào suối nằm trên tảng  đá dưới vòm cây râm mát nghe chim hót vang lừng trong hẻm núi là tôi quên hết mấy giờ cấm túc. Gần như lần nào trên đường về tôi cũng ghé vào quán chỗ Cầu chìm ăn  bát mỳ Quảng nhưn thịt gà. Ngôi quán nhỏ lợp tranh dựa lưng vào núi, phía trước che rợp một giàn thiên lý thơm lừng.  Mỗi lần nhớ tới, không hiểu sao tôi liên tưởng tới câu lục bát của Tô Thùy Yên:

Xót thay hoa đợi trên giàn

Quán xanh còn mở cho chàng về qua.

Đã nửa thế kỷ trôi qua, nay tôi đi  ngang đó, quán xưa đâu còn dấu tích.

Năm 1963, tôi phải ra Huế thi tú tài 2, ban văn chương C. Lên đến đỉnh đèo Hải vân phải dừng lại đợi xe cộ bên kia đèo lên hết rồi mới được đổ dốc. Chúng tôi ngồi ăn bánh bèo, chè đậu ván nước, không thấy ngon vì mãi lo chuyện thi cử.Thi xong trở về quê rong chơi, đợi đài phát thanh Huế báo kết quả. Không lo nhiều vì nghĩ mình sẽ đậu. Sau đó tôi vào Sài gòn ghi danh đại học văn khoa với học bổng đủ sống của Hội Thánh Tin Lành Aliance. Tôi chịu ơn hội thánh. Mỗi lần nghĩ tới chuyện này tôi lại buồn buồn, ái ngại nữa, vì nay tôi không còn đi nhà thờ.Tôi không mấy thích nhà thờ, mặc dù thâm tâm vẫn còn tin có Chúa. Nhờ hát thánh ca từ bé, nhạc của Bach, Mendelssohn, Handel… Tôi quen với các giai điệu nhạc cổ điển tây phương đến nỗi riết rồi không muốn nghe nhạc nào khác, mặc dù tôi mù tịt nhạc lý… Không biết tôi vốn có máu vong bản hay sao, mỗi khi nghe mấy nhạc sĩ VN dựa vào làn điệu dân ca này nọ để viết ca khúc, tôi chán ngán quá lắm. Khi tôi vào đến Sài gòn thì cuộc lật đổ chính quyền Ngô đình Diệm đã xong, chỉ còn vết tích bom đạn trên đường Thống nhất, dinh Gia long… Hai năm sau, thấy học Văn khoa phiêu quá, tôi nộp đơn thi vào Đại học Sư phạm, ban Việt – Hán, một phần cũng lo trốn lính. Thi xong, thấy bài vở hơi bê bối, nghĩ mình không đậu, tôi bỏ lên Đà lạt chơi. Tôi sững sờ nhận thấy Đà lạt thông xanh, hồ trong vắt, dân chúng hiền hòa, thiên nhiên đẹp như trong chiêm bao, theo tôi, không có cây gì trên đời đẹp bằng cây thông Đà lạt. Việt nam, ở một khía cạnh nào đó hẳn phải biết ơn nước Pháp, họ khai hóa ta thật sự. Cứ nhìn đất nước từ ngày gọi là độc lập thì thấy ngay. (phải chi độc lập…trễ hơn chút!). Về Sài gòn, tôi chạy đến trường xem kết quả, thấy thông báo viết bằng phấn cho riêng tôi: N.A.K liên lạc gấp với văn phòng trường để thi vấn đáp. Tôi hết hồn, vào ngay văn phòng, bị thầy nào mắng, tôi không còn nhớ “Anh đi đâu giờ này mới tới? Anh thi cử kiểu gì vậy? Có muốn học không? Tôi ngồi đợi một lúc thì thầy Lê Hữu Mục đến. Dĩ nhiên tôi chỉ biết tên thầy sau này lúc thầy dạy chúng tôi chữ Nôm. Thầy hỏi tôi mấy câu, hơi qua loa, tôi nhớ một câu: “Theo anh, bầu cử hay bàu cử đúng?” Tôi nói “bầu”, thầy nói “sai” nhưng  tôi cũng đậu. Bao nhiêu năm học, thú thật, tôi không có thiện cảm với thầy, tôi bực bội vì thầy dạy chúng tôi học chữ Nôm bằng cách chép tự điển Génibrel rồi học thuộc lòng. Về sau, hoàn cảnh buộc phải học thêm Anh ngữ, tôi mới thấy thầy đúng. Học thuộc lòng là “the best way”, tiếng Anh còn vậy, huống gì chữ Nôm.Tôi còn viết bài trong tờ nội san Việt –  Hán có ý chê thầy. Tôi sai trái quá chừng, ước chi thầy còn sống để tôi được thốt lời xin lỗi . Tôi còn chưa quên có lần thầy nói với lớp tôi lời phê phán của thầy Trần Văn Tấn (tiến sĩ toán ở Pháp, Khoa trưởng Đại Học Sư Phạm, người Bến Tre) như sau: “Người Bắc mấy anh nói quá nhiều mà làm thì chẳng bao nhiêu, coi bộ, cái được nhứt của mấy anh là đem theo…phở vào Nam thôi.” Thầy Mục nói thêm: “Cũng đúng chứ, nói nhiều làm ít cũng chướng”. Về thầy Tấn, thầy là Khoa trưởng, tôi chỉ là sinh viên quèn, chưa bao giờ gặp trực tiếp thầy. Mãi tới sau này, dưới thời cách mạng cai trị, đám sinh viên sư phạm cũ  gọi tới gặp thầy bàn tính giúp thầy (mà họ bắt chước ngôn ngữ mới gọi là “hỗ trợ” ) về chuyện thầy ra ứng cử quốc hội gì đó. Tôi không hiểu thầy ra ứng cử dưới áp lực nào hay tự thầy nghĩ có thể đóng góp chút gì cho giáo dục nước nhà. Dù với mục đích gì, tôi thấy chuyện thầy ra cũng thật đáng tiếc. Thầy có vẻ sợ rớt nữa mới lạ chứ (ngày xưa thi Tiến sĩ toán bên Pháp không biết thầy có sợ rớt như vậy không) . May sao kỳ đó thầy “đậu”. Từ đó là xong, biệt vô âm tín. Không hề nghe thầy nói gì, không thấy hình ảnh thầy trên TV. Nghĩ cũng buồn. Học cổ văn Tàu với thầy Giản Chi, nay không còn nhớ Đào hoa nguyên ký nội dung ra sao nữa. Học chữ Hán với thầy Lưu Khôn, nay chỉ còn nhớ cách giải nghĩa đơn giản dễ hiểu của thầy như độc lập là đứng một mình, tiến bộ, tiến là lên phía trước, bộ là bước, du kích là vừa đánh vừa…chạy, kích thích là đánh và đâm, thích khách là  thằng cha chuyên đi đâm người ta, cảm là dám, tử là chết, cảm tử là dám chết, đầu là bỏ, đầu phiếu là bỏ phiếu vào thùng, đầu tư là bỏ tiền của vào… Thầy Khôn, ai nói chi thầy cũng “dạ”, sinh viên hỏi gì thầy nghe không rõ, thầy hỏi lại “dạ chi?”. Ngại quá. Thầy Trần Trọng San hay ngượng, mỗi lần ngượng thì đỏ mặt tía tai (Không biết thầy có họ hàng chi với ông Trần T Đ Đ…, tác giả một quyển sách đồ sộ với tư liệu sai be bét, nhận định hàm hồ và đầy bạo lực về văn học miền Nam mà Nguyễn Thế Cường đọc xong phát hoảng, bảo “vô liêm sỉ viết bằng chữ vàng” !). Tôi nhớ ngày đi quân sự học đường về, mấy tay giỏi chữ Hán đọc cho thầy nghe bài “Bành Tổ Tòng Quân ký” cả lớp cùng góp ý viết để chọc ghẹo Lê Ngọc Thơ vì cái vẻ già nua của anh, dù anh không lớn tuổi hơn ai; thầy cười ha hà, mặt đỏ rần, thầy khen không ngớt, bảo hài hước lắm, các anh giỏi lắm. Mấy tay mang tiếng giỏi Hán văn trong lớp phải chịu trách nhiệm việc quên  tác phầm sáng giá nhất của lớp này (nói theo kiểu Nguyễn Thế Cường thì “lấy quyền gì mà quên”) . Thầy Phạm Văn Diêu dạy Việt văn. Hai tác phẩm biên khảo của thầy (Văn Học Việt Nam và Việt Nam Văn Học Giảng Bình), nhất là cuốn sau, không kém gì cuốn của Hà Như Chi lại ít được biết tới trong khi sách của H.N.Chi nổi như cồn. Cả lớp cứ cười nhóm từ trên đầu môi của thầy mỗi lúc giảng văn: tươi tắn như rau vườn mới hái. Thầy hay mang theo bia lon trong cặp, nghỉ giữa giờ hay lôi ra mở lộp bộp để giải khát. Mập mạp, mặt thường đỏ gay, giải khát toàn bia, tôi nghĩ thầy dám bị tension lắm. Và quả vậy, thầy mất vì tai biến mạch máu não sau 1975, nhà thầy cách nhà tôi có cây cầu ngắn, tôi không hay biết để tiễn đưa lần cuối, nay muốn thắp nén nhang tưởng niệm thầy cũng không còn được nữa, nhà thầy dọn đi đâu mất (không biết tủ sách đồ sộ, toàn sách quí của thầy có còn tại VN không). Những ngày gian khó sau 1975, thầy hay đạp xe đến nhà tôi chơi, thầy trở nên dễ thương hẳn. Thầy đọc cho tôi nghe mấy bài Đường luật thầy mới viết, thấm đẫm nỗi đau đời trong cuộc biển dâu. Có năm tới Tết, thầy đạp xe tới cho tôi hai ký thịt heo, trong khi tiêu chuẩn của tôi ở trường chì được một ký. Thấy vợ con tôi ngủ nheo nhóc dưới nền gạch, thầy ái ngại bảo: “Hay là tôi cho anh mượn ít cây đi vượt biên, qua tới đi làm trả lại tôi, không sao đâu”. Tôi thực sự cảm động và bất ngờ được thầy tin và thương đến vậy. Tôi nói: “Tạ ơn thầy, cho em tính lại”. Nói vậy chứ tôi biết mình không làm vì bản tính sợ chịu ơn, lại nhát gan, ngại sóng gió và làm mồi cho cá. Về thầy Giản Chi, tôi chưa quên một kỷ niệm vui. Khoảng thời gian trước ngày thầy qua đời đâu vài ba năm, anh Huỳnh Quang Vinh lớp Việt Hán đàn anh gọi đến rủ tôi đi thăm thầy, bữa đó có mấy chị lớp anh, cả Lê Trung Hoa nữa. Chúng tôi gởi xe, lên lầu ba chúng cư đường Hoàng Diệu, quận Tư. Thần sắc thầy tươi tắn, giọng nói vẫn rất khỏe nhưng thính giác thì đã kém nhiều, phải nói lớn thầy mới nghe. Thầy hỏi tên từng người, tới lượt tôi, tôi phải lôi tên mấy người giỏi chữ Hán năm đó như Lê văn Bảy, Lâm Hữu Tài, Quách Thị Trang…ra thì thầy mới ờ ..ờ…ra vẻ nhớ. Thầy hỏi tôi nay sống ra sao, tôi có thưa rằng theo như ông Nguyễn Hiến Lê bảo, người ta, đời sống vật chất nên dưới trung bình, đời sống tinh thần nên trên trung bình. Phần đầu thì tôi không lo, vì tôi dưới trung bình chắc cú, còn phần tinh thần thì tôi không chắc. Nghe vậy thầy mỉm cười vô cùng khả ái. Nhắc tới ông Nguyễn Hiến Lê, ai đó trong nhóm có bảo ông đã được đặt tên đường, thầy  bảo cũng phải, xứng đáng lắm. (đến nay tôi cũng không biết đường đó ở đâu). Mấy chị mời thầy dùng bánh mì thứ mềm mềm, tôi ngạc nhiên thấy thầy ăn được, thế thì ông cụ còn khỏe lắm. Chúng tôi làm thơ trêu để thầy vui, mỗi người làm một câu, sửa đi sửa lại một chút, tôi nhớ như sau:

Ô hay trăm tuổi vẫn còn…ngon

Giọng nói sang sảng, cười vẫn giòn

Quế Sơn bảy chục răng đà rụng

Giản Chi trăm tuổi răng cứ còn

Lúc đầu  là “vẫn còn” tôi nói bị lặp quá, nên đổi “cứ còn” đỡ hơn. Nghe vậy thầy nói : “Thầy cho con một khuyên đỏ chữ “cứ” đấy nhé.”

Vui nhất là giờ Anh văn thực hành, học với thầy Trí, người Khánh Hòa (tôi không nhớ tên đầy đù của thầy). Học nhẹ nhàng, dạy thì tếu, chuyên kể chuyện khôi hài bằng…tiếng Việt. Một chuyện thầy kể: Tay kép hát nọ đóng vai vua trong một tuồng cổ, buổi tối trước khi lên sân khấu, y làm sơ ly chè đậu đỏ bánh lọt, lúc sau, bụng bắt đầu sôi ục ục…Đang hò hét ba quân, bỗng tình thế nguy ngập, vua chạy lại ghế đặt đít xuống rồi ra lệnh nhanh gọn: “Quân bay! Khiêng trẩm vô buồng!”. Tôi cũng kể với thầy một chuyện ở quê tôi mà thầy cho là hay nhất thế giới: Một ông nọ say rượu, đi xiêu vẹo ngoài đường, té chổng gọng vào bụi tre gai, miệng lè nhè  “Đ M, Tổ cha bay, tre mà trồng giữa đường”. (tôi mới thêm chữ ĐM vào cho đúng…nguyên văn chứ hồi đó tôi đâu dám nói chữ này với thầy).

(còn tiếp)

– HỌ ĐẾN NƯỚC TA ĐỂ LÀM GÌ?

MỜI QUÝ VỊ ĐỘC GIẢ XEM ĐOẠN PHIM CỦA vietnamnet.net SAU ĐÂY

ĐỂ BIẾT NGƯỜI TRUNG QUỐC ĐẾN NƯỚC TA ĐỂ LÀM GÌ?

Nhắp chuột vào đường link dưới đây:

 http://vietnamnet.vn/xahoi/2009/06/854202/

– HỌC LÀM NGƯỜI TỰ DO

OSHO 

LỜI NGƯỜI DỊCH. Osho, tên thật là Bhagwan Rajneesh, là bậc thầy tâm linh của Ấn-độ. Ngài không chỉ dạy biết chấp nhận mọi thứ, sống trong sự liên thông với CÁI TOÀN THỂ, mà còn dạy phải sống một cách thông minh, không theo số đông một cách máy móc, không tuân theo sự phán bảo của “bề trên” một cách mù quáng. Sau khi đọc đoạn văn dưới đây, ta có thể không cần làm theo giống như Ngài, nhưng những điều Ngài nói thì thực sự đáng suy ngẫm. Trong bối cảnh của giáo dục ở nước ta hiện nay, rất cần có những quan điểm kiểu như thế này để đối chứng.

Osho_laughing_PhotoSuốt cuộc đời, từ tuổi ấu thơ cho đến khi đã trưởng thành, tôi luôn bị lên án vì không chịu nghe lời. Và tôi luôn nói: “Không phải tôi không có khả năng vâng lời. Đơn giản là tôi muốn dùng trí khôn của mình để xem cái gì đúng, cái gì nên làm, và tôi chịu trách nhiệm về việc mình làm. Nếu có gì không ổn thì đó là lỗi của tôi. Tôi không muốn đổ lỗi cho người khác vì họ đã bảo tôi làm việc đó.”

Nhưng đối với cha mẹ và thầy cô giáo của tôi thì như thế thật khó chấp nhận. Nhà trường thì bắt học sinh đến trường phải đội mũ, còn tôi thì cứ đến đầu không. Một thầy dạy lớp tôi gọi tôi lại và nói: “Cậu không biết đội mũ là bắt buộc à?”

Tôi nói: “Việc đội mũ thì sao lại bắt buộc được. Làm sao mà bắt buộc người ta làm việc đó? Mang theo cái đầu mới là việc bắt buộc, chứ không phải mang mũ. Em đến trường với cái đầu, còn thầy, chẳng lẽ thầy chỉ mang theo mũ?”

Ông ấy nói: “Cậu thật kỳ cục. Nội quy nhà trường người ta viết hẳn là không đội mũ thì không được vào trường cơ mà.”

