– Tây nguyên, TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG CỦA TƯỚNG GIÁP

Tom Fawthrop

VO NGUYEN GIAPNăm 1954, tướng Võ Nguyên Giáp đã lập kế hoạch cho thiên anh hùng ca 57 ngày đêm chiến đấu gian khổ dẫn đến thất bại của chủ nghĩa đế quốc Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng này đã đập tan quan niệm vốn có về sự bách chiến bách thắng của phương Tây và cổ võ cho cuộc đấu tranh chống chế độ thuộc địa trên toàn thế giới. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ tướng Giáp lại một lần nữa là Tổng chỉ huy, nhưng lần này ông còn nhận thêm trách nhiệm Bộ trưởng Quốc phòng của Chính phủ Hồ Chí Minh ở miền Bắc Việt Nam nữa.

Con đường tiếp tế làm người ta phải kinh ngạc kéo dài 2.000 dặm qua rừng rậm và núi cao, gọi là “đường mòn Hồ Chí Minh”, chính là sáng kiến của tướng Giáp. Đấy là con đường bị hứng chịu nhiều bom đạn nhất trong lịch sử chiến tranh. Tướng Giáp cũng là người lập kế hoạch cho cuộc Tổng tấn công Mùa xuân năm 1975.

Tướng Giáp được dư luận rộng rãi công nhận là một trong những nhà chỉ huy quân sự vĩ đại nhất trong thế kỉ XX– đặc biệt hơn nữa là ông vốn xuất thân là một người hoạt động trong lĩnh vực dân sự – những năm đầu đời ông từng là nhà giáo và nhà báo. Sau chiến tranh, những người lãnh đạo cứng rắn kiểm soát Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghen tức với địa vị quốc tế và khả năng trí tuệ của ông, và người anh hùng của cuộc chiến tranh bị đẩy ra khỏi Bộ Chính trị vào năm 1982. Ông nghỉ hưu vào năm 1991 với chức vụ Phó Thủ tướng.

Người lính nổi tiếng nhất của đất nước tiếp tục chiến đấu. Lần này là vì môi trường.

Năm nay ông đã 97 tuổi, sức khoẻ đã giảm sút nhưng tinh thần vẫn rất minh mẫn. Tướng Giáp sống với vợ trong một ngôi nhà cổ xây từ thời thuộc Pháp, ông sống ở đây gần trọn cuộc đời. Ông thường dậy vào lúc năm giờ sáng, ông tập thở rồi mở đài RFI, sau đó mới nghe tin tức trên các đài của Việt Nam.

Ông thường được những người có vai vế, cả trong nước lẫn quốc tế, đến thăm. Hồi năm ngoái ông Lula, Tổng thống Brazil; ông Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela và ông Thabo Mbeki, Tổng thống Nam Phi đã đến thăm ông. Rất nhiều chính trị gia Mỹ, trong đó có Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời chiến tranh Việt Nam đã tới thăm ông.

Tuy đã rời bỏ các chức vụ chính thức, ngoại trừ một vài chức vụ có tính danh dự ở các Hội Cựu chiến binh và Hội Sử học, nhưng người lính nổi tiếng nhất vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Lần này là cuộc chiến vì môi trường.

Chính phủ Việt Nam vì muốn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục – vốn đã bị cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm chậm lại – đã cam kết khai thác 8 triệu tấn bauxite, tức là loại quặng cần thiết cho sản xuất nhôm.

Hai phần ba trữ lượng bauxite của Việt Nam nằm trên cao nguyên Trung phần, một khu vực tuyệt đẹp và phì nhiêu với những rãy núi rậm rạp, những đồn điền cà phê và một số người còn khẳng định rằng có tiềm năng kinh tế du lịch rất lớn. Người ta sợ rằng việc khai thác mỏ lộ thiên sẽ phá hủy diện tích rừng và khu vực canh tác rộng, và để lại một lượng bùn độc hại to lớn.