Tôi nói: “Thế thì đã đến lúc người ta phải sửa lại bản nội quy đó rồi, thưa thầy. Nội quy không phải do trời viết ra, mà do con người. Mà con người thì có lúc sai.”

Ông thầy của tôi không tin được. Ông ấy nói: “Cậu bị sao vậy? Vì sao học trò lại không đội mũ được?”

Tôi nói: “Vấn đề không phải là cái mũ. Em muốn biết lý do vì sao lại bắt buộc phải đội mũ. Nếu thầy không giải thích được thì hãy dẫn em đến gặp thầy hiệu trưởng để bàn về việc này.”

Thế là ông ấy dẫn tôi đến phòng hiệu trưởng.

Ở Ấn-độ, người Bengali là dân tộc thông minh nhất, mà họ không đội mũ. Còn người Punjabi thì kém thông minh nhất, và họ luôn mang khăn quấn trên đầu. Tôi nói với ông hiệu trưởng: “Thầy xem đấy, người Bengali không đội mũ và họ thông minh nhất ở nước ta, còn người Punjabi thì quấn khăn rất chặt trên đầu, và họ là dân tộc kém thông minh nhất. Có vẻ cái mũ có liên quan với trí thông minh nên em không dám mạo hiểm đội mũ.”

Thầy hiệu trưởng chăm chú nghe, rồi ông ấy nói: “Cậu này thật bướng, nhưng nói có lý. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này, nhưng đúng là thế thật. Chúng ta có thể bỏ quy định bắt buộc đội mũ đi. Ai muốn đội thì đội, không thì thôi, vì nó chẳng liên quan đến việc dạy và học.”

Ông thầy dạy lớp tôi không tin nổi. Trên đường về lớp, ông ấy hỏi: “Cậu nói gì với thầy hiệu trưởng thế?”

Tôi nói: “À, em chỉ phân tích sự việc. Em không chống đối, em sẵn sàng đội mũ. Nhưng nếu thầy nghĩ nó có lợi cho trí thông minh thì sao lại chỉ đội một cái? Em có thể đội hai ba cái, cái nọ chồng lên cái kia, nếu nó làm em thông minh hơn. Em không chống, em chỉ muốn thầy chứng minh điều đó thôi.”

Thầy tôi nói, và tôi vẫn nhớ nguyên văn: “Cậu sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống. Cậu chẳng hợp với nơi nào cả.”

“Thế thì tốt quá”, tôi nói. “Em không muốn làm một thằng ngốc hợp với mọi nơi. Tốt nhất là trở thành người không phù hợp nhưng thông minh. Và em đến trường để học điều khôn, để trở thành người không phù hợp nhưng có trí khôn. Xin thầy đừng cố biến em từ một cá nhân thành một người ăn khớp với xã hội.”

Từ hôm sau, học sinh trường tôi không phải đội mũ nữa. Nhưng ông thầy đó thì vẫn đội. Bước vào cổng trường, và đã có quy định mới không bắt buộc đội mũ nên các thầy cô, kể cả hiệu trưởng, đều không đội mũ. Trông ông thầy tôi thật ngố. Tôi nói với ông ấy: “Vẫn còn kịp đấy thầy ạ. Thầy cất mũ đi.” Và ông ấy làm theo!

………

Khi tôi mới vào đại học, câu đầu tiên mà ông hiệu phó hỏi tôi là: “Sao em để râu ria xồm xoàm vậy?” Và việc hỏi thế là bình thường, vì hồi ấy chẳng ai để như tôi.

Tôi đáp: “Em định đến gặp thầy để xin học bổng. Nhưng bây giờ thì việc đó không quan trọng bằng việc em có cơ hội tranh luận.”

Ông hiệu phó hỏi lại tôi: “Cậu định nói gì?”

Tôi đáp: “Em muốn hỏi sao thầy lại cạo râu của thầy đi. Em có làm gì với râu của em đâu, tự chúng mọc ra đấy ạ. Còn thầy, thầy mới tác động vào chúng, thầy không để chúng mọc tự nhiên, thầy cạo mỗi ngày hai lần. Thầy phải giải thích tại sao thầy làm như vậy.”

Ông ấy nói: “Ờ mà đúng là tôi chưa bao giờ nghĩ về việc này… Mọi người đều làm thế và tôi cũng làm theo.”

Tôi nói: “Đó không phải câu trả lời thông minh. Thầy cần suy nghĩ thật kỹ. Hàng ngày em sẽ đến đây, gõ cửa phòng thầy. Khi nào thầy tìm ra câu trả lời thì nói cho em biết, rồi em cũng sẽ cạo râu như thầy.”

Ba ngày tiếp theo tôi đều đến gõ cửa phòng làm việc của ông ấy. Ngày thứ tư ông ấy nói: “Cậu làm tôi mất ngủ mấy hôm nay. Suốt ngày lúc nào tôi cũng nghĩ đến chuyện râu với ria, cả ngày tôi cứ nhìn ra, trông chừng cậu đến gõ cửa. Có lúc tôi nghe tiếng gõ mà mở ra thì không có ai. Tôi bị ảo giác mất rồi. Cậu làm tôi bị ám rồi. Cậu nhận học bổng đi rồi làm gì tuỳ thích với râu của cậu. Làm ơn quên câu tôi hỏi cậu đi.”

Tôi nói: “Không dễ thế đâu thầy ạ. Thầy không được cạo râu nữa, nếu không em sẽ tiếp tục đến gõ cửa phòng thầy cho đến khi có câu trả lời.”

Ông ấy kêu lên: “Trời! Tôi đã cấp học bổng cho cậu rồi, mà học bổng đó lẽ ra cậu không được nhận vì cậu không phải sinh viên trường này. Cậu từ trường khác đến, mà theo quy định ở đây thì trước hết chúng tôi ưu tiên cho sinh viên tốt nghiệp trường này. Tôi đã bỏ qua quy định, tôi cấp học bổng cho cậu vì muốn cậu đừng đến gõ cửa phòng tôi nữa.”

Tôi nói: “Thôi, thầy cứ giữ lại suất học bổng đó mà trao cho sinh viên khác, nhưng thầy phải ngừng cạo râu.”

Ông ấy nói: “Xin đừng đối xử hà khắc như thế với một ông già như tôi. Tôi mà làm thế thì người ta sẽ nói về tôi như thế nào? Xin đừng biến tôi thành trò hề!”

Tôi nói: “Thầy sẽ thành trò hề nếu thầy không nghe em, vì em sẽ kể cho mọi người nghe những chuyện đã xảy ra trong bốn ngày vừa rồi.”

Và bạn sẽ không thể tin được: ông ấy trao học bổng cho tôi và bắt đầu để râu! Cả trường vô cùng kinh ngạc, vì ông ấy là người rất tươm tất – ông ấy đã từng giảng dạy ở Oxford, là giáo sư sử học và là chủ nhiệm khoa ở trường này. Mọi người băn khoăn hỏi ông: “Có chuyện gì vậy?”

Ông ấy nói: “Chẳng có gì. Tôi chỉ nhận ra rằng tôi đã phạm một sai lầm mà không giải thích được. Chàng thanh niên đó đã giúp tôi hiểu ra rằng mình phải sống một cách hợp lý. Trước đây tôi chỉ biết bắt chước, chỉ biết theo những gì diễn ra chung quanh. Chưa từng có ai nói với tôi rằng tôi chỉ biết phục tùng. Bây giờ thì vì rằng tôi không tìm ra lý do gì để cạo râu nên tôi để râu. Và hình như chàng trai đã nói đúng, rằng nếu phụ nữ để râu thì…”

………

Bạn hãy tưởng tượng xem thế giới có đẹp không nếu phụ nữ thì để râu, còn đàn ông thì cạo nhẵn? 

MICHAEL LANG trích dịch từ cuốn REALITY THE GREATEST CRIMINAL by OSHO

– Sử dụng vũ khí sinh học, QUÉT SẠCH NƯỚC MỸ

Trì Hạo Điền

QUET SACH NUOC MYBài phát biểu của tướng Trì Hạo Điền-Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc tại Hội nghị các tướng lĩnh bàn về chiến lược chiến tranh tương lai tổ chức năm 2005 …

(Tài liệu được công bố trên Tạp chí Các vấn đề chiến lược, Ấn Độ, 15.4.2009)

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường tuyên bố sự trỗi dậy của Trung Quốc hoàn toàn mang tính chất hoà bình và rằng Trung Quốc không có tham vọng bành trướng. Tuy nhiên, bài phát biểu của Bộ trưởng quốc phòng tại hội nghị các tướng lĩnh Trung Quốc về Chiến lược chiến tranh tương lai cách đây 4 năm lại cho thấy viên tướng này coi người Trung Quốc là chủng tộc siêu đẳng nhất thế giới và họ có sứ mệnh phải quét sạch nước Mỹ để làm bá chủ thế giới. Sự thay đổi của Trung Quốc đang làm thay đổi cán cân chiến lược, ít nhất là ở khu vực châu Á. Nhưng không ai có thể biết được khuôn hình và kết quả tương lai của sự thay đổi đó. Dư luận rộng rãi trên thế giới nghi ngờ về tham vọng bá quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình không thể dừng lại được.

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của Tướng Trì Hạo Điền phản ánh một số khía cạnh của tư duy chiến lược của Trung Quốc hiện nay.

Như mọi người đều biết, theo quan điểm truyền bá của các học giả phương Tây, toàn thể loài người trên Trái Đất có nguồn gốc chung từ một người mẹ duy nhất ở Châu Phi. Như vậy, không một chủng tộc nào có thể tự nhận mình là chủng tộc siêu đẳng nhất. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu của đại đa số các học giả Trung Quốc, người Trung Quốc khác với các chủng tộc khác trên thế giới. Chúng ta không có nguồn gốc từ Châu Phi. Trái lại, chúng ta có nguồn gốc độc lập trên đất Trung Quốc. Nguời Bắc Kinh ở Chu Khẩu Điếm mà tất cả chúng ta đều bắt nguồn từ đó đại diện cho một giai đoạn tiến hoá của tổ tiên chúng ta.

Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa

Trước đây, chúng ta thường nói rằng nền văn minh Trung Quốc có lịch sử 5.000 năm. Nhưng hiện nay, rất nhiều chuyên gia nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có khảo cổ học, văn hóa sắc tộc, và văn hoá khu vực đã đi tới một sự thống nhất rằng các phát hiện mới như nền văn hoá Hongshan ở vùng Đông Bắc, nền văn hoá Liangzu ở tỉnh Chiết Giang, các phế tích Jinsha ở tỉnh Tứ Xuyên, và khu di tích văn hoá đế chế Yongzhou ở tỉnh Hồ Nam tất cả đều cho thấy bằng chứng về sự tồn tại của nền văn minh tiền Trung Quốc, và chúng khẳng định rằng riêng lịch sử canh tác lúa đã có từ 8.000-10.000 năm truớc đây. Điều này bác bỏ quan niệm về lịch sử 5.000 năm của Trung Quốc…

Bởi vậy, chúng ta có thể xác định rằng chúng ta là sản phẩm của nền văn hoá có nguồn gốc từ cách đây hơn 1 triệu năm, nền văn minh và tiến bộ với lịch sử hơn 10.000 năm, một dân tộc có 5.000 năm lịch sử, và một thực tế Trung Quốc với lịch sử hơn 2.000 năm. Đó là dân tộc Trung Quốc tự gọi mình như vậy.Là dòng dõi của Viêm và Hoàng, dân tộc Trung Quốc mà chúng ta tự hào thuộc về dân tộc đó. Nước Đức Hitle đã từng kiêu hãnh tự coi mình là chủng tộc siêu đẳng nhất trên Trái đất, nhưng thực tế là dân tộc chúng ta còn siêu việt hơn người Đức rất nhiều.

Đã có nhiều bài học, trong đó có bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu, cũng như bài học về tại sao Đức và Nhật Bản lại thất bại trong Chiến tranh thế giới thứ Hai. Đã có rất nhiều cuộc thảo luận về sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Hôm nay, điều quan trọng với chúng ta là nói về các bài học thất bại của Đức và Nhật Bản.

Như mọi người đều biết, nước Đức phát xít cũng nhấn mạnh rất nhiều về vấn đề giáo dục cho dân chúng, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Đảng và Chính phủ quốc xã đã tổ chức và xây dựng rất nhiều thể chế tuyên truyền giáo dục, ví như Cơ quan hướng dẫn tuyên truyền quốc gia, Bộ Giáo dục và tuyên truyền quốc gia, Cục thanh tra nghiên cứu dư luận thế giới và giáo dục, và Cơ quan thông tin, tất cả đều nhằm gieo vào tâm trí của dân chúng Đức, từ học sinh các lớp tiểu học đến các trường đại học, là dân tộc Đức là chủng tộc thượng đẳng, và thuyết phục dân chúng rằng sứ mệnh lịch sử của chủng tộc Ariăng (Arian) là trở thành chủ nhân thế giới và thống trị toàn thế giới. Khi đó, nhân dân Đức thống nhất chặt chẽ hơn nhiều so với chúng ta hiện nay.

Tuy vậy, nước Đức đã bị thất bại nhục nhã cùng với nước Nhật Bản đồng minh. Vì sao vậy? Chúng ta đã đi tới một số kết luận tại các hội nghị nghiên cứu của Bộ Chính trị để nghiên cứu về các quy luật quyết định sự thăng trầm của các cường quốc lớn, và tìm cách phân tích sự phát triển nhanh chóng của Đức và Nhật Bản. Khi đó, chúng ra đã quyết định xây dựng mô hình đất nước dựa theo mô hình nước Đức, song chúng ta quyết không lặp lại các sai lầm mà người Đức đã mắc phải.

Xin nêu ra những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của họ: Thứ nhất, họ có quá nhiều kẻ thù cùng một lúc, bởi họ đã không tuân theo nguyên tắc là chỉ tiêu diệt kẻ thù ở một thời điểm nhất định; Thứ hai, họ quá hăng hái, thiếu sự kiên nhẫn và bền gan, những phẩm chất đòi hỏi phải có để thực hiện những sự nghiệp vĩ đại; Thứ ba, khi tới thời điểm đòi hỏi phải tỏ ra tàn bạo thì họ lại tỏ ra quá mềm yếu, do vậy đã để lại những nguy cơ bộc lộ về sau này.

Giả dụ khi đó, Đức và Nhật có thể làm cho Mỹ đứng trung lập và tiến hành chiến tranh từng bước đối với Liên Xô. Nếu thực hiện chiến lược đó, tranh thủ thời gian đẩy nhanh các nghiên cứu và thành công trong việc làm chủ công nghệ hạt nhân và tên lửa, và sử dụng các vũ khí đó bất ngờ tấn công Mỹ và Liên Xô, thì khi đó Mỹ và Liên Xô đã không thể chống lại họ và buộc phải đầu hàng.

Đặc biệt là Nhật Bản đã phạm phải sai lầm khi tiến hành cuộc tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng. Cuộc tấn công này không nhằm vào các phần có tầm quan trọng sống còn đối với nước Mỹ. Thay vì điều đó, cuộc tấn công này lôi kéo nước Mỹ tham gia chiến tranh, tham gia lực lượng những nước đào huyệt chôn vùi hai nhà nước phát xít Đức và Nhật Bản.

Tất nhiên, nếu họ không phạm 3 sai lầm nói trên và giành chiến thắng, thì lịch sử thế giới đã được viết theo hướng khác hẳn. Trong trường hợp đó, Trung Quốc sẽ không nằm trong tay chúng ta. Nhật Bản có thể chuyển thủ đô của họ tới Trung Quốc và thống trị toàn bộ đất nước Trung Quốc. Sau đó, Trung Quốc và toàn bộ châu Á dưới sự chỉ huy của Nhật Bản với toàn bộ sự thông minh của Phương Đông sẽ chinh phục phương Tây do Đức lãnh đạo và thống nhất toàn thế giới.

Người Trung Hoa có là chủng tộc thượng đẳng?

Như vậy, những nguyên nhân cơ bản dẫn tới thất bại của Đức và Nhật Bản là lịch sử không sắp xếp để họ trở thành những chủ nhân của Trái Đất, vì tóm lại là họ không phải những chủng tộc ưu việt nhất.

So sánh về hình thức bên ngoài, Trung Quốc ngày nay giống một cách đáng ngại với người Đức trước kia. Cả hai đều coi mình là những dân tộc siêu đẳng nhất; cả hai đều có lịch sử bị các cường quốc bên ngoài bóc lột và do vậy đều mang nặng sự hận thù; cả hai đều cảm thấy mình sống trong một không gian rất không phù hợp; cả hai đều giương cao ngọn cờ dân tộc và chủ nghĩa xã hội và gắn cho mình nhãn hiệu chủ nghĩa xã hội quốc gia; cả hai đều có một nhà nước, một đảng, một nhà lãnh đạo, và một học thuyết.