Mặc dù giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có một lịch sử xung đột lâu dài, Công ty Chinalco, một công ty sản xuất nhôm khổng lồ của Trung Quốc, đã được giao hợp đồng của một trong những khu mỏ ở đây. Nhưng tháng Giêng năm nay tướng Giáp đã gửi cho Chính phủ thư ngỏ kêu gọi dừng ngay dự án. 

Tướng Giáp, người anh hùng dân tộc, bạn tâm giao của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong rất ít chính trị gia không có tì vết của Việt Nam, đấy là sự kiện không thể tranh cãi và Chính phủ hiểu rằng không thể coi ông chỉ là một người bất đồng chính kiến. Hơn nữa, khi làm Phó Thủ tướng, hồi những năm 1980, ông đã tích cực giúp đỡ các nhà sinh thái học Việt Nam, thành tích bảo vệ môi trường của tướng Giáp là rất thuyết phục. 

Theo khoa học gia Nguyễn Hữu Ninh, một thành viên của nhóm khoa học gia của Liên hiệp quốc được trao giải Nobel Hoà bình vào năm 2007 do có thành tích hoạt động trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, thì tướng Giáp là người hiểu rõ môn sinh thái học. Hơn nữa, “Ông là nhà lãnh đạo thời hậu chiến đầu tiên của chúng tôi chú ý đến vấn đề môi trường”. Năm 1986 có vị Giáo sư đi công tác ở Anh về đã mang biếu ông cuốn sách Nhỏ là đẹp của Schumacher, một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của phong trào bảo vệ môi trường (Green Movement). Biếu ông chiều thứ sáu thì thứ hai ông đã đọc xong và hỏi xin thêm sách về sinh thái học. 

Vì vậy mà bức thư của vị “Tuớng xanh”, nói rõ những hậu quả của việc khai thác mỏ liên quan đến thiệt hại về môi trường, tác hại đến đồng bào dân tộc thiểu số và thậm chí an ninh quốc gia nữa, đã tạo ra một phong trào phản đối chưa từng có, đây là sự kiện hiếm hoi trong nhà nước độc đảng này. Nó còn được coi là hiếm trong hệ thống độc đảng vì phong trào phản đối được nói tới trên cả các phương tiện truyền thông của nhà nước nữa. Sự can thiệp của vị Tướng đã thúc đẩy 135 nhà khoa học có tiếng ký Kiến nghị gửi Quốc hội Việt Nam yêu cầu dừng ngay dự án.

Trước làn sóng phản đối, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người đã gọi khai thác bauxite là chính sách lớn của Đảng và Chính phủ”, cảm thấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc rút lui. Tháng trước, sau một cuộc hội thảo về môi trường được tổ chức một cách vội vã, ông đã phải đồng ý thu hẹp dự án cho đến khi ảnh hưởng đối với môi trường được đánh giá một cách đầy đủ. 

Bây giờ, những người phản biện đặt vấn đề về tính khả thi về mặt kinh tế, vì việc luyện bauxite đòi hỏi nhiều nước và điện năng giá rẻ, Việt Nam lại đang phải đối mặt với sự thiếu hụt cả điện lẫn nước. Bên cạnh những lo lắng về môi trường, những người phản đối còn phàn nàn về sự hiện diện của hàng trăm công nhân Trung Quốc trên vùng đất có tính chiến lược ở cao nguyên Trung phần.

Phong trào phản đối đang phát triển rầm rộ, ngay cả Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng tham gia, Thủ tướng Dũng đã cho ngưng một mỏ, nhưng vẫn cho Chinalco tiếp tục khai thác một mỏ khác.

Tướng Giáp có thể không giành thắng lợi hoàn toàn trong trận đánh này, nhưng, cũng như mọi khi, ông đã châm ngòi cho một cuộc chiến đấu vô cùng mãnh liệt. 