Nhân dân Trung Quốc chúng ta thông minh hơn người Đức bởi xét về cơ bản, chúng ta là chủng tộc ưu việt hơn chủng tộc của họ. Đó là kết quả bởi việc chúng ta có lịch sử lâu đời hơn, đông dân hơn và đất đai rộng lớn hơn. Xét trên cơ sở này, tổ tiên của chúng ta để lại cho chúng ta hai di sản cốt yếu nhất, đó là chủ nghĩa vô thần và sự thống nhất vĩ đại. Đó chính là đức Khổng Tử, người đã sáng lập ra nền văn hoá Trung Quốc và để lại cho chúng ta những di sản này.

Hai di sản nói trên xác định rằng chúng ta có khả năng sống còn cao hơn Phương Tây. Đó là lý do giải thích tại sao chủng tộc Trung Quốc thịnh vượng lâu dài như vậy. Chúng ta có sứ mệnh không được để bị chôn vùi cả trên Thiên đàng cũng như trên Trái đất, bất kể đó là những thảm họa do thiên nhiên, do con người gây ra hay thảm hoạ quốc gia và cho dù chúng nghiêm trọng tới mức nào. Đây là ưu thế của chúng ta.

Ví dụ về phản ứng đối với chiến tranh chẳng hạn. Do cho tới nay nước Mỹ chưa hề nhìn thấy chiến tranh trên đất nước họ, nên một khi các kẻ thù vào đất Mỹ, họ có thể tiến tới tận thủ đô Oasinhtơn trước khi Quốc hội Mỹ kết thúc việc thoả luận và cho phép tổng thống Mỹ tuyên bố tình trạng chiến tranh. Tuy nhiên, đối với chúng ta, chúng ta sẽ không lãng phí thời gian vào những việc tầm thường như vậy. Đồng chí Đặng Tiểu Bình có lần đã nói: Lãnh đạo Đảng sẽ thông qua các quyết định một cách mau lẹ. Một khi các quyết định được thông qua, chúng sẽ được thực hiện ngay lập tức. Sẽ không có việc lãng phí thời gian vào những việc tầm thường như ở các nước tư bản. Đó là ưu thế của chúng ta.

Nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản Trung Quốc được xây dựng trên truyền thống và sự thống nhất vĩ đại. Mặc dù nước Đức phát xít cũng nhấn mạnh tới cơ chế tập trung ở mức cao khi ra các quyết định, song họ chỉ chú trọng tới quyền lực điều hành đất nước, nhưng lại coi thường cơ chế lãnh đạo tập thể ở cấp Trung ương. Bởi thế về sau này Hitle đã bị rất nhiều người phản bội, điều đó đã làm suy kiệt ghê gớm khả năng chiến tranh của Đức quốc xã.

Có một nhận xét rất nổi tiếng trong một bộ phim về sức mạnh và quyền uy: Những kẻ thù thường gặp nhau trên một con đường nhỏ, chỉ có những kẻ dũng cảm mới chiến thắng. Dạng chiến đấu với tinh thần một mất một còn đã cho phép chúng ta dành được quyền lực tại Trung Quốc đại lục. Số phận lịch sử đã quyết định rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ không tránh khỏi đối đầu trên một con đường nhỏ và chiến đấu chống lại nhau! Mỹ, không giống như Nga và Nhật Bản, chưa bao giờ làm tổn thương Trung Quốc và cũng giúp Trung Quốc chống lại cuộc chiến đấu chống Nhật Bản. Tuy vậy, Mỹ tất yếu sẽ là trở ngại, trở ngại lớn nhất! Về lâu dài, quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ là đấu tranh một mất một còn.

Có thời, một số người Mỹ tới thăm Trung Quốc và tìm cách thuyết phục chúng ta rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ là một quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Đồng chí Đặng Tiểu Bình khi đó đã trả lời một cách lịch sự: Hãy về nói với chính phủ của các ngài rằng Trung Quốc và Mỹ không có mối quan hệ phụ thuộc và hiểu biết lẫn nhau như vậy. Rõ ràng là đồng chí Đặng Tiểu Bình đã quá lịch sự, đồng chí ấy có thể nói thẳng: Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ là một trong các quan hệ đấu tranh một mất một còn.

Tất nhiên, hiện giờ không phải là thời gian thích hợp để phá vỡ quan hệ với Mỹ. Chính sách cải cách và mở cửa ra thế giới bên ngoài của chúng ta còn phải dựa vào tiền vốn và công nghệ của họ, chúng ta vẫn còn cần tới nước Mỹ. Do vậy, chúng ta cần phải nỗ lực tăng cường quan hệ của chúng ta với Mỹ, học tập nước Mỹ trên mọi lĩnh vực và sử dụng Mỹ làm tấm gương cho việc tái thiết đất nước.

Quét sạch nước Mỹ

Để giải quyết vấn đề nước Mỹ, chúng ta cần phải vượt lên trên những điều thông thường và hạn chế. Trong lịch sử, khi một nước đánh bại và chiếm đóng một nước khác, họ không thể giết hết dân chúng của nước bị chinh phục một cách hiệu quả bằng gươm hoặc giáo dài, hay thậm chí bằng súng tiểu liên hoặc súng máy. Bởi vì không thể giữ được vùng đất rộng lớn mà không duy trì người của mình trên vùng đất đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta chinh phục nước Mỹ theo kiểu đó, chúng ta không thể đưa nhiều người Trung Quốc di cư tới Mỹ.

Chỉ có thể sử dụng nhũng biện pháp đặc biệt để quét sạch nước Mỹ và sau đó chúng ta mới có thể đưa nhân dân Trung Quốc tới đó. Đây là lựa chọn duy nhất đối với chúng ta. Đó không phải là vấn đề chúng ta muốn hay không muốn. Những biện pháp đặc biệt nào chúng ta có thể thực hiện để quét sạch nước Mỹ ? Những loại vũ khí thông thường như máy bay chiến đấu, đại bác, tên lửa hay tàu chiến không thể làm điều đó; các loại vũ khí huỷ diệt như vũ khí hạt nhân cũng không thể làm được như vậy. Chúng ta không ngu ngốc đến nỗi cùng tự huỷ diệt với Mỹ bằng cách sử dụng vũ khí hạt nhân, cho dù trên thực tế chúng ta vẫn tuyên bố giải quyết vấn đề Đài Loan bằng mọi giá.

Chỉ có thể sử dụng loại vũ khí không huỷ diệt, nhưng có khả năng giết nhiều người chúng ta mới có thể giành lấy nước Mỹ cho chúng ta. Công nghệ sinh học hiện đại đang phát triển nhanh chóng, và các loại vũ khí sinh học mới được phát minh nối tiếp nhau. Tất nhiên là chúng ta không để lãng phí thời gian; trong những năm qua chúng ta đã nắm được khả năng trở thành chủ nhân của các loại vũ khí này. Chúng ta có khả năng đạt được mục tiêu quét sạch nước Mỹ một cách hoàn toàn bất ngờ. Khi đồng chí Đặng Tiểu Bình còn sống, Ban chấp hành trung ương Đảng đã sáng suốt đưa ra quyết định đúng đắn là không phát triển các nhóm tàu sân bay và thay vào đó, tập trung phát triển các loại vũ khí có thể thủ tiêu hàng loạt dân chúng của nước thù địch.

Xét về mặt nhân đạo, chúng ta cần phải cảnh báo cho dân chúng Mỹ và thuyết phục họ rời khỏi nước Mỹ và để lại vùng đất họ từng sinh sống trên đó cho người Trung Quốc. Hoặc là ít nhất họ phải rời khỏi một nửa nước Mỹ để nhường phần đất đó cho người Trung Quốc, bởi phát hiện ra nước Mỹ lần đầu tiên chính là người Trung Quốc.

Nhưng sẽ phải làm điều đó như thế nào? Nếu chiến lược đó không thực hiện được, thì khi đó chúng ta chỉ còn một lựa chọn duy nhất. Tức là sử dụng những biện pháp kiên quyết để Quét sạch nước Mỹ và giành lấy nước Mỹ cho chúng ta ngay lập tức. Thực tế lịch sử của chúng ta cho thấy chừng nào chúng ta thực hiện được điều đó, không có nước nào trên thế giới có khả năng ngăn cản chúng ta. Hơn nữa, với một nước Mỹ với một tư cách thế giới bị mất đi, thì tất cả các kẻ thù khác buộc phải đầu hàng chúng ta.

Vũ khí sinh học là một loại vũ khí tàn ác chưa từng thấy, song nếu nước Mỹ không chết thì Trung Quốc sẽ bị huỷ diệt. Nếu nhân dân Trung Quốc bị mắc kẹt trên diện tích đất hiện nay, thì sự sụp đổ hoàn toàn của xã hội Trung Quốc chắc chắn sẽ xảy ra. Theo cách tính mô hình hoá trên máy tính của tác giả Yellow Peril, hơn một nửa dân số Trung Quốc sẽ chết, và con số đó sẽ là hơn 800 triệu người! Ngay sau khi giải phóng, vùng đất màu vàng của chúng ta có khoảng 500 triệu dân, trong khi dân số chính thức hiện nay là hơn 1,3 tỉ người. Khả năng của vùng đất màu vàng này đã đạt tới mức giới hạn của nó. Một ngày nào đó người ta có thể biết điều đó xảy ra nhanh chóng như thế nào, sự sụp đổ lớn có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào và hơn một nửa dân số của chúng ta sẽ buộc phải ra đi.

Chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng hai phương án. Nếu thành công trong việc sử dụng vũ khí sinh học bất ngờ tấn công nước Mỹ, chúng ta có thể giảm thiểu thiệt hại về người trong cuộc chiến tranh với Mỹ. Nếu trong trường hợp cuộc tấn công đó thất bại, và kích động một cuộc phản công bằng vũ khí hạt nhân từ nước Mỹ, Trung Quốc sẽ phải gánh chịu một thảm hoạ, trong đó  hơn một nửa dân số sẽ chết. Bởi vậy, chúng ta cần phải sẵn sàng với các hệ thống phòng không để bảo vệ các thành phố lớn và vừa của Trung Quốc…

Nguồn: http:..vn.myblog.yahoo.com.phamvietdaonv

– MAO và Việt Nam

Trần Bình Nam
 

MAO VA VNMối lo hôm nay đối với người Việt Nam là tham vọng nuốt chửng Việt Nam của Trung quốc. Từng lời nói, từng hành động của các nhà lãnh đạo Trung quốc hiện nay đều nhắm vào hướng này.

Nhưng mộng bành trướng và khống chế Việt Nam của Trung quốc không phải trong thời đại đang vươn mình này của Trung quốc mới có. Đó là giấc mộng ngàn đời, từ thời đại các hoàng đế Trung quốc, qua các triều đại Minh, Nguyên, Thanh. Và gần đây Đặng Tiểu Bình, người được liệt vào bậc anh quân đã có đủ sáng suốt chuyển hướng chính trị đưa Trung quốc ra khỏi trận cuồng phong Mácxít và Maoít cũng là người đã ra lệnh cho hàng chục sư đoàn tiến đánh Việt Nam (2.1979). Và trước đó, Mao Trạch Đông, một nhà đại cách mạng Trung quốc, người được coi là một hoàng đế tân thời của Trung quốc hậu bán thế kỷ 20, người hết lòng giúp đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp giành độc lập cũng – trong mọi hành động của ông – đều có sự tính toán để uy hiếp và tối hậu thôn tính Việt Nam.

Người Trung hoa từ ngàn xưa vẫn xem Việt Nam là một phần đất của Trung quốc. Những khẩu hiệu Trung quốc- Việt Nam “núi liền núi, sông liền sông” , “môi hở răng lạnh” chỉ là những khẩu hiệu, và mới nhất là châm ngôn 16 chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai.”cũng chỉ là chiêu bài để che đậy những ý đồ có tính lịch sử của Trung quốc .

Cho nên việc giữ nước lâu dài đòi hỏi các vua chúa Việt Nam hay những nhà lãnh đạo Việt Nam nắm vững yếu tính lịch sử đó để có chính sách phòng ngự thích hợp, dù đó là chính sách kinh tế, xã hội hay quốc phòng.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập (1930) cho đến năm 1992 nắm vững được yếu tính lịch sử này. Trong thời kỳ chiến tranh chống Pháp giành độc lập (1945-1954), thời kỳ xâm lăng miền nam Việt Nam (1960-1975) cũng như sau khi thống nhất Việt Nam các nhà lãnh đạo tại Hà Nội – dù được Trung quốc viện trợ – vẫn luôn luôn cảnh giác ý đồ của Trung quốc.

Nhưng từ năm 1992, do nhu cầu sống còn trước sự sụp đổ của Đông Âu và Liên bang Xô viết, đảng cộng sản Việt Nam trở nên lệ thuộc hoàn toàn vào Trung quốc và nền an ninh Việt Nam trở nên bị đe dọa. Sự bảo vệ biên giới đất liền, lãnh hải, hải đảo trở nên càng lúc càng yếu ớt.

Trở lại một ít lịch sử bang giao Việt Nam và Trung quốc sau khi Mao Trạch Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch và thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc năm 1949.

Trong cuốn sách mới nhất về Mao Trạch Đông của bà Jung Chang viết chung với ông Jon Halliday nhan đề “Mao: The Unknown Story” (Những Câu Chuyện Chưa Được Tiết Lộ về Mao) (1) bà Jung Chang đã để dành một chương để nói về các ý đồ của Mao đối với Việt Nam (trang 560 -566).

Theo bà Jung Chang, mỗi hành động của Mao đối với Hồ Chí Minh đều có hậu ý. Trung quốc giúp huấn luyện và trang bị quân đội cho ông Hồ trong chiến dịch biên giới (1950) chủ ý là không để cho các thành phần Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch bị tảo thanh tại Trung quốc chạy trốn sang Bắc Việt Nam có điều kiện trở lại tấn công Mao (2).

Nhưng đến năm 1954, Việt Nam mới thật sự nghi ngờ Trung quốc trước thái độ tráo trở của Bắc Kinh trong cuộc hội đàm tại Geneve năm 1954.

Năm 1954 Mao phát động chương trình canh tân để biến Trung quốc thành một siêu cường (Superpower Program). Trung quốc cần hiểu biết kỹ thuật và trang thiết bị lúc đó đang bị Tây phương cấm vận. Trung quốc tranh thủ viện trợ của Liên bang Xô viết, nhưng Mao biết chưa đủ nên Mao vận động giải tỏa cấm vận từ Pháp vì Pháp là nước giữ được tính độc lập với Hoa Kỳ nhiều nhất.

Lúc đó Pháp đang lúng túng tại Đông Dương. Ý của Mao là giúp Hồ Chí Minh đẩy Pháp vào chân tường rồi sẽ ra tay gỡ kẹt cho Pháp để đổi lấy điều kiện đòi giúp đỡ kỹ thuật. Tháng 5.1953 khi cuộc chiến tranh Triều Tiên sắp chấm dứt, Trung quốc chuyển sĩ quan và cố vấn sang thẳng biên giới Việt Nam chuẩn bị cho chiến trường Đông Dương mà cao điểm là cuộc chiến thắng có tính quyết định ván bài Việt Nam của trận Điện Biên Phủ tháng 5.1954.

Theo tài liệu của bà Jung Chang, trước khi hội nghị Geneve họp (26.4.1954) Mao đã quyết định sẽ giúp Pháp và tìm một giải pháp nhẹ nhàng cho Pháp chứ không để cho đảng Cộng sản Việt Nam nhân cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ đòi những điều kiện bất lợi cho Pháp. Thống nhất Việt Nam bằng cách đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự, đuổi Pháp một lèo ra khỏi Đông Dương là một trong những chương trình của đảng Cộng sản Việt Nam .

Ngày 7.5.1954 Điện Biên Phủ thất thủ. Ngày 17.5 chính phủ Pháp sụp đổ. Theo kế hoạch của Mao sẽ dùng chiến trường Việt Nam đổi chác với Pháp, ngày 23.5 thủ tướng Chu Ân Lai gặp riêng tân thủ tướng Pháp Mendes France tại Geneve và đưa ra món hàng đổi chát. Phái đoàn đảng Cộng sản Việt Nam do thủ tướng Phạm Văn Đồng cầm đầu hoàn toàn không hay biết sự đối chác này.