Phạm Duy Hiển dịch 

Bauxite Việt Nam đã được The First Post cho phép chuyển ngữ sang tiếng Việt

Authorized to be translated into Vietnamese by The First Post

Source: http:..www.thefirstpost.co.uk.47848,news,general-vo-nguyen-giaps-last-battle-against-bauxite-mining-vietnam-environment 

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập 

CHÚ THÍCH ẢNH: Tiêu diệt Pháp. Nhục mạ Mỹ. Bây giờ Tướng Giáp của Việt Nam đang đối mặt với trận đánh cuối cùng của đời mình. Hình: The First Post

– BAUXITE: HÁ MIỆNG MẮC QUAI

PHẠM TRẦN

Tướng Giáp đòi ngưng ngay-Quốc Hội hoang mang lo sợ

Nhà nước Cộng sản Việt Nam, qua Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng, đã gửi Báo cáo về việc triển khai các dự án bô-xít (bauxite) ở Tây Nguyên tới Quốc Hội ngày 22.5.2009, nhưng văn kiện này chỉ làm cho nhiều người trong số 493 Đại biểu hoang mang và lo sợ thêm.

Ngoài sự giải trình không có tài liệu chứng minh về tính khả thi của dự án, Báo cáo đã làm cho nhiều Đại biểu hoài nghi về hiệu quả kinh tế của bauxite, tính khả nghi thiếu bảo đảm về sự tàn phá thiên nhiên và hậu quả để lại lâu dài cho môi trường của bùn đỏ. Vấn đề an ninh quốc gia cũng đã được nêu lên do sự liên hệ mật thiết của dự án với Nhà thầu Trung Hoa Chalieco (công ty con của đại công ty Chalco) và đông đảo công nhân của họ đang làm việc tại Tân Rai (Lâm Đồng) và trong tương lai sẽ thêm người tại Nhân Cơ (Đắk Nông).

Theo dự trù, quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít có thể kéo dài đến năm 2025, và nếu khai thác hết 5,5 tỷ tấn bauxite thì sự có mặt của công nhân người Tàu, trong trường hợp các công ty Tàu tiếp tục trúng thầu, sẽ kéo dài mãi.

Báo cáo Chính phủ xác nhận sự hiện diện của công nhân Tàu hiện nay tại Tân Rai : “ Phần xây dựng Nhà máy luyện alumin (gói thầu EPC): chủ yếu do lao động của nhà thầu Chalieco, Trung Quốc thực hiện, một phần do lao động Việt Nam thực hiện. Số lượng lao động Trung Quốc tại công trường nhà máy alumin hiện nay (tháng 5 năm 2009) khoảng 600 người, lao động Việt Nam khoảng 350 người.”

Theo các báo trong nước, ngoài số công nhân Tàu đang có mặt ở Tân Rai và sẽ được nhà thầu Trung Hoa tiếp tục đem vào Đắk Nông trong tương lai, còn có khỏang 50 ngàn công nhân Tàu đang làm việc cho các nhà máy hay công trình kinh tế do các Công ty Tàu trúng thầu tại Việt Nam.

Hậu thuẫn cho mối quan tâm cao độ tiếp tục lên cao của dự luận, đúng vào ngày Quốc hội khai mạc Kỳ họp V ngày 20-5-2009, tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thêm Thư thứ 3 đến Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ và Quốc hội yêu cầu “dừng các dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm”.

Ông viết: “Chủ trương khai thác chế biến bô xít ở Tây Nguyên là một vấn đề hết sức hệ trọng sẽ có tác động lớn đến môi trường sinh thái, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đến phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Nhiều vấn đề mà Bộ Chính trị nêu lên cho đến nay chưa được nghiên cứu phân tích đánh giá toàn diện đầy đủ và chưa có phương án giải quyết rõ ràng, còn nhiều vấn đề bất cập.

Do đó, tôi đề nghị dừng các dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm. Nên giao cho Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tập hợp những cán bộ khoa học có liên quan tiến hành một chương trình khoa học nghiên cứu phát triển tổng thể kinh tế – xã hội ở Tây Nguyên, có tính đến quan hệ với vùng Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, trong đó tập trung nghiên cứu vấn đề bô xít Tây Nguyên một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề mà Bộ Chính trị đã nêu lên.”

Trong Kết Luận ngày 24-4-2009, Bộ Chính trị đã phổ biến và gửi cho tướng Giáp, ta có thể thu gọn vào các điểm chính:

1) Đảng và Chính phủ đã phải cho “rà soát lại” toàn bộ kế hoạch khai thác.

2) Cho kiểm tra lại các đế án xây dựng hai nhà máy chế biến bauxite tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), trong đó quan trọng nhất là phải bảo đảm và quản lý được chất độc bùn đỏ không gây ô nhiễm cho môi trường để hại cho dân, cho nước về sau.

3) Đình chỉ ý định bán cổ phần khai thác Bauxite cho nước ngoài.

4) Kiểm tra lại việc sử dụng hàng ngàn công nhân nước ngoài (hầu hết và người Tàu) không phải là chuyên viên bắt buộc phải có đang làm việc tại hai khu khai thác Tân Rai và Nhân Cơ.

5) Tính lại kinh phí đành cho việc khai thác và lợi nhuận kinh tế đem lại cho đất nước và người dân địa phương.

Tuy nhiên, như tướng Giáp nêu lên, Bộ Chính trị không ra lệnh đình chỉ việc xây dựng hai nhà máy ở Tân Rai và Nhân Cơ mà vẫn cho thi hành kế hoạch khai thác bauxite như dự trù.

Vì vậy mà không riêng gì tướng Giáp, đông đảo Đại biểu Quốc hội mà còn có cả hàng ngàn Trí thức, các Nhà Khoa học và người dân đã trách đảng không thèm xét đến yêu cầu của người dân mà cứ làm theo ý mình.

Do đó, ông Giáp đã ủng hộ ý kiến ngưng dự án và trao việc nghiên cứu lại từ đầu và đấy đủ hơn cho các chuyên viên.

Tướng Giáp viết tiếp: “Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ấy, Trung ương, Quốc hội mới cân nhắc có nên khai thác hay không nên khai thác. Tôi thiên về chủ trương hiện nay không nên khai thác, chờ khi khoa học phát triển, có công nghệ mới hiện đại hơn sẽ tiết kiệm tài nguyên, hiệu quả cao hơn, an toàn hơn. Hiện nay chưa khai thác bô xít ở Tây Nguyên, dành tài nguyên đó cho thế hệ mai sau và không khai thác bô xít thì chúng ta vẫn tiến hành được công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tôi đề nghị Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội hãy nêu cao trách nhiệm to lớn của toàn Đảng, toàn dân thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách dân chủ, khoa học. Chỉ quyết định khi đã biết được kết quả nghiên cứu phân tích đầy đủ, toàn diện các vấn đề đặt ra, lắng nghe ý kiến rộng rãi của đông đảo các nhà khoa học, của cán bộ và nhân dân hơn nữa. Làm như vậy là để tránh được quyết định sai lầm, gây nên tai hoạ lớn cho đất nước.”

Cũng nên biết là Bộ Chính trị và Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, đã không thèm trả lời hai Thư trước của tướng Giáp, trong đó ông cũng yêu cầu đình chỉ dự án. Ông cũng đã cảnh giác Chính phủ về nguy cơ an ninh và quốc phòng trong việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, tức “nóc nhà của Đông Dương”. Tuy tướng Giáp không nói thẳng đến sự có mặt của người Tàu, nhưng ai cũng hiểu ông muốn ám chỉ ai.

Trong Báo cáo với Quốc Hội, Nhà nước khẳng định: “ Việt Nam được xác định là một trong những nước có nguồn bô-xít lớn trên thế giới. Tổng trữ lượng quặng bô-xít đã xác định và tài nguyên dự báo khoảng 5,5 tỷ tấn (đứng thứ 3 thế giới), trong đó khu vực miền Bắc khoảng 91 triệu tấn, còn lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam khoảng 5,4 tỷ tấn. Trữ lượng đã xác định khoảng 4,4 tỷ tấn, dự báo khoảng 1 tỷ tấn. Đây là yếu tố quan trọng và quyết định việc phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và nhôm kim loại Việt Nam”.