Phạm văn Đồng đưa ra một chương trình ở thế mạnh gồm chấm dứt chiến tranh, Pháp rút ra khỏi Đông Dương, thành lập Liên bang Đông Dương Việt Miên Lào, và không đồng ý chia cắt Việt Nam như gợi ý của phái đoàn Chu Ân Lai. Ông Đồng nghĩ rằng quân đội Cộng sản Việt Nam đang làm chủ chiến trường Bắc Việt, và đã kiểm soát một khu rộng lớn tại miền Nam Trung bộ và Nam bộ nên không có lý do gì chấp nhận giải pháp chia cắt. Mặt khác với sự mất tinh thần của quân đội Pháp sau trận Điện Biên Phủ và thời gian hứa hẹn của thủ tướng Mendes France (3), Hà Nội có thể đẩy mạnh các cuộc tấn công quân sự là đủ buộc đối phương phải nhượng bộ chấp nhận chương trình của Hà Nội.

Tuy nhiên Chu Ân Lai chỉ trích chương trình của Phạm Văn Đồng và vừa áp lực vừa dọa rằng nếu Hà Nội tiếp tục thừa thắng tấn công đẩy Pháp vào chân tường Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc có thể nhập cuộc như đã xẩy ra tại Triều Tiên. Chu Ân Lai cho biết nếu Hà Nội không ký một bản hiệp ước tạm thời chia cắt Việt Nam thì đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải tự lực chiến đấu, Trung quốc không có điều kiện để tiếp tục giúp đỡ (4).

Hồ Chí Minh biết không thể làm ngược lại ý của Trung quốc, hơn nữa Hồ Chí Minh cũng không muốn thấy cuộc chiến tranh Việt Nam biến thành một trận chiến tranh Triều Tiên thứ hai nên Hồ Chí Minh ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký Hiệp định hòa bình chấm dứt chiến tranh và chia đôi Việt Nam qua vĩ tuyến 17. Theo các nhân chứng tại Geneve, Phạm Văn Đồng đã khóc mà tuân lệnh Hồ Chí Minh. Chọn vĩ tuyến 17 thay vì vĩ tuyến 16 là một món quà “phụ thêm” của Trung quốc tặng cho Pháp vì quốc lộ số 9 nối liền Lào với biển nằm giữa vĩ tuyến 16 & 17.

Mối nghi ngờ giữa đảng Cộng sản Việt Nam và Trung quốc nẩy mầm từ đó.

Đầu năm 1965, khi Brezhnev bắt đầu chương trình tăng viện trang bi nặng cho đảng Cộng sản Việt Nam như súng phòng không và hỏa tiễn để chống cuộc không tập của không quân Hoa Kỳ vào miền Bắc Việt Nam, Mao thuyết phục Brezhnev nên dành tài nguyên đó để đương đầu phía Âu châu hơn là giúp Việt Nam. Mặt khác Mao thuyết phục Hồ Chí Minh chớ nên quá lệ thuộc vào Mạc Tư Khoa. Chu Ân Lai – suy bụng ta ra bụng người – từng nói với Phạm Văn Đồng rằng: “Các anh không nên nhận viện trợ của Liên bang Xô viết … Liên bang Xô viết giúp các anh chỉ để tạo điều kiện thương thuyết làm hòa với Hoa Kỳ thôi.”

Trong khi đó Mao nỗ lực o bế Hồ Chí Minh. Mao cho đổ vào Việt Nam tiền bạc và hằng ngàn tấn vật liệu và vũ khí nhẹ cùng với 130.000 binh sĩ để giúp điều khiển súng phòng không và bảo trì hệ thống lưu thông chống cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ. Theo bà Jung Chang, Trung quốc còn dùng mỹ nhân kế giới thiệu một thiếu phụ trẻ đẹp làm vợ Hồ Chí Minh, nhưng Hồ từ chối không nhận.

Ngày 31.3.1968 khi tổng thống Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ 2 (11.1968) và đề nghị thương thuyết, Trung quốc khuyên Hà Nội đừng nhận lời, nhưng Hà Nội vốn nghi ngờ thiện chí của Trung quốc đã nhất định đi tới và ngày 3.4.68 tuyên bố nhận lời đề nghị của tổng thống Johnson.

Khi cuộc thương thuyết tại Paris bắt đầu. Chu Ân Lai nói với Hà Nội rằng Trung quốc có nhiều kinh nghiệm thương thuyết với Hoa Kỳ nên Hà Nội cần cố vấn của Trung quốc trong phái đoàn thương thuyết, nhưng Hà Nội tư chối. Để trả đũa Trung quốc tìm cớ ngăn cản sự chuyển vận vật liệu chiến tranh cho Bắc Việt (của Trung quốc và của Nga chở qua đường Trung quốc) và cắt đứt các cuộc dàn xếp viện trợ tương lai. Hà Nội được yêu cầu đừng gởi phái đoàn thương thuyết viện trợ dự tính đi Bắc Kinh tháng 10.1968.

Dù bị Trung quốc làm khó khăn Hà Nội vẫn không để cho Trung quốc nắm cuộc thương thuyết tại Paris.

Không dùng viện trợ uy hiếp được Bắc Việt, Mao dùng phương pháp gián tiếp. Mao thành lập một đảng Cộng sản Cambốt lấy tên là Khmer Đỏ do Polpot cầm đầu, vừa chống Sihanouk vừa chống Việt Nam, và năm 1967 Mao định đảo chánh lật đổ Sihanouk để thiết lập một chế độ thân Trung quốc tại đó nhưng không thành.

Cơ hội tới khi Lonol (với sự tổ chức của cơ quan tình báo Hoa Kỳ CIA) đảo chánh lật đổ Sihanouk ngày 18.3.1970. Mao vội vàng đưa Sihanouk sang Bắc Kinh và thuyết phục Việt Nam phối hợp với Sihanouk thành lập một mặt trận Đông Dương chung chống Mỹ (lẽ dĩ nhiên) dưới sự lèo lái của Trung quốc.

Chính sách của Mao đối với Hà Nội thống nhất ở chỗ tạo trở ngại không cho Việt Nam thống nhất và ngăn cản không để Việt Nam tạo ảnh hưởng tại hai nước Miên, Lào. Ngay cả Mặt Trận Giải Phóng miền Nam do Hà Nội nặn ra do nhu cầu chính trị xâm lấn miền Nam Trung quốc cũng không bỏ lỡ cơ hội ve vuốt, mua chuột để tách Mặt Trận này ra khỏi ảnh hưởng của Hà Nội. Chính sách trước sau của Trung quốc là không để cho Việt Nam trong bất cứ trường hợp nào trở thành một quốc gia thống nhất và hùng mạnh .

Trong thời kỳ chiến tranh (chống Pháp 1946-1954), và xâm lấn miền Nam (1960-1975) Hà Nội dùng chính sách đi dây giữa Trung quốc và Liên bang Xô viết để bảo đảm nguồn viện trợ quân sự và kinh tế, nhưng sau khi thống nhất Việt Nam (1975), Hà Nội bắt đầu có thái độ độc lập hơn với Trung quốc.

Để giải tỏa gọng kềm của Trung quốc chọc từ phía Cam bốt, tháng 12.1978 Hà Nội tấn công lật đổ chế độ Polpot thân Trung quốc. Hậu quả là cuộc tấn công trả đũa của Trung quốc qua biên giới phía Bắc tháng 2.1979.

Hà Nội cũng chứng tỏ chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung quốc vẫn thường tuyên bố là thuộc Trung quốc. Khi Hà Nội đẩy mạnh cuộc tấn công trên bộ chiếm miền Nam năm 1975 Hà Nội đã cho các đơn vị hải quân ra trú đóng tại một số đảo quan trọng trong quần đảo Trường Sa để chận trước sự “xí phần” của Trung quốc. Sự hiện điện của quân đội Cộng sản Hà Nội tại các đảo Trường Sa là điều làm cho Trung quốc rất khó chịu và đã dẫn đến cuộc đụng độ tại Trường Sa năm 1988 làm cho hơn 80 chiến sĩ hải quân Việt Nam tử trận.

Các diễn biến trên chứng tỏ rằng cho đến năm 1992 dù bị áp lực nhiều phía của Trung quốc các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam vẫn cố gắng thực hiện truyền thống bảo vệ tổ quốc trước cuộc xâm lấn không mệt mỏi của Trung quốc.

Nhưng vào năm 1992 tình hình thế giới chuyển biến đột ngột. Liên bang Xô viết sụp đổ và Hoa Kỳ đã rút ra khỏi vùng Thái Bình Dương trong khi Trung quốc trở nên lớn mạnh về cả hai mặt quân sự và kinh tế. Hà Nội trước sự đe dọa sụp đổ đã phải nhờ cậy vào Trung quốc để sống còn nên mất tư thế của một nước có chủ quyền đối với Trung quốc.

Hình như các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không đủ bản lãnh để hoạch định một chính sách giữ nước trong những điều kiện mới. Và từ sự thiếu vắng chính sách và nhân sự lãnh đạo vững vàng là một chuổi dài thua thiệt và nhượng bộ.

Hà Nội phải ký hai Hiệp ước đất liền (1999) và biển (2000) với những điều khoản bất lợi cho Việt Nam. Mất thêm đất trong vùng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, và nhiều chục ngàn hải lý rộng trong vịnh Bắc Việt. Vùng đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vịnh Bắc Việt và ngoài khơi biển Nam Hải bị hạn chế do chính sách “gunboat” của Trung quốc. Ảnh hưởng của Việt Nam đối với hai nước láng giềng Cam Bốt và Lào dần dần bị thu hẹp. Trung quốc đã thả hai gọng kềm hai bên hông Việt Nam, một bên là Lào nay hoàn toàn tùng phục Trung quốc, một bên là căn cứ tàu ngầm tại cực nam đảo Hải Nam. Tương lai của Việt Nam còn lệ thuộc vào nguồn dầu hỏa trên biển Đông thì Việt Nam hiện nay cũng không có điều kiện khai thác. Nỗ lực khai thác qua việc ký giao kèo tìm dầu khí với công ty BP của Anh (2007) và ExxonMobil của Mỹ (2008) không thành trước áp lực của Trung quốc.

Việt Nam hình như đang mất sự tự do tối thiểu của một quốc gia độc lập.

Ngư dân bị tàu Trung quốc bắn chết (1.2005) trong Vịnh Bắc Việt Hà Nội không dám lên tiếng công khai phản đối và đòi bồi thường.

Trung quốc lấy đất của Việt Nam ghép vào quận huyện của Trung quốc (12.2007) Hà Nội không dám để cho nhân dân biểu tình bày tỏ sự phản đối .

Và năm nay, kỷ niệm 30 năm trận chiến bảo vệ biên giới năm 1979, báo chí Hà Nội không được viết lách tự do ca ngợi các chiến sĩ đã hy sinh bảo vệ tổ quốc. Và làm lễ chào mừng các chiến sĩ đang trú đóng tại Trường Sa mà báo chí và các cơ sở truyền thông do chính phủ kiểm soát không loan tin… Và còn nữa!

Vậy phải làm gì?

Phát huy nội lực và liên kết với đồng minh là sách lược ngàn đời để cứu nước.

Liên kết với ai? Nếu không phải với Hoa Kỳ, Úc châu, Nhật Bản, Ấn Độ, Liên bang Nga, Liên hiệp Âu châu, Hiệp Hội Asean trong đó có trọng lượng nhất là Hoa Kỳ. Nhưng chính Hoa Kỳ cũng đang gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng kinh tế và trong kế hoạch chấn hưng kinh tế Hoa Kỳ cũng đang nhờ sự hợp tác tài chánh của Trung quốc. Trung quốc đã không ngần ngại cho biết thế yếu của Hoa Kỳ và cảnh giác Hoa Kỳ chớ quá nóng vội giúp đỡ Việt Nam.

Bà Hillary Clinton tân bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ trong chuyến công du đầu tiên đến Trung quốc (2.2009) đã lỡ lời “thỉnh cầu” Trung quốc mua trái phiếu quốc gia của Hoa Kỳ để cùng có lợi chung thì liền ngay sau đó Trung quốc cho tàu chiến nghênh tàu của Hoa Kỳ trong biển Đông trong một vùng biển được hiểu là hải phận quốc tế. Để áp lực Hoa Kỳ nhượng bộ trên biển Đông, thủ tướng Ôn Gia Bảo lên tiếng nhắc khéo rằng “không biết trái phiếu Trung quốc đang mua của Hoa Kỳ có bảo đảm không?”

Vậy chỉ còn phát huy nội lực là chính. Và phát huy nội lực đòi hỏi sự đoàn kết của toàn dân sau lưng người cầm quyền. Và toàn dân chỉ đoàn kết sau lưng nhà cầm quyền khi họ có đầy đủ quyền tự do dân chủ.

Chính sách từ Mao, đến Đặng Tiểu Bình, rồi nay đến Hồ Cẩm Đào trước sau vẫn là khống chế Việt Nam. Và trong chiến lược lâu dài đương đầu với Hoa Kỳ để giành quyền bá chủ, Trung quốc sẽ phải chủ động mở con đường về phía nam trước. Bất cứ gì trên con đường tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đều phải được thôn tính.

Việt Nam ở ngay trên con đường tiến của Trung quốc. Chừng nào thì những người lãnh đạo tại Hà Nội nhận thức được mối nguy mất nước để đoàn kết quốc dân cùng cứu nước?
 

Trần Bình Nam


 (1) Phát hành tháng 11.2006 do Anchor Books, một chi nhánh của nhà xuất bản Random House Inc.

(2) Tác giả Qiang Zhai trong cuốn “China & The Vietnam Wars, 1950-1975” the University of North Carolina Press cũng có nói đến ý này của Mao Trạch Đông.

(3) Thủ tướng Mendes France hứa rằng đến ngày 20.7.1954 ông không tìm được một giải pháp cho cuộc chiến tranh Đông Dương ông sẽ từ chức.

(4) Tiết lộ bởi Lê Duẩn, “Mao: The Unknown Story” trang 562.

– NHÂN ĐỌC BÀI “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng”

Hoàng Phủ Ngọc Phan.

LTS: Sau bài viết của họa sĩ Trịnh Cung về Trịnh Công Sơn, đã có quá nhiều tranh luận trên diễn đàn mạng trong nước cũng như ngoài nước, nhiều đến nỗi có người đã kêu lên: “Đừng nói về Trịnh Công Sơn nữa! Quá đủ rồi!”. Thế nhưng gần đây bỗng nhiên trên mạng lại truyền đi một bài viết khá dài, khá chi tiết của Liên Thành, một người tự nhận là “nguyên trưởng ban an ninh, tình báo Thừa Thiên Huế”. Trong bài ấy, ông Liên Thành lại “phát hiện” những tin động trời về TCS khiến cư dân mạng xôn xao, hoang mang, không biết chân giả thế nào.

Trong tình hình “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng” ấy, chúng tôi buộc phải lên tiếng, mà người lên tiếng đầu tiên là nhà báo Hoàng Phủ Ngọc Phan, một người từng bị ông Liên Thành nêu đích danh trong bài viết với những cáo buộc “nổi da gà”.

Hoàng Phủ Ngọc Phan còn có bút danh khác là Hoàng Thiếu Phủ, là một nhà văn, một nhà báo rất nổi tiếng. Ông được nhiều người đọc nhờ sự sắc sảo, tinh tế trong bút pháp, và sự pha trộn tài tình giữa hài hước và sự uyên bác đã khiến cho các bài báo của ông luôn là những tác phẩm văn học có giá trị.

Bài “phản biện” sau đây của Hoàng Phủ Ngọc Phan là câu trả lời khá nóng bỏng của một người trong cuộc. LỀ BÊN TRÁI.

 

HOANG PHU NGOC PHANXin cảm ơn anh Đào Hiếu đã chuyển cho tôi xem bài “Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng” của Liên Thành và đề nghị tôi có ý kiến phản hồi.

Thú thật tôi không hề có nhu cầu và hứng thú tranh luận với những người như ông Liên Thành vì giữa tôi và những người như ông ấy có quá nhiều khác biệt. Nhưng vì bài viết của ông ấy chứa không ít sai lầm – đặc biệt là những sai lầm về nghiệp vụ chuyên môn của nghề làm cảnh sát quốc gia. Lại nhờ những sai lầm đó mà ông ta được chính quyền cũ đề bạt lên giữ những chức vụ quan trọng và gây thêm những hậu quả nghiêm trọng hơn. Nay nếu một người trong cuộc như tôi mà cứ im lặng mãi thì bạn bè và bạn đọc trong và ngoài nước sẽ không hiểu được sự thật.

Tôi gọi Liên Thành bằng đại danh từ “ông” chỉ là để thể hiện sự tôn trọng bạn đọc,  không muốn tra tấn họ bằng những ngôn từ hằn học của thời chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh. Nếu LỀ BÊN TRÁI là một diễn đàn có thể chấp nhận đăng tải những bài viết có chính kiến khác nhau thì xin cứ đăng bài của tôi để bạn đọc rộng đường dư luận. Với tư cách của người trong cuộc tôi xin nói rõ những sự thật sau đây:

 

1.Về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

– Ông Liên Thành nói rằng ngày 11-6-1966, ông chỉ huy các điệp viên bám sát tôi và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường,  thấy rõ chúng tôi vào nhà Trịnh Công Sơn ăn cơm chiều rồi trở ra ngồi trên một chiếc xe hơi màu trắng để trốn ra rừng …

Lúc bấy giờ quân của Nguyễn Cao Kỳ – Nguyễn Ngọc Loan đã kiểm soát tình hình ở Huế. Lệnh truy nã anh em chúng tôi đã được đọc ra rả trên đài phát thanh. Vậy Liên Thành còn sợ gì mà không ra tay bắt lấy chúng tôi để lãnh thưởng mà lại để chúng tôi lọt lưới? Sự thực là chúng tôi không hề ghé nhà Trịnh Công Sơn ở đầu cầu Phú Cam mà ghé nhà anh Nguyễn Kim Sơn ở gần Bưu Điện Thành Phố Huế. Nguyễn Kim Sơn là kỹ sư tốt nghiệp ở Mỹ, từng dẫn đầu đoàn biểu tình đọc tuyên cáo bằng tiếng Anh trước khi đốt tòa Tổng lãnh sự Mỹ ở Huế vào ngày 23-01-1965. Cho đến lúc ấy và cả đến hôm nay, Nguyễn Kim Sơn chưa hề ở trong một tổ chức nào của cách mạng. Hiện anh sinh sống ở CHLB Đức và trước sau như một-là một phật tử thuần thành. (Tôi sẽ nói thêm về trường hợp Nguyễn Kim Sơn trong phần cuối bài này). Không hiểu vô tình hay cố ý,  Liên Thành đã làm lộn hai ông Sơn nói trên, vu cho Trịnh Công Sơn tội danh Việt Cộng để hành hạ nhạc sĩ này triền miên và bắt người tràn lan. Đây không phải “bé cái lầm” mà là loại sai lầm chết người.

Lúc chúng tôi tạm trú ở nhà anh Nguyễn Kim Sơn,  anh Sơn có cái máy quây phim 8mm đang quây cảnh sinh hoạt gia đình, tình cờ có lọt cả hình ảnh hai anh em chúng tôi trong đó. Sau năm 1975,  anh Kim Sơn có dịp chiếu cho tôi xem lại những thước phim này. Nếu ông Liên Thành liên hệ được với Kim Sơn, chắc chắn sẽ tìm được bằng chứng ngoại phạm của Trịnh Công Sơn.

-Người lái xe đưa chúng tôi ra khỏi thành phố để vào chiến khu không phải là anh Lê Cảnh Đạm mà là một đại úy quân cảnh ở Huế. Những ngày ấy, thành phố Huế bị giới nghiêm cả ngày lẫn đêm và chúng tôi đi vào buổi trưa chứ không phải lúc nhá nhem tối. Phải là một đại úy quân cảnh mới có thể đưa chúng tôi qua lọt các chốt chặn xét. Liệu ông Liên Thành có cần biết viên đại úy ấy là ai không nhỉ?

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được nhiều người hâm mộ. Trong số các fan của anh có những người ở phía bên này và những người ở phía bên kia. Nhưng không phải hễ chơi với tả thì thành tả, chơi với hữu thì thành hữu. Thực tế, Trịnh Công Sơn chưa hề tham gia một tổ chức bí mật nào của cách mạng để gọi là “nằm vùng”. Anh có vẻ dị ứng với mọi thứ kỷ luật, tổ chức, đảng phái, âm mưu, thủ đoạn…Việc ông Liên Thành ép cung rồi buộc TCS làm mật vụ cho cảnh sát hoặc ai đó nói TCS là C.I.A, âm mưu đảo chánh,  có tham vọng làm bộ trưởng, có giấc mộng vào Đảng để mưu cầu lợi lộc…đều chứng tỏ họ không hiểu gì nhiều về con người TCS và chắc cũng không hiểu gì lắm về nhạc Trịnh. Người ta có cả trăm cách để lừa dối nhau nhưng không ai có thể lừa dối tâm hồn mình bằng âm nhạc. Nếu tâm hồn của Trịnh dung nạp được những thứ chuyện như thế này thì sao còn có chỗ để nuôi dưỡng thứ nhã nhạc kia?

-Mộ của Trịnh Công Sơn được chôn ở nghĩa trang chùa Quảng Bình của Hội Ái Hữu Quảng Bình – kế nghĩa trang Gò Dưa (Quận Thủ Đức. TPHCM) chứ không phải ở Gò Dầu Hạ (Tây Ninh) Đây là sự lựa chọn của gia đình TCS. Gia đình anh theo đạo Phật và có gốc Quảng Bình. Mẹ anh đã được chôn ở đấy. Mộ Trịnh Công Sơn được thiết kế theo một kiểu cách lập dị nằm kế bên mộ mẹ. Lễ tang Trịnh Công Sơn có Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Bí thư Thành Ủy Nguyễn Minh Triết đích thân đến phúng điếu. Nếu gia đình có nguyện vọng đưa anh vào nghĩa trang Thành Phố, chẳng lẽ hai nhân vật thế lực ấy không giúp được sao?

Đối với Trịnh Công Sơn,  những lời khen chê bấy lâu nay đều có chỗ đúng, chỗ sai nhưng như thế đã quá đủ. Xin hãy để cho anh ấy yên giấc nghìn thu, có được không hở ông Liên Thành?

2. Về quán BẠN (Chứ không phải là quán BẠN TÔI).

Quán của chúng tôi nằm trên đường Đào Duy Từ, nhìn ra đường Hàng Bè trên bờ sông Đông Ba chứ không phải bên phía Đập Đá. Nhóm chúng tôi mở quán nầy chỉ vì ham vui. Chỉ có vài ba người là Việt Cộng còn những người như vợ chồng giáo sư Đỗ Long Vân, nhà văn Túy Hồng, chủ quán Lê Văn Sâm… đều vô can. Khách đặc biệt của chúng tôi là những nhà báo chống Cộng chuyên nghiệp như Thế Uyên, Trần Dạ Từ …từ Sài gòn ra để …đấu võ mồm với Việt cộng. Thừa biết bổn quán thường xuyên bị mật vụ theo dõi nên chúng tôi không dại gì dùng nơi nầy làm chỗ liên lạc với tổ chức cách mạng. Liên Thành gọi đây là một “căn cứ lõm” mà lại mang quân đi đánh phá một cái Quán Bạn Tôi nào đó ở bên Đập Đá, thế là thêm một vụ án oan!

 

 3. Chụp mũ cộng sản cho Phật giáo.

 Trong danh sách cán bộ cộng sản nằm vùng mà Liên Thành nêu trên có những người như: Nguyễn Khắc Từ, Hoàng Văn Giàu, Trần Xuân Kiêm, Thái Kim Lan, Vĩnh Kha, Trần Anh Tuấn, Thái Thị Ngọc Dư, …. và rất nhiều nữa. Sự thực tất cả những người nêu trên không có ai là Việt cộng nằm vùng cả. Họ đều là những phật tử thuần thành, tích cực tranh đấu cho đạo pháp từ những mùa pháp nạn dưới chế độ Diệm. Sau năm 1975 họ đều sống như những công dân bình thường – ai cộng, ai trừ bà con đều biết. Làm gì có chuyện Nguyễn Khắc Từ là đại tá VC? Cho đến những ngày Thiệu – Kỳ – Loan thẳng tay đàn áp phong trào Phật giáo ở các tỉnh miền Trung, Nguyễn Đắc Xuân vẫn chưa hề có mối liên lạc với bất kỳ một tổ chức nào của cách mạng. Bị nêu tên truy nã trên đài phát thanh, anh phải cạo đầu giả làm sư, trốn về vùng quê ở Giạ Lê – Hương Thủy lánh nạn chứ không chịu ra trình diện. Chúng tôi bắt được liên lạc, viết thư mời anh lên rừng mà trốn cho an toàn. Ở trong chiến khu cả nửa năm trời, Nguyễn Đắc Xuân vẫn tiếp tục ăn chay và được đối xử như khách tỵ pháp nạn. Chiến khu Thừa Thiên – Huế đã đón rất nhiều khách tỵ nạn như Nguyễn Đắc Xuân. Ông Nguyễn Văn Cán, quận trưởng Cảnh sát cũng là phật tử. Tết Mậu Thân ông không dám ra trình diện với chính quyền cách mạng. Biết ông là người trí thức (cử nhân Luật), chúng tôi thuyết phục ông đứng đầu danh sách một tổ chức gọi là Nghĩa Binh bao gồm những người đã ra trình diện. Tổ chức này chỉ là để hư trương thanh thế. Sau khi trình diện, chúng tôi cấp giấy chứng nhận rồi cho phép họ trở về nhà chăm sóc gia đình trong những ngày binh lửa. Chỉ có thế mà Liên Thành gán cho ông Cán tội danh là cơ sở tình báo rất quan trọng của trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan. Bản lãnh làm án oan của Liên Thành chắc là học được từ các tay trùm mật vụ của Ngô Đình Cẩn như Phan Quang Đông, Hoàng Trọng Bá, Dương văn Hiếu… Cứ nghe cái giọng điệu của Liên Thành ca tụng anh em nhà Ngô Đình Diệm và đám thủ hạ đắc lực của Ngô Đình Cẩn thì có thể hiểu vì sao ông ta chụp mũ cộng sản lên đầu toàn bộ phong trào đấu tranh của Phật giáo. Chính là để có cớ đàn áp, tiêu diệt thế lực của Phật giáo, trả thù cho Ngô triều. Chẳng cần gì phải là người cao minh cũng có thể chỉ ra rằng đó chính là sự vận hành của “chế độ Diệm mà không có Diệm”.

 

 4. Vụ sát hại nhà thơ Ngô Kha. 

 Là nhà thơ nổi tiếng, dạy Việt văn ở trường Quốc Học Huế, chủ tịch Mặt trận văn hóa Miền Trung. Anh rất gắn bó với phong trào tranh đấu của sinh viên học sinh Huế. Hai lần thầy trò anh xuống đường, bị Liên Thành trực diện đàn áp, đã quyết liệt phản kích khiến Liên Thành mang thương tích. Liên Thành thù Ngô Kha từ đó. Ngày 6-3 năm 1972, Liên Thành dẫn hai cố vấn Mỹ cùng bộ hạ bao vây, lục soát nhà Ngô Kha rồi bắt anh đưa đi đâu mất tích. Sau năm 1975, Công An Huế lấy lời khai của đám bộ hạ Liên Thành – theo đó thì chỉ trong đêm 6-3, Ngô Kha đã bị Liên Thành tra tấn đến chết rồi ném xác vào bồn axit để phi tang. Tôi ở Huế đã lâu nhưng không hề nghe nói ở đâu có những bồn axit như thế. Chuyện cái bồn axit chưa chắc có thật nhưng một trưởng ty cảnh sát như Liên Thành muốn giết người phi tang, hủy thi diệt tích thí còn thiếu gì cách, đâu cần đến bồn axit. Cũng xin nói thật, Ngô Kha không phải là Việt Cộng nằm vùng. Anh hoạt động như những người phản chiến chống Mỹ trên khắp thế giới. Chính vì vậy mà sau năm 1975, bạn bè ở Huế đã gặp không ít khó khăn khi làm thủ tục xác nhận liệt sĩ cho anh. Chuyện này ở Huế rất nhiều người biết. Ngô Kha là trung úy động viên rồi biệt phái trở về dạy lại trường Quốc Học. Anh là em ruột của tướng Ngô Du trong quân đội VNCH.

Nếu tôi là tướng Ngô Du thì dù Liên Thành kia có đi đến chân trời góc biển nào tôi cũng sẽ tìm đến – nếu không phải để hỏi tội thì ít ra cũng để năn nỉ một câu: “Trên đời này chỉ có ông mới biết Ngô Kha chết như thế nào. Xin làm ơn làm phước cho biết nắm xương tàn của em tôi hiện ở nơi đâu?”

 

5. Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái là đặc công!

Liên Thành cho rằng Nguyễn Hữu Thái là đặc công thuộc Thành ủy Sài gòn, thủ phạm tung lựu đạn vào xe Nguyễn Văn Bông. Lại sai nữa. Anh Nguyễn Hữu Thái chưa bao giờ là Việt cộng, lại càng không thể là đặc công. Người ném lựu đạn vào xe Nguyễn Văn Bông, chủ tịch đảng Cấp Tiến là một sinh viên thuộc Lực Lượng Biệt Động. Tên tuổi và thành tích của sinh viên ấy đã được giới thiệu công khai trên một số sách báo ở trong nước, muốn biết người ấy là ai cũng không khó.

 

6. TÔI KHÔNG HỀ GIẾT AI.

 Sau chiến dịch Mậu Thân báo chí ở Sài gòn thường nhắc đến anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan như là hai tên đồ tể khát máu, giết người không gớm tay ở Huế. Sự thực anh Tường không hề về Huế mà ở lại trên căn cứ để làm nhiệm vụ tiếp đón các vị khách từ nội thành ra. Tánh anh Tường rất hiền, không ưa đụng đến vũ khí, dầu chỉ để lau chùi. Cơ quan cấp cho anh một khẩu súng ngắn K.59, anh không ngó ngàng gì tới đến nỗi súng han rỉ, rồi đem cho một người bạn nào đó mượn đi công tác. Người này làm mất súng khiến anh Tường bị phê bình –đúng ra đây là một khuyết điểm đáng phải bị xử kỷ luật nặng. Nhưng anh Tường không ý thức được điều đó. Anh cứ cãi khơi khơi là tại cơ quan giao súng cho anh chứ anh đâu có yêu cầu. Công tác của anh chỉ cần ngòi bút. Người như thế mà có thể giết ai được?

Còn tôi thì có theo chiến dịch về hoạt động ở Thành nội Huế nhưng tôi không hề giết ai cả, suốt gần 10 năm đi kháng chiến cũng không hề làm thiệt mạng một con thú trên rừng chứ đừng nói là con người. Vì lẽ:

-Giết người không phải là chuyện nhỏ, không phải hễ có súng trong tay là có quyền giết người. Tôi không hề có quyền đó.

-Giết người không phải là chuyện dễ, không phải ai cũng có bản lĩnh đó. Mặc dầu trong chiến tranh, trên chiến trường và ngay bây giờ vẫn không thiếu gì những kẻ đáng tội chết nhưng nếu đưa cho tôi một kẻ đáng tội nào đó bảo tôi giết thì nói thật… không dám đâu.

Chúng tôi theo cách mạng trước tiên là vì không thể sống chung với cái ác. Nếu chịu làm ác thì cứ nhảy vào các binh chủng rằn ri của Thiệu – Kỳ hay đầu quân dưới trướng của Liên Thành thì thiếu gì cơ  hội?

 Từ sau Tết Mậu Thân đến nay, đối phương không ngừng vu khống cho anh em tôi đã tàn sát đồng bào vô tội ở Huế. Tôi nguyên là sinh viên Y khoa nên họ còn trút luôn lên đầu tôi cái tội khi sư diệt tổ là giết các giáo sư người Đức ở Đại học Y khoa Huế. Lúc đầu thì có nhiều người tin nhưng hơn ba mươi năm nay, bà con bạn bè trong nước và cả những người ở nước ngoài có dịp đi về đều đã hiểu được sự thật. Tất cả chỉ là tin đồn do những người có ác ý gieo rắc, không cần chính xác và không ai phải chịu trách nhiệm. Nhưng Liên Thành, là người cầm đầu nhiều cơ quan công lực, rất có điều kiện để kiểm chứng các tin đồn. Vậy xin hỏi Liên Thành: ông nói tôi say sưa lấy máu tươi, giết đồng bào vô tội nhưng chính xác tôi đã giết những người nào? lúc nào? ở đâu?

Nếu ai đó nói chính mắt họ thấy tôi giết người thì chắc chắn đó là kẻ ăn gian nói dối.

Còn nếu Liên Thành hay bất kỳ ai đưa ra được bằng chứng không thể chối cãi rằng tôi đã giết người – như kiểu tên ác ôn Nguyễn Ngọc Loan giết anh Bảy Lốp – thì tôi xin tự vẫn ngay trước mặt họ để tạ tội với đồng bào và khỏi làm nhục lây đến bà con dòng họ.

 Chuyện Mậu Thân hãy còn nhiều điều mà tôi cần nói, nhất là về cái chết của các giáo sư người Đức ở Huế. Nếu có dịp tôi sẽ xin phép được trình bày với bạn đọc cũng trên diễn đàn Lề Bên Trái này.