Nhưng vấn đề đặt ra là Việt Nam chưa có khả năng tự mình làm được tất cả mà phải thuê công ty nước ngoài từ A đến Z, trước khi được công ty nước ngoài dạy cho cách điều hành nhà máy. Công ty nước ngoài, trong trường hợp hiện nay là Công ty Chalieco, trực thuộc Tổng Công ty Chalco của Tàu Bắc Kinh.

Phản ứng quyết liệt

Mặc dù không được ghi trong chương trình thảo luận công khai, nhưng một số Đại biểu Quốc hội đã lợi dụng khi thảo luận về tình hình Kinh tế đã bắt vào Báo cáo của Chính phủ để đưa ra ý kiến.

Hai người phát biểu mạnh nhất và hoài nghi cao độ về dự án bauxite là Đại biều Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn) và Đại biểu Dương Trung Quốc của tỉnh Đồng Nai.

Theo báo Dân Trí ngày 26-5 (2009) thì Ông Thuyết cho rằng: “dự án từ nay đến 2025 sẽ cần huy động vốn đầu tư là 190.000 cho đến 250.000 tỉ đồng. Các nhà máy trải dài ra ở tất cả 4 tỉnh và riêng Đắk Nông có đến 4 nhà máy alumin.

Thêm vào đó có rất nhiều công trình phụ trợ nên sẽ phải xây tuyến xe lửa dài khoảng 270km trên địa hình hết sức quanh co, phức tạp… “Nếu được mời đi xe lửa chênh vênh như thế thì tôi không biết mình có đủ dũng cảm để đi không?”

Đó là còn chưa kể làm cảng ở hòn Kê Gà hoặc hòn Gió mà nếu tính tất cả phụ trợ này vào sản phẩm alumin, giá sẽ rất cao và như thế không có lãi. Còn nếu như không tính vào sản phẩm alumin mà coi là công trình dân dụng thì theo ông Thuyết, vô hình trung, đã lấy tiền thuế của dân để làm lợi cho doanh nghiệp.

“Giá alumin chỉ bằng 12% của giá nhôm thành phẩm. Giá alumin trên thị trường đang xuống thấp, tại sao chúng ta phải đi vay vài trăm triệu đô la để làm những nhà máy như ở Tân Rai, Nhân Cơ trong khi nền kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn mà lãi thì chưa nhìn thấy đâu”

Báo Dân Trí viết tiếp: “Về môi trường, theo ông Thuyết, việc xây các hồ chứa nước sẽ ảnh hưởng đến đồng bằng Đông Nam Bộ. Đáng ngại hơn, với lượng alumin chúng ta sản xuất ra thì từ năm 2015 mỗi năm thải ra 10 triệu tấn bùn đỏ và hết đời của dự án này là thải ra 1,5 tỷ tấn và đó là những “quả bom” bùn treo trên cao, trên Đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Về lao động, ông Thuyết cho rằng trong số 300 công nhân được đi đào tạo chỉ có 2 công nhân là người địa phương, trong khi đại biểu địa phương nói sẽ có 1.000 công nhân sẽ được đi đào tạo. Ông đề nghị Quốc hội ghi lại các con số để những năm tới kiểm tra.”

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị phải coi đây là công trình quan trọng quốc gia, bởi vì cả cụm dự án tiêu một số tiền gấp 10 lần tiêu chí tiền cho một công trình quan trọng quốc gia. Quốc hội phải thẩm tra và cuối năm nay sẽ xem xét quyết định, không nên quyết định vội.

Theo ông, nếu không tính cả cụm dự án mà cứ tách từng dự án ra để nói rằng chưa đến số tiền Quốc hội yêu cầu đưa vào công trình trọng điểm quốc gia là lách luật.”