Gần đây, một số người ở nước ngoài về Việt Nam thăm gia đình có kể rằng vào những năm cao điểm của phong trào vượt biên, những gia đình thuyền nhân khi đến vùng đất hứa đều rất sợ phải qua thêm một cửa ải của ông Liên Thành. Hễ ông ghét người nào thì liệt họ vào danh sách lý lịch xấu. Có người như giáo sư Châu Tâm Luân, Hoàng Văn Giàu… còn bị ông nhồi cho bầm dập như cái mền. Mặc dầu đây chỉ là những thông tin chưa được kiểm chứng nhưng chắc cũng không sai sự thật bao nhiêu. Những thuyền nhân ấy phần lớn đều đã trải qua trăm cay nghìn đắng, có người mất cả tài sản và tính mạng người thân ngoài biển khơi. Họ có còn dính dáng gì đến chế độ cộng sản nữa đâu mà ông thù dai đến thế?. Ông từng giữ một lúc nhiều chức vụ quan trọng như: Quận trưởng Quận 3 – Phó trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt – Trưởng ban An ninh – Tổng thư ký điều hành Ủy ban Phượng Hoàng Thừa Thiên Huế… Lúc này những chức vụ đó đã không còn giá trị sử dụng. Vậy ai trả lương và cho phép ông hành động như một tên đại bàng, đầu gấu ở các trại tỵ nạn? CIA chăng? Nếu đúng như thế thì tôi sẽ nói thêm vài điều có liên quan đến cái nghề CIA của ông để giúp ông giải đáp câu hỏi: Tại sao Miền Nam VNCH lại thua?

 

7. Tại sao Miền Nam VNCH lại thua?

Ông Liên Thành viết: “Kể từ ngày 30-4-75 đến nay trong tâm khảm của tất cả người Việt Nam đều không nguôi câu hỏi: tại sao miền Nam VNCH lại thua, Tại sao cái đúng lại thua cái sai, cái ác lại thắng cái thiện?… ” Đây là câu hỏi lớn đã được các nhà lãnh đạo chính trị, quân sự, các nhà lý luận, chiến lược hàng đầu của cả hai bên – bên thắng và bên thua nghiên cứu rất kỹ. Có lúc hai bên đã cùng tỉnh táo ngồi lại với nhau trong những cuộc hội thảo khoa học để bổ sung cho đáp án của mình. Và câu trả lời thuyết phục nhất về phía Mỹ đã được Mac Namara cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ phát biểu trong tập hồi ký của mình: “chúng ta thua vì đã đánh giá thấp lòng yêu nước của người Việt nam.” Câu nói ngắn gọn đó chứng tỏ ông Mac Namara đã hiểu được vấn đề. Nhưng Liên Thành thì chưa chắc đã hiểu vì cho đến nay ông ta vẫn chỉ có thể suy nghĩ theo những luận điệu nông cạn như: Cộng sản Bắc Việt là tay sai của Nga-Tàu, VNCH thua vì bị Mỹ cúp viện trợ, thiếu vũ khí đạn dược, Huế nổi loạn là do Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan và đại tá Việt cộng Nguyễn Khắc Từ điều khiển chùa Từ Đàm… Để Liên Thành hiểu lòng yêu nước ấy như thế nào, tôi xin kể vài chuyện như sau:

Một hôm anh Nguyễn Kim Sơn (người đã cho anh em Tường – Phan trốn tại nhà trước khi thoát ly) ngồi trên xe hàng đi từ Huế vào Đà Nẵng. Đến đoạn đường trước căn cứ Mỹ ở sân bay Phú Bài, mọi người đều phải xuống xe để cho lính Mỹ khám xét thân thể. Vài cô gái bị lính Mỹ giở trò sàm sỡ. Một thanh niên có vẻ nông dân trừng mắt nhìn bọn chúng một cách căm thù. Lính Mỹ thấy thế liền lôi người thanh niên ra khám xét. Ai ngờ trong mình thanh niên nầy rơi ra một cây súng ngắn. Thì ra đó là một “tên Việt cộng”. Lập tức anh ta bị lính Mỹ bẻ hai tay ra sau lưng như bẻ cánh gà rồi chỉ vài cái lên gối là miệng anh ta hộc máu ra như suối, ngã sụm xuống đất. Lính Mỹ dẫm giày đinh nát cả mặt, gãy cả đôi chân rồi đá anh qua một bên lề đường. Nguyễn Kim Sơn kể chuyện ấy rồi than thở: nhìn thấy đồng bào mình bị nó giày xéo như con giun con kiến mà không làm gì được thật là xót xa tủi nhục. Nguyễn Kim Sơn được ăn học ở Mỹ nhưng chính cái thảm cảnh ngày hôm ấy đã khiến anh trở thành người đầu tiên đốt tòa Tổng lãnh sự Mỹ và đấy là tòa Tổng lãnh sự Mỹ đầu tiên trên thế giới bị đốt. Không phải chủ nghĩa cộng sản – vì cho đến hôm nay, Nguyễn Kim Sơn vẫn không phải là người của chế độ cộng sản – mà chính là lòng yêu nước thương nòi của người Việt nam đã nổi lửa đốt cháy tòa Tổng Lãnh sự Mỹ. Hôm chúng tôi trốn ở nhà Nguyễn Kim Sơn thì các em của anh cũng như anh, cả nhà chưa ai tham gia cách mạng. Nhưng sau khi thành phố Huế bị Nguyễn Ngọc Loan và Liên Thành khủng bố trắng, bàn thờ Phật bị xe tăng xéo nát, các em của anh đều bí mật tham gia cách mạng trong tổ chức Thành Đoàn Sài Gòn. Chính Liên Thành chứ không ai khác đã đẩy họ về phía Việt Cộng. Phật tử trở thành Việt Cộng, Việt Cộng nằm trong hàng ngũ phong trào tranh đấu của Phật giáo là chuyện có thật và đó là lôgich phát triển của lòng yêu nước chứ chẳng phải mưu ma chước quỷ gì cả.

 Tôi còn một dẫn chứng khác rất đáng chú ý đối với Liên Thành.

Tại trung tâm lưu trữ Aix-en Provence ở Pháp có một bức thư bằng chữ Hán được mật thám Pháp dịch ra tiếng Pháp, gần đây đã được các nhà nghiên cứu sử học dịch ra tiếng Việt như sau:

Ngày 17 tháng 12 năm 1931.

 Gửi đồng chí Nguyễn Ái Quốc

 Tôi vừa được biết đồng chí đang ốm nặng tại Hồng Kông và tin này làm tôi vô cùng lo lắng.

Cho phép tôi gửi đồng chí kèm theo đây 300 yên để đồng chí mua thuốc men. Mong đồng chí tích cực chữa bệnh. Điều đó cần cho sự nghiệp của tổ quốc.

Chúc đồng chí sớm bình phục.

PHÚC ĐAN

 

 Nguyễn Ái Quốc tức là người mà chúng tôi gọi là Bác Hồ. Còn người ký Phúc Đan, tên là Nguyễn Phúc Đán tức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để chính là tổ phụ (ông nội) của Liên Thành. Thư đề tháng 12 năm 1931, tức sau khi Đảng Cộng Sản của Nguyễn Ái Quốc ra đời hơn một năm rưỡi. Biết tin Nguyễn Ái Quốc bị bệnh nặng ở Hồng Kông, Kỳ Ngoại Hầu ở Nhật lo lắng gửi tiền bạc chăm sóc và gọi bằng hai tiếng đồng chí rất quí mến. Nguyễn Ái Quốc và Kỳ Ngoại Hầu thuộc hai con đường, hai thế hệ nhưng vẫn cư xử với nhau như đồng chí vì họ có chung một tấm lòng yêu nước. Chính truyền thống yêu nước lâu đời của người Việt Nam đã làm nên chiến thắng ngày 30-4-75 chứ chẳng phải Nga sô – Trung Cộng nào cả. Ai đúng, ai sai, ai thiện, ai ác, ai thắng, ai thua – chỉ cần Liên Thành chịu khó đọc sách nhiều nhiều một chút, nhất là những trang sử vẻ vang của gia tộc mình chắc sẽ tự tìm được câu trả lời, chậm hơn Mac Namara một chút mà đúng cũng không sao. Lại mong ông Liên Thành không vì tổ phụ mình viết bức thư nói trên cho Nguyễn Ái Quốc mà liệt Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và nhóm chí sĩ Đông Du vào tội danh tiếp tay cho Cộng sản rồi làm báo cáo mật nộp cho CIA.

CIA mà dựa trên những nguồn tin láo toét và trật lất như bài Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng của ông, hèn chi Mỹ thua cũng phải.

 

© HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN.

hoangphungocphan@yahoo.com.vn

NẾU TRÍCH ĐĂNG BÀI NÀY XIN QUÝ VỊ VUI LÒNG GHI nguồn: LỀ BÊN TRÁI http://daohieu.com, hoặc https://daohieu.wordpress.com. XIN CÁM ƠN.

QUÝ VỊ NÀO MUỐN ĐỌC BÀI CỦA LIÊN THÀNH XIN VÔ ĐỊA CHỈ: http://daohieu.com

 

 

– TĂNG HỌC PHÍ

TĂNG HỌC PHÍ, CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC CÓ TĂNG THEO?

SĨ TỬ

TANG HOC PHICứ nói đến CHẤT LƯỢNG, tôi lại thấy ớn lạnh trong người. Ớn lạnh, vì hai câu hỏi: ai đánh giá và đánh giá thế nào đây? Nếu là miếng ăn hay vật dụng thì thấy liền. Còn cái món chất lượng giáo dục thì khó nếm, khó thử. Mà đã khó thì có năm bảy đường đánh giá. Nên cuối cùng thì sự đánh giá được coi trọng nhất, được coi là chính thức, là đánh giá của BỘ CHỦ QUẢN thôi!

Nhưng cái cách đánh giá chất lượng giáo dục – đào tạo (GD-ĐT) của Bộ Giáo dục – Đào tạo nó do các giáo sư, các chuyên viên cao cấp đưa ra. Nó không dễ hiểu tí nào đối với những đầu óc tầm thường của những người dân như tôi (và hàng chục triệu người khác). Bởi vì, cứ trong mỗi nhiệm kỳ bộ trưởng thì chất lượng đều chỉ có đi lên, nhưng sau vài chục năm nhìn lại thì lại thấy là nó kém hơn lúc đầu!

Một anh bạn cũ của tôi – bây giờ là một chuyên viên của BỘ – có lần nói với tôi: “Lĩnh vực xã hội nó không phải như cái thứ Toán của cậu. Không phải cứ hàm số luôn luôn đồng biến thì giá trị cuối phải lớn hơn giá trị đầu.” Ờ mà có lẽ thế thật chăng?

Còn cái “tương quan hàm số” giữa học phí và chất lượng GD-ĐT thì lại càng phức tạp. Có vẻ như học phí tăng thì người ta nâng cấp được trường sở, thư viện, phòng thí nghiệm, tăng được lương và các khoản thu nhập cho thầy. Thế thì sao còn nghi ngờ về việc tăng học phí thì chất lượng sẽ tăng?

Ấy thế mà tôi cứ nghi ngờ hoài. Chả là vì đời tôi đã hai lần làm sinh viên trường sư phạm và gần hai chục năm giảng dạy phổ thông. Tôi thấy nhiều điều bằng tai, bằng mắt mình. Thấy từ cả hai phía: phía của học trò và phía của người thầy. Thấy ở hai môi trường: phổ thông và đại học.

Chuyện chất lượng giáo dục phổ thông thì hàng triệu người thấy. Nên tôi chỉ xin nói vài điều về chất lượng ở nơi dạy các thầy. Tôi chỉ đánh giá nó từ góc độ của sinh viên thôi.

Cách đây gần hai chục năm, tôi là sinh viên cao đẳng sư phạm. Năm ngoái, tôi được vào học hệ tại chức (mà bây giờ người ta gọi là vừa làm vừa học, nhưng xin chớ nhầm với hệ vừa học vừa làm ngày xưa!) ở chính trường cũ nhưng bây giờ đã nâng cấp thành đại học. Và thật thú vị là một nửa số thầy dạy tôi lần này lại là những thầy đã dạy tôi hồi trước!

Được học lại với thầy cũ, tôi có điều kiện so sánh chất lượng giảng dạy của hai giai đoạn. Và thật ngỡ ngàng: tôi phát hiện ra rằng chính những thầy đó bây giờ dạy thua hẳn ngày xưa!

Đành rằng bọn tôi bây giờ đi học nhưng mà đã có tuổi rồi, lại bận đủ thứ việc, nên sự học của chúng tôi bây giờ chẳng qua là trò đểu để hợp lý hoá tấm bằng. Những môn mới, chúng tôi học hầu như chẳng hiểu gì. Nhưng vẫn có cả nhiều môn mà ở đại học nội dung cũng chẳng khác mấy so với cao đẳng. Và vẫn những thầy đó, họ vẫn tắc giữa bài giảng nếu không thường xuyên nhìn vào giáo án. Họ vẫn không giải trôi chảy được những bài tập loại trung bình. Về thái độ, họ còn lớt phớt hơn trước. Trong khi đó, có thể thấy trường sở bây giờ to gấp mấy chục lần xưa kia, và nhà ở của các thầy cũng như mức sinh hoạt của họ, dù còn kém xa các cán bộ giảng dạy ở các nước văn minh, nhưng cũng đã gấp chục lần so với 20 năm trước.

Những thầy giáo mới ra trường thì có vẻ nhanh nhẹn hơn, nhưng (nói chung!) họ lại còn thực dụng hơn lớp đã có tuổi.

Ngoài hai tầng lớp trên ra thì còn rất nhiều người, vốn là giáo viên kém ở cấp II nên phải đi học lên thạc sĩ, tiến sĩ rồi xin về trường đại học để giảng dạy.

Một anh bạn khác của tôi, bây giờ dạy ở một khoa của một trường thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội nói với tôi: “Ngay cả chỗ chúng tớ thì cũng chẳng hơn gì mấy. Hơn nửa số cán bộ giảng dạy mới là con em các vị già trong khoa và trong trường ấy mà. Nhưng có tiến bộ lớn so với trước kia là rất nhiều thầy bây giờ đi ô-tô riêng đến trường.”

Thì ra tiền không tỉ lệ thuận với chất lượng!

Vậy tăng học phí có làm chất lượng GD-ĐT tăng theo?

Tôi không dám trả lời câu hỏi này. Như người ta thường nói, CHỈ CÓ THỜI GIAN mới cho ta câu trả lời đúng được. Nhưng người ta có nhận được câu trả lời đúng đó hay không thì còn tuỳ thuộc vào việc họ có thực sự muốn hay không.

Trước mắt thì có một điều chắc chắn: học phí tăng sẽ góp thêm một yếu tố đẩy những gia đình công nhân, nông dân vào cảnh bần hàn. Vay tiền cho con học và không lấy đâu ra tiền để trả. Và nếu con họ không nhanh chóng có việc làm sau khi tốt nghiệp thì sao?

*

Trở lại câu hỏi về CHẤT LƯỢNG, với hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi nghĩ rằng YẾU TỐ QUAN TRỌNG NHẤT QUYẾT ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GD-ĐT LÀ: DÙNG NGƯỜI PHẢI CĂN CỨ VÀO NĂNG LỰC THỰC SỰ, bằng cấp chỉ là thông số ban đầu. Chỉ khi đó người ta mới chịu học thật sự để khỏi bị mất việc.

Chừng nào mà việc dùng người vẫn chỉ căn cứ vào bằng cấp thì mọi “giải pháp” nâng cao chất lượng vẫn chỉ là trò đùa!

Kể cả giải pháp tăng học phí núp dưới cái tên là “Đề án đổi mới tài chính giáo dục”!

S.T

– TÂY NGUYÊN DU KÝ

Bút kí của Vũ Ngọc Tiến 

Lần này lên tới Kon Tum tôi quyết “đi bụi” một chuyến khắp Tây Nguyên theo kiểu “Tây ba lô”, vẫy xe dọc đường, xuống xe bất chợt và lang thang tùy thích. Đi để ngắm cái văn hóa “đàn ông là sấm, đàn bà là sét” của người Tây Nguyên; nhập hồn vào núi rừng đại ngàn mong gặp bóng ma bạn bè chết trận ở đâu đó; tìm lại dấu chân thời trai trẻ hăm hở thăm dò tài nguyên khoáng sản nên đã mấy lần chết hụt dưới họng súng của FULRO hay đói vàng mắt cua vì gặp mưa lũ kéo dài… 

Có đi tới các huyện phía Bắc Kon Tum, vào sâu tận thôn làng người dân tộc mới thấm thía hết cái nghèo và sự khốn cùng của bà con Xơđăng, Bah Nar, Giarai, Giẻ-Triêng  sau 34 năm giải phóng và 23 năm đổi mới kinh tế nước mình. Tôi đi thăm Đắc Plei, nơi có trận đánh nổi tiếng thời chống Mỹ theo lời kể của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo; rồi đi xe ôm 25 km đường rừng, tìm bằng được ngôi trường tiểu học mà Kiều, đứa con gái thứ ba của Liêm đã dạy học hơn 10 năm ở đó. Trường vẫn y nguyên như ngày Kiều mới vào nghề năm 1995, xơ xác 3 dãy nhà tranh xiêu vẹo, lèo tèo mỗi lớp hơn chục học trò đủ mọi lứa tuổi.  Đứa cao ngồng hơn cô giáo Kiều vài phân, đứa nhỏ thó, đen gầy, áo quần nhếch nhác. Ở đây, rừng bị tàn phá, muông thú hết, nương rẫy khô cằn vì thiếu nước nên cha mẹ chúng lo ăn chẳng đủ, thiết gì cho con đi học phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.

Đến tận nơi chứng kiến, tôi hiểu vì sao sau hơn 10 năm cống hiến, tuổi xuân hơ hớ qua đi, Kiều từ bỏ chức vụ Hiệu phó để về thị xã lấy chồng, an phận làm cô văn thư đánh máy qua ngày. Nghèo khổ, lam lũ như vậy, nhưng ở Bắc Kon Tum tôi gặp rất nhiều cổng chào bằng sắt ở đầu con đường đất dẫn vào thôn làng của người dân tộc, trên đó treo biển “Thôn văn hóa”, thậm chí nhà rông cũng có tên “Nhà rông văn hóa”. Vào nhà rông lợp tôn thay vì lợp cỏ, chẳng thấy chiêng, ché, sừng trâu mà chỉ thấy toàn khẩu hiệu suông. Có lẽ vì thế, những ngày lễ hội, trai gái trong thôn cũng bỏ luôn tục lệ ngủ đêm tập thể ở nhà rông, để cái tay con trai như con ma rừng lần mò tìm bạn tình trong bóng đêm huyền bí. Một già làng bảo với tôi: “Người Bah Nar chúng tao biết gì về thôn hay làng văn hóa đâu, chỉ biết cán bộ trên cây thì tốt, còn cán bộ dưới đất thì đa phần đều dở như cục phân trâu cả thôi.” Hỏi ra mới biết cán bộ trên cây của già là cái loa truyền thanh, chỉ toàn nói lời hay ý đẹp, khác hẳn cán bộ bằng xương bằng thịt ở dưới mặt đất. Chợt nhớ lời nhà văn Nguyên Ngọc nói với tôi tại cuộc hội thảo của Viện IDS ở Hà Nội: “Tây Nguyên là cả một bảo tàng dân tộc học hoành tráng và sống động không chỉ của Việt Nam mà của nhân loại. Tiếc rằng ta đang hủy hoại nó một cách phũ phàng, vô ý thức!”  

Những ngày nhập vai “Tây ba lô” đi bụi, vẫy xe nhảy cóc nhiều chặng trên suốt đọan đường quốc lộ 14 dài gần 200 km, từ Pleiku (tỉnh lỵ của Gia lai) đi Buôn Mê Thuột (tỉnh lỵ của Đăk lăk), với tôi thật nhiều ý nghĩa, tràn đầy cảm xúc. Dọc theo đường đi, các huyện Chư Sê của Gia lai, Ia Súk, Krông Pút của Đăk lăk có những đồi thông tuyệt đẹp dọc 2 bên đường quốc lộ. Vượt qua đồi thông, đi vào các xã, tôi đi giữa những cánh đồng bát ngát trên cao, đỏ tươi màu đất bazan, xanh mướt màu xanh của cây cà phê, hồ tiêu, ngô, đậu… và rực rỡ những đàn bướm vàng bay lượn trên thảm cỏ trổ đầy hoa dại. Nắng gió ở đây như cũng có mùi hương ngây ngất, quyến rũ lòng người. Cả những trận mưa đầu mùa của Tây Nguyên cũng cho tôi cảm giác lâng lâng vì được chiêm ngưỡng sức mạnh kỳ bí của thiên nhiên hùng vĩ. 

Không thể phủ nhận sự đổi thay sâu sắc, xu thế phát triển của Tây Nguyên 10 năm gần đây, tại các thành phố, thị xã, thị trấn mà tôi đã đi qua, cho dù nó chưa tương xứng với tiềm năng to lớn của vùng đất này. Có lẽ Pleiku là điểm sáng nổi bật nhất về quy mô phát triển và tốc độ tăng trưởng so với các đô thị khác, nhờ vào sự đóng góp không nhỏ của các đại gia thuộc khối kinh tế ngoài quốc doanh. Ở Pleiku, ngoài thủy điện Ya-Ly, khu du lịch Biển hồ, công viên Đồng xanh mang đậm màu sắc văn hóa các dân tộc… Đi đâu tôi cũng gặp dấu ấn đầu tư của tập đoàn Hoàng Anh- Gia Lai và khoảng 5- 7 doanh nghiệp thuộc hàng đại gia khác, làm nên vẻ đẹp và tầm vóc một đô thị hiện đại trên cao nguyên lộng gió. Một người bạn thân là nhà nghiên cứu kinh tế ở TP Hồ Chí Minh có lần bảo tôi: “Việt Nam càng đổi mới, hội nhập càng lộ rõ yếu kém của kinh tế quốc doanh so với kinh tế ngoài quốc doanh. Quy mô doanh nghiệp càng to thì sự tương phản này càng lớn. Tây Nguyên có cái may mắn vì ở đó tiềm năng lớn, nhưng có nhiều lĩnh vực mà kinh tế quốc doanh còn bỏ trống hoặc ở dạng sơ khai sẽ là cơ hội tuyệt vời cho kinh tế ngoài quốc doanh phát triển.” Điều này có lẽ đúng với Pleiku, vì Buôn Mê Thuột có tiềm năng lớn hơn mà quy mô phát triển, tốc độ tăng trưởng thua Pleiku trong những năm sau này và Đăk Lăk có vẻ thua Pleiku về yếu tố kinh tế ngoài quốc doanh. Đến Buôn Mê Thuột lần này, tôi chỉ dành thời gian thăm đình Lạc Giao thờ Đào Duy Từ làm Thành Hoàng của làng. Hóa ra không chỉ có Võ Đại tướng hôm nay mà hơn 400 năm trước, trên bước đường lãng du tìm hiểu địa lý- chính sự- dân tình các vùng đất phương Nam để quay về Thuận Hóa giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên hoạch định chiến lược mở cõi, nhà chính trị và quân sự thiên tài họ Đào ấy đã từng lên Tây nguyên, hiểu rõ vai trò đặc biệt quan trọng về địa chính trị- quân sự của vùng đất này. Ai bỏ qua hoặc cố tình không hiểu sẽ mang trọng tội với dân tộc và lịch sử. 

Một ngày ở Nhân Cơ  

Ngay từ lúc còn ở Hà Nội, tôi đã xác định cái đích cuối cùng của chuyến lãng du Tây Nguyên phải là Nhân Cơ, bởi Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên đang gây xôn xao dư luận, làm nóng nghị trường Quốc Hội. Là người viết văn, viết báo, nhưng có một thời trai trẻ tôi vốn là kỹ sư Địa vật lý, từng khảo sát cấu trúc mỏ bauxite bằng các phương pháp đo đạc giá trị các trường vật lý ở Lạng Sơn (1971) và Tây Nguyên (1978) nên tôi hiểu biết chút ít về loại mỏ quặng này. Điều đầu tiên, khiến tôi trăn trở suy nghĩ là vì sao phía Trung Quốc lại phớt lờ nguồn lợi khai thác bauxite ở Lạng sơn, Cao Bằng, chỉ nhăm nhăm hướng tới các mỏ ở Tây Nguyên?

Từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, đoàn địa chất 49 của Tổng Cục Địa Chất, dưới sự giúp đỡ của chuyên gia Hung-ga-ri đã tiến hành thăm dò tỉ mỉ, đánh giá trữ lượng chuẩn xác ở mức phục vụ cho khai thác bauxite ở Lạng Sơn và Cao Bằng là thuận lợi thứ nhất. Các mỏ này rất gần khu công nghiệp khai khoáng, chế biến quặng ở huyện Khai Viễn- Vân Nam- Trung Quốc nên giá thành vận chuyển sản phẩm về nước thấp là thuận lợi thứ hai. Hàm lượng alumin trong quặng cao gấp 5- 6 lần ở Tây Nguyên nên công nghệ làm giàu quặng đạt tiêu chuẩn thương phẩm hóa trên thị trường quốc tế rất đơn giản là thuận lợi thứ ba. Trữ lượng quặng ở Lạng Sơn, Cao Bằng theo báo cáo trình Quốc Hội của Bộ Công Thương dẫu chỉ có 449 triệu tấn, nhưng do hàm lượng alumin trong quặng cao nên tương đương hơn 2 tỷ tấn quặng ở Tây Nguyên, là thuận lợi thứ tư. Với ngần ấy lợi thế mà mỏ bauxite Lạng sơn-Cao bằng vẫn không đủ hấp dẫn người Trung Quốc thì chắc hẳn Tây Nguyên còn có nhiều hấp dẫn khác cuốn hút họ mà tôi chưa biết chăng? Mang nặng trong lòng điều trăn trở ấy, cùng nỗi ám ảnh từ 3 lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi hăm hở tìm về Đắk Nông.  

Rời Buôn Mê Thuột, tôi ra quốc lộ 14 vẫy xe đò đi TP Hồ Chí Minh, đến ngã ba Đầm Hồ xuống xe đi tiếp một chặng xe ôm chừng 3 km là vào trung tâm thị xã Gia Nghĩa, thủ phủ tỉnh Đắk Nông (trước 1975 gọi là tỉnh Quảng Đức). Thị xã Gia Nghĩa có 3 khách sạn lớn, sang trọng do nhà đầu tư nước ngoài hoặc từ TP Hồ Chí Minh lên xây dựng, nằm trên 3 quả đồi tuyệt đẹp, song tôi chỉ dám dạo qua cho biết rồi nhờ người lái xe ôm tìm giúp một khách sạn loại trung bình. Tình cờ tôi được đưa đến khách sạn “Hà Nội Phố”. Thật thú vị vì chủ khách sạn tên Bảo, người phố Giảng Võ ngoài Hà Nội vào đây lập nghiệp vừa được tròn hai tháng. Giữa nơi đất lạ gặp người đồng hương Hà Nội nên chủ- khách bỗng thành thân mật. Bảo khoe: “Em vào đây lập nghiệp vì biết Gia Nghĩa đang được quy hoạch thành Đà Lạt thứ hai của cao nguyên”. Được cái lợi thế, Gia Nghĩa gần Tp Hồ Chí Minh, giao thông thuận tiện hơn nhiều so với Đà Lạt. Phải chăng thế mạnh và hướng phát triển của Đắc Nông là tập trung tiềm lực đầu tư, sớm biến Gia Nghĩa thành nơi nghỉ mát lý tưởng cho tứ giác phát triển phía Nam đất nước và xây dựng các trung tâm công nghệ cao về sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ na-nô? Chỉ hai nguồn lợi ấy cũng đủ lớn, chẳng cần đến khai thác bauxite, và sẽ là đòn bẩy kích thích tăng trưởng cho công nghiệp chế biến nông lâm sản vốn là thế mạnh hiếm có của vùng đất đỏ ba-zan màu mỡ bậc nhất Tây Nguyên này. Ở phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa có nông trường chè của một ông chủ Đài Loan, trồng loại chè đặc sản, ứng dụng công nghệ cao chế biến và đóng gói tại chỗ, chở về nước họ, thu lãi lớn suốt 12 năm nay là một gợi ý tốt cho các nhà quản lý tỉnh Đắk Nông tham khảo, hoạch định chiến lược phát triển.   

Tôi đã nghe giải trình của tập đoàn TKV và Bộ Công Thương nói rằng, nơi có thân quặng bauxite thường là nơi đất cằn, năng suất cây trồng thấp. Bằng trí nhớ của người địa chất và chiếc la bàn trong tay, tôi dễ dàng tìm lại được những thân quặng bauxite ở Đắk Mil, Đắk Song. Lớp đất trồng ở đó đa phần là mầu mỡ, độ ẩm cao vì bauxite Tây nguyên thuộc thành tạo Laterit, có bản tính ngậm nước, giữ ẩm cho cây nên năng suất hồ tiêu, cà phê khá cao, cỡ 2 tấn cà phê.1 mẫu. Ở Đắk Mil, tôi vô tình phát hiện ra một sự thật đáng quan ngại hơn. Từ ngã ba thị trấn Đăk Mil có con đường đi về hướng Tây chỉ 5 km là đến tỉnh biên giới Mondol kiri của Căm-pu-chia, chính là nơi mà Trung Quốc đã mua đứt một vùng đất rộng lớn, đặc quyền khai thác trong 99 năm. 

Ngày cuối cùng ở Đắk Nông, tôi dành thời gian đi Nhân Cơ vì ở đó có trụ sở công ty khai khoáng, nhà máy tuyển quặng do người Trung Quốc đang chỉ huy xây dựng và khai trường mở vỉa quặng đã hoàn tất việc san ủi…Nhân Cơ nằm cách thị xã Gia Nghĩa chừng 13 km theo đường quốc lộ về hướng Bù Đăng. Đây là một xã lớn và trù phú nhất của huyện Đắk Lấp, gồm 12 thôn. Phạm vi khu mỏ chạy dọc bên trái con đường liên xã từ Nhân Cơ đi Nhân Nghĩa- Đạo Nghĩa- Đắk Sin và chiếm toàn bộ diện tích các thôn 4 của người dân tộc và thôn 11, 12 của người Kinh ở Nhân Cơ. Trụ sở công ty và nhà máy đặt tại thôn 11. Việc di dân, đền bù đất, giải tỏa mặt bằng diễn ra từ năm 2007, nhưng đến nay chưa hộ nào được nhận đủ tiền. Giá đền bù cũng rất rẻ mạt, mỗi hộ chỉ được đền bù 300 m2 đất thổ cư với mức 300 ngàn.m2 gần đường nhựa, còn xa đường nhựa là 150 ngàn.m2. Số diện tích đất còn lại quy tất cả vào đất nông nghiệp, chỉ đền bù một mức thống nhất là 40 triệu.1 mẫu đất, gần đây nâng lên 105 triệu.1 mẫu. Anh Nguyễn Văn  Mỹ , sinh năm 1978, ở thôn 11, có vợ và 1 con gái 3 tuổi, gặp tôi than thở: “Hộ của cháu có hơn 2 mẫu trồng hồ tiêu, cà phê mỗi năm thu nhập khoảng trên dưới 100 triệu. Nhà nước đền bù rẻ mạt vẫn phải cắn răng đi mua đất khác mà gây dựng lại, nhưng chỉ mua được non nửa diện tích bị mất thôi, bác nhà văn ạ!” Tôi hỏi: “Chẳng lẽ đất trồng cà phê cũng đền bù như đất trồng khoai mì hay bỏ hoang?” Anh đáp: “Bất công, vô lý là thế, nhưng dân còn biết kêu ai!”

Chia tay Mỹ, tôi thử liều xông thẳng vào bên trong khu vực nhà máy la cà quan sát và hỏi chuyện. Đến ngôi nhà nhỏ của đội khảo sát địa chất, tôi gặp Đức, kỹ sư hóa nghiệm của Liên đoàn địa chất 10 (Cục Địa Chất- Bộ Công thương). Anh được điều động biệt phái sang giúp TKV phân tích mẫu quặng bauxite. Đức cho biết, đội khảo sát chỉ có 7 người, đến Nhân Cơ cuối năm 2007, nay đã rút về Hà Nội hết, chỉ còn anh là người duy nhất ở lại. Là người hiểu nghề, biết việc nên chỉ cần trò chuyện với Đức thoáng qua vài phút, tôi hiểu ra, TKV rất ít người am hiểu về bauxite. Họ tổ chức thăm dò trữ lượng khai thác ở Tân Rai, Nhân Cơ đều đại khái, qua loa cho đủ thủ tục, chứ không làm công phu, bài bản theo quy trình nghiêm ngặt như ngành địa chất xưa nay vẫn từng áp dụng. 