Cũng cần nhắc lại, Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội từng tuyên bố vì mỗi dự án chỉ tốn có 600 triệu Dollars nên chưa đủ phải xin ý kiến Quốc hội. Nhưng nếu chỉ tính riêng 4 dự án tại Đắk Nông và 1 dự án ở Tân Rai (Lâm Đồng) thôi thì số tiền đã lên tới 3,000 triệu Dollars. Ngoài ra, cũng còn phải kể đến các dự án trong tương lai tại hai tỉnh Gia Lai và Bình Phước.

Theo tin của Website Chính phủ ngày 06.11.2007 thì “Nhu cầu vốn đầu tư cho thăm dò, khai thác và chế biến quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2025 ước tính từ 11,8 – 15,6 tỷ USD gồm các dự án khai thác, chế biến bauxit (sản xuất và điện phân nhôm) và hạ tầng cơ sở (đường sắt và cảng)”.

Với số kinh phí khổng lồ như thế mà vẫn tìm cách tách riêng ra từng dự án để tránh đưa ra Quốc hội thảo luận thì không những chỉ “lách luật” mà còn cố tình “che mắt” và “đánh lừa” nhân dân.

Mặt khác, báo ViệtNamNet ngày 26-5-2009 cũng tường thuật lới tuyên bố của ông Thuyết: “Theo Quyết định 167 của Chính phủ, dự án này từ nay đến năm 2025 sẽ cần huy động 190.000 -250.000 tỷ đồng vốn đầu tư. Riêng Đăk Nông có đến 4 nhà máy alumin, đánh số từ 1 đến 4, trải dài ở 4 tỉnh là Lâm Đồng, Đắk Nông, Gia Lai, Bình Phước. Chưa kể, còn có rất nhiều công trình phụ trợ.

Ông Thuyết dẫn chứng, chỉ tính riêng việc xây dựng một đường xe lửa dài 270km, với độ chênh của các điểm đến 700m, trên địa hình hết sức phức tạp, quanh co thì phải tiêu tốn 3,1 tỷ USD.

“Ô tô thì có thể đi được nhưng xe lửa thì chưa biết đi như thế nào, mà nếu được mời đi đường xe lửa chênh vênh như thế, tôi không biết là mình có đủ dũng cảm để đi không. Tiền rất tốn. Ngoài ra, còn phải làm cảng ở Hòn Kê Gà hoặc Hòn Gió, tất cả những tiền này tính vào đâu?…”.

Ông Thuyết cũng đưa ra những tính toán đã được các nhà khoa học chỉ ra. Đó là giá alumin chỉ bằng 12% giá nhôm thành phẩm. Alumin là khoáng sản thô, đã được Đại hội 10 BCH Trung ương Đảng xác định phải hạn chế xuất khẩu. “Giá alumin trên thị trường đang xuống thấp, nền kinh tế đang gặp khó khăn, lãi lời chưa thấy đâu, vậy mà oái oăm là Việt Nam lại đi vay vài trăm triệu đôla để làm những nhà máy như ở Tân Rai, Nhân Cơ”.

Trong khi đó, ngay Chủ tịch Hội đồng quản trị của TKV cũng nói là 50 ăn, 50 thua. “Nếu bây giờ mình bỏ tiền túi của mình ra thì có bao giờ mình đi kinh doanh theo kiểu chưa nhìn thấy lãi mà đã kinh doanh không?”.,

Vét của dâng cho ai ?

Vẫn theo Dân Trí, Đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) nêu vấn đề: “ Chúng ta có dự trữ cho tương lai, có để dành cho con cháu không hay cứ có chút của giả nào của tổ tiên để lại là đào cho bằng hết. Đất đai, than đá, dầu khí… hiện chiếm một tỷ trọng rất cao trong thu ngân sách là một biểu hiện tận khai thác mà ông Quốc lo ngại.