Rất may, tại hiện trường thi công xây nhà máy, tôi gặp 2 kỹ sư người Trung Quốc, một họ Lỗ, 51 tuổi, còn anh họ Vương, 43 tuổi. Nghe tôi nói tiếng Bắc Kinh lưu loát, họ tưởng tôi là người Trung Quốc mới sang nên vồ vập chuyện trò, nói cười ngả ngớn, không hề giữ kẽ. Cả hai đều là người Quan Đông, xứ lạnh, chưa quen với khí hậu và văn hóa ẩm thực phương Nam . Ông Vương cho biết, người Trung Quốc ở Nhân Cơ ít hơn rất nhiều so với Tân Rai, chỉ có khoảng vài chục người, đều là chuyên gia kỹ thuật, quê ở Quan Đông hoặc Liêu Ninh, hưởng lương rất cao so với ở quê nhà và gấp 5- 7 lần lương của chuyên gia kỹ thuật Việt Nam. Hỏi chuyện về chuyên môn, ông Lỗ cho biết: “Quặng bauxite Tây Nguyên có hàm lượng alumin rất thấp, chỉ đạt 9- 10% ở Tân Rai, còn ở Nhân Cơ tốt hơn tí chút, đạt 11-12% nên lượng bùn đỏ thải ra hồ chứa mỗi năm vô cùng lớn. Vì áp dụng công nghệ tuyển ướt nên cần lượng nước đầu vào rất nhiều. Mùa mưa có thể dùng nước trên mặt, chứ đến mùa khô có lẽ phải cần thêm giếng khoan nước nước ngầm mới đủ dùng. Nước thải sau tuyển quặng đương nhiên sẽ tồn dư thành phần kim loại nặng và hóa chất…” 

Nghe ông Lỗ nói, tôi rùng mình liên tưởng đến thảm họa môi trường ở mỏ măng-gan Tốc Tác- Cao Bằng gần 20 năm trước. Ban lãnh đạo TKV hoặc bất cứ ai trong nghề địa chất, khai khoáng đều biết rõ thảm họa khủng khiếp này. Chỉ trong một đêm, bãi thải của mỏ từ trên cao gặp mưa lũ đã đổ ập hàng chục triệu mét khối đất, đá xuống thung lũng, chôn sống hơn 300 người!  Bài học Tốc Tác- Cao bằng còn đó, rồi nguy cơ ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Đồng Nai, ảnh hưởng đến 16 triệu dân của miền Đông Nam Bộ.

Ở xứ mình mạng người rẻ quá chăng!!!???  

Lời kết

Tôi trở về “Hà Nội Phố”, ngồi uống cà phê trong quán ở sân khách sạn, thiết kế tuyệt đẹp và tao nhã theo phong cách của người Tràng An thanh lịch, mà lòng buồn se thắt. Cơn mưa đầu mùa ở Đắk Nông dài lê thê, nước tuôn xối xả. Ngoài đường có tấm áp phích cực lớn, kỷ niệm 5 năm thành lập tỉnh Đắk Nông (2004- 2009). Tôi nhìn hình vẽ thành phố Gia Nghĩa trong tương lai trên áp phích qua ánh chớp nhập nhoàng, hồi nhớ lại tất cả tài liệu chính thống của Nhà nước về Đắc Nông mà mình đã tra cứu trên mạng internet, sắp xếp lại theo trình tự thời gian. Hình như người ta đã âm thầm chuẩn bị từng bước, rất tinh vi, bài bản cho Dự án khai thác bauxite ở Đắk Nông từ lâu rồi mà có việc Quốc Hội cũng đã vô tình biểu quyết: 

Tháng 1.2004 tách 6 huyện phía Nam của tỉnh Đắk Lắk cũ, lập tỉnh Đắk Nông có trữ lượng bauxite chiếm 91% trữ lượng toàn Tây Nguyên. 

Tháng 2.2006 điều chỉnh địa giới các xã ở 3 huyện Đắk Song, Đắk Mil, Đắk Lấp để gom các thân quặng bauxite gần nhau về cùng một đơn vị hành chính cấp xã, tiện lợi cho quản lý và khai thác. 

Cuối năm 2006 giải phóng mặt bằng lòng hồ, xây đập thủy điện Đắk Rơ Lih chỉ cách Nhân Cơ 2 km theo đường chim bay, có lẽ chủ yếu phục vụ khai thác, chế biến quặng, nhưng không thấy TKV hạch toán vào vốn đầu tư của Dự án bauxite (!?). 

Năm 2007 triển khai giải phóng mặt bằng, mở khai trường mỏ và xây nhà máy chế biến quặng ở Nhân Cơ. 

Tháng 5.2009, Bộ Công thương trình báo cáo về Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên lên Quốc Hội, bị dư luận phê phán vì thông tin lập lờ, hiệu quả bánh vẽ! 

Nửa cuối năm 2010, theo lời ông Lỗ, kỹ sư người Trung Quốc nói với tôi thì chắc chắn họ sẽ lắp đặt thiết bị cho nhà máy tuyển quặng Nhân Cơ…  

Vậy là mọi sự đã rồi, mâm cỗ đã bày lên chờ thắp nhang cúng cụ, con cháu nào dám ho he. Thư của Võ đại tướng, kiến nghị của giới trí thức, thảo luận của đại biểu Quốc Hội phỏng có tác dụng gì? Là người viết văn, trong chuyến lãng du này tôi gặp gì viết nấy, xả bớt nỗi niềm cho mọi người cùng ngẫm, hậu thế tường minh, thế thôi!  

V.N.T

Đắk Nông 5.2009-Hà Nội 6.2009

Thiên An Môn: bài học về tội ác man rợ còn đó

J.B Nguyễn Hữu Vinh

THIEN AN MON 02Kỷ niệm 20 năm cuộc đàn áp đẫm máu tại Quảng trường Thiên An Môn – của nhà cầm quyền Bắc Kinh với những người dân Trung Quốc biểu tình đòi tự do, dân chủ, hãy suy nghĩ về tội ác không thể quên đối với loài người.

Quân đội nhân dân Trung Quốc với những đoàn xe tăng được mua bằng tiền của nhân dân đã được huy động đến để cán nát những thanh niên, sinh viên và quần chúng yêu nước, yêu tự do dân chủ vào đêm 4.6.1989 tại Quảng trường Thiên An Môn.

Con số người chết chưa được công bố rõ ràng. “Những ước tính về con số thiệt mạng dân sự khác nhau: 400-800 (CIA), 2.600 (Chữ thập đỏ Trung Quốc) và một nguồn chưa được xác định khác là 5.000. Số người bị thương từ 7.000 đến 10.000” (Theo Wikipedia)

Những tội ác dù được thực hiện ban đêm theo sách lược của những người Cộng sản Trung Quốc, họ tưởng chừng có thể mượn màn đêm che đi tội ác của mình trước lương tri nhân loại. Nhưng, nhân loại không quên, nhân dân Trung Quốc đã không quên.

Đây là một tội ác man rợ của nhà cầm quyền Trung cộng với chính đồng bào mình, nhân dân mình.

Đã hai mươi năm qua, cuộc tàn sát đẫm máu đó vẫn đang là một nỗi đau và uất hận trong lòng mỗi người dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, tự do, dân chủ. Đó vẫn là một vết nhơ ngàn đời không thể rửa và là một minh chứng hùng hồn, bài học đau thương về tội ác của Trung cộng đã gây ra ở đất nước này.

Sự kiện đó nói lên điều gì?

Không thể giải thích gì hơn là vì để bảo vệ sự độc tài của mình, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngần ngại quay lại để cán nát quần chúng nhân dân Trung Quốc khi họ chống tham nhũng và đòi tự do dân chủ.

Cũng không thể giải thích gì hơn, chính những người Cộng sản Trung Quốc luôn tự vinh danh là nô bộc của nhân dân đã lộ nguyên hình là những kẻ khát máu và bất chấp tính người khi vị trí độc quyền, độc đảng của mình bị đe dọa bởi những cuộc biểu tình ôn hòa, bất bạo động. Họ đã trở mặt với nhân dân khi quyền lực đã được kiểm soát bởi tay họ.

Đó cũng là cách hành xử của một “chính quyền được sinh ra từ họng súng” như Mao Trạch Đông đã nói.

Tội ác diệt chủng

Nhớ đến tội ác diệt chủng, người ta không thể quên đất nước Campuchia láng giềng đã từng chịu nạn diệt chủng một thời gian dài dưới bàn tay của bọn Khơme Đỏ  Polpot – IengXary. Những người cũng thường tự mệnh danh là “Cộng sản chân chính và trong sạch”. Những đàn em, học trò của Chủ nghĩa Mao và Cộng sản Quốc tế.

Bè lũ Polpot – IengXary một thời đã là “những người cộng sản anh em” của Việt Nam, đã gây bao nhiêu tội ác diệt chủng không chỉ với nhân dân Việt Nam bằng những cuộc tàn sát đẫm máu ở Ba Chúc – An Giang với 3.157 người bị sát hại từ buổi sáng 18-4-1978. Hơn 20.000 người Việt Nam tại dọc biên giới đã bị bọn chúng sát hại.

Hơn thế nữa, ngay cả với đồng bào, nhân dân mình, bè lũ Polpot còn thực hiện chính sách diệt chủng và cải tạo xã hội bằng cuốc, thuổng để xây dựng một “mô hình Cộng sản trong sạch”: Không chợ búa, không gia đình, không tiền tệ, không trí thức…

Hậu quả của việc “xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản trong sạch” này là 2,5 triệu người Campuchia đã bị sát hại dã man.

Với những tội ác diệt chủng này, người ta thấy bóng dáng của Chủ nghĩa phát xít hiện nguyên hình. Chỉ có điều khác hơn là Chủ nghĩa Phát xít dù man rợ, cũng thường chỉ giết hàng loạt người dị chủng trừ dân tộc mình. Còn ở đây, bọn Khơme Đỏ đã không ngần ngại gây tội ác diệt chủng ngay với nhân dân mình, đồng bào và dân tộc mình.

Trên bình diện quốc tế, những cuộc chiến giữa những đất nước “cộng sản anh em” lại là những cuộc chiến đẫm máu và khốc liệt. Điển hình là cuộc xâm lược Việt Nam của nhà cầm quyền Bắc Kinh từ 17.2-05.3.1979. Những tội ác này còn in đậm trong lòng người Việt Nam dù vốn giàu lòng vị tha.

Những bài học cho hôm nay

Những nạn nhân của cuộc đàn áp này đã hai mươi năm chưa được siêu thoát. Người thân của các nạn nhân đang đau nỗi đau riêng của gia đình và nỗi đau chung của cả dân tộc Trung Quốc vẫn dưới sự cai trị của nhóm độc tài đảng trị.

Những hình ảnh, những video quay lại sự rùng rợn, ghê tởm của tội ác Thiên An Môn hai mươi năm trước nhắc nhủ người dân Việt điều gì?

Với chính nhân dân mình, đồng loại của mình, dân tộc mình mà nhà cầm quyền Bắc Kinh còn không ngần ngại dùng xe tăng cán nát hàng loạt, là một tội ác chống nhân loại.

Vậy thì đâu có gì lạ khi những ngư dân Hậu Lộc – Thanh Hóa hiền lành đánh cá trên biển Việt Nam bị tàu Trung Quốc bắn chết một cách ngang nhiên.

Đâu có lạ gì khi để thỏa mãn mưu đồ bành trướng của giấc mơ Đại Hán, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tấn công chiếm giữ Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974. Năm 1988, Trường Sa của Việt Nam cũng đã bị đánh chiếm trắng trợn, 64 chiến sỹ đã bỏ mạng khi canh giữ từng hòn đảo chìm của đất nước.

Đâu có gì là lạ khi những ngư dân Việt Nam hiện nay đang bó gối ngồi nhà vì những lệnh ngang ngược cấm đánh bắt cá trên biển Việt Nam từ nhà cầm quyền Trung Quốc sau khi hàng loạt tàu bè của ngư dân bị tàu của “nước ngoài” tấn công.

Chỉ có những điều lạ là những cuộc biểu tình, biểu thị lòng yêu nước của thanh niên và nhân dân Việt Nam đã bị nhà cầm quyền Việt Nam trấn áp. Chỉ có điều lạ là những “công nhân nước ngoài” vào Việt Nam lao động với con số đã tính được là hàng ngàn người và rất nhiều người không hề có giấy phép mà không có cơ quan nào đứng ra nhận trách nhiệm.

Và có một điều lạ lùng nhất, là dự án Bauxite Tây Nguyên đã được triển khai, rước quân Trung Quốc vào mái nhà Tây Nguyên, dù mọi tầng lớp nhân dân, trí thức đã hết sức bất bình.

Để giải thích điều lạ lùng này, cũng cần biết rằng chính những cơ quan đã và đang “làm hết sức mình” cho dự án này được triển khai lại là cơ quan đã có trang web tuyên truyền rằng phần lãnh thổ Việt Nam bị Trung Quốc cướp đoạt là “của Trung Quốc”?

Với những người cộng sản Trung Quốc, khi chính nhân dân mình, đồng bào mình còn bị tàn sát không gớm tay, thì với nhân dân Việt Nam hay dân tộc khác, có nên trông đợi vào sự hữu hảo, hữu nghị hay lòng tốt của họ?

Dù cho đó là 16 chữ vàng hay 1600 chữ gì đi nữa, cũng cần suy xét và cân nhắc cẩn thận những lời hoa mỹ của những người Cộng sản Trung Quốc với đất nước này, dân tộc này.

Là người dân Việt Nam, chúng ta hãy tỉnh thức, nếu chúng ta không muốn đất nước này quay lại thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc.

Hà Nội, Ngày 4 tháng 6 năm 2009

J.B Nguyễn Hữu Vinh

– BIẾN CỐ THIÊN AN MÔN: một người dân thường nhớ lại

Chuyện Thiên An Môn vẫn đầy nhạy cảm ở Trung Quốc

MOT NGUOI BINH THUONG NHO LAIKhông chỉ có sinh viên tham gia cuộc biểu tình ở Bắc Kinh năm 1989, người bình thường sống ở chung quanh cũng gia nhập phong trào.

Một cư dân Bắc Kinh có mặt ở thành phố trong suốt thời gian biểu tình nói rằng có rất nhiều người bình thường ủng hộ các đòi hỏi của sinh viên.

“Chủ yếu là họ đòi dân chủ, tự do và phát triển kinh tế, và chống lại tham nhũng”, một người 57 tuổi muốn giấu tên cho biết.

Nhưng lúc ban đầu thì ông rất thận trọng trước khi tham gia biểu tình.

“Nói thật với quí vị là tôi khá sợ, cho nên không muốn liên can tới chuyện này, mà chỉ đứng ngoài nhìn.”

Nhưng đến đêm 3 tháng Sáu thì ông biết sẽ có chuyện gì đó xảy ra vì tất cả các chương trình truyền hình bất ngờ bị hủy.

“Chỉ có một thông báo của chính quyền nói chúng tôi đừng ra khỏi nhà, cho nên tôi ra ngoài và chứng kiến những gì đã xảy ra”.

Ông muốn tới lo cho mẹ, nhưng đến một khu giao lộ ở Hạ Hưng Môn, phía tây Quảng trường Thiên An Môn, thì trông thấy quân lính.

“Có rất nhiều binh sĩ và họ nổ súng. Phản ứng đầu tiên của tôi là nằm xuống đất,” ông kể.

Ông chạy vào bệnh viện nhi đồng ở gần đó, và thấy có hơn 20 người đang được chữa trị.

Người ta đem những người bị thương đến trên xe hơi và xe hai bánh, và một số người thì đi bộ. Và ở một bệnh viện gần đó ông nhìn thấy có thêm người bị thương.

Trong vòng vài ngày sau đó đa số dân chúng ở nhà; các văn phòng đóng cửa và hầu như không có phương tiện giao thông công cộng.

Ông nói giới trẻ ngày hôm nay không biết gì về những chuyện đã xảy ra hồi 20 năm trước.

“Không hề có thông tin gì trên sách giáo khoa cả cho học sinh tiểu học lẫn trung học. Nhưng điều này không thể quên được,” ông nói.

Việc nhân chứng này không muốn nêu tên chứng tỏ vấn đề vẫn còn đầy nhạy cảm ở Trung Quốc.

“Chính phủ cần khôi phục danh dự cho những người tham gia, vì những gì họ làm là vì đất nước – vì dân chủ và chống tham nhũng.”

Nhưng ông nói chuyện đó sẽ không xảy ra với thế hệ lãnh đạo hiện nay, hay thậm chí kế tiếp – nhưng một ngày nào đó, sự đánh giá lại sẽ phải xảy ra.

Người dân địa phương này nói chuyện với phóng viên BBC Michael Bristow ở Bắc Kinh.
 
BBCVietnamese.com