Ông Quốc hỏi: “ Tại sao ta không dành bô xít cho con cháu làm khi chúng ta có đủ năng lực là đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Ngoài bô xít, Tây Nguyên còn nhiều tiềm năng khác, bô xít không phải là duy nhất. Tổ tiên ta đã dạy là “lọt sàng xuống nia” hay còn nhiều câu hay hơn là đời cha phải tập ăn nhạt thì đời con mới có nước uống”.

Nhà sử học Duơng Trung Quốc cũng nêu một câu hỏi: “Vì sao một chủ trương lớn, quan trọng có thể làm thay đổi Tây Nguyên như thế, đã được chuẩn bị lâu như thế mà đến lúc này Quốc hội mới có cơ hội bàn đến.”

Ông Quốc đề nghị Quốc hội phải xem chính vai trò của mình, tại sao đứng ngoài sự việc. Theo ông Quốc: “Khi giải trình, Chính phủ đưa ra 2 tiêu chí để dự án này không phải đưa ra Quốc hội là hạn mức đầu tư chưa đủ và mới lập quy hoạch, nhưng việc xây dựng nhà Quốc hội và mở rộng Hà Nội đã từng đưa ra Quốc hội đâu phải vì hạn mức đầu tư hay mới lập quy hoạch.”

“Tôi cũng đồng tình với đại biểu Thuyết nói việc này là việc quan trọng quốc gia, cần phải ra Quốc hội bàn bạc. Đưa ra Quốc hội có nghĩa là đưa ra nhân dân và khi Quốc hội biết thì sẽ đạt được sự đồng thuận rất cao”, đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) bày tỏ.

“Tôi cũng đồng tình với đại biểu Thuyết nói việc này là việc quan trọng quốc gia, cần phải ra Quốc hội bàn bạc. Đưa ra Quốc hội có nghĩa là đưa ra nhân dân và khi Quốc hội biết thì sẽ đạt được sự đồng thuận rất cao”, đại biểu Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) bày tỏ. (Báo Dân Trí, 26-5-09)

Tàu mua rẻ bán đắt

Chung quanh vấn đề cho Tàu nhẩy vào Cao Nguyên miền Nam Việt Nam khai thác bauxite nhằm mục đích phục vụ kinh tế Việt Nam hay Trung Hoa? Câu trả lời nước đôi là “cả hai cùng có lợi”. Nhưng trong trường hợp Việt Nam thì Tàu có lợi hơn nhiều.

Theo báo Tuần Việt Nam số ra ngày 20-4-2009 thì từ năm 2007, trong một bài viết đăng trên website Mạng lưới tình báo hàng hải, tác giả David Jordan đã tiết lộ: “Nhu cầu lớn của Trung Quốc đối với nhôm đã dẫn đến việc cải thiện và mở rộng ngành công nghiệp này ở nội địa. Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2007, Trung Quốc đã sản xuất 7,6 triệu tấn nhôm, tăng 52% so với năm trước. Do phải cần có khoảng 4 tấn bô-xít để sản xuất được 1 tấn nhôm, nên mức độ đẩy mạnh sản xuất nhôm này buộc Trung Quốc phải tăng cường bổ sung cho nguồn bô-xít trong nước bằng nguyên liệu nhập khẩu. Kết quả là, chỉ đến tháng 8.2007, Trung Quốc đã nhập khẩu 15,5 triệu tấn bô-xít, tăng 180% so với năm 2006 và gấp 15 lần năm 2005.

Theo truyền thống, Trung Quốc nhập khẩu phần lớn bô-xít từ Indonesia. Trong 9,3 triệu tấn nhập khẩu năm 2006, có đến 90,5% có nguồn gốc Indonesia. Nhưng trước việc Chính phủ Indonesia gần đây đã đóng cửa nhiều khu mỏ bất hợp pháp, Trung Quốc buộc phải chuyển hướng tìm các nguồn khác, đáng kể nhất là Ấn Độ. Đến tháng 8.2007, lượng bô-xít mà Trung Quốc nhập từ Ấn Độ đã tăng 28 lần so với năm trước, lên đến 3,4 triệu tấn.

Nhu cầu vận chuyển trọng tải lớn trên khoảng cách xa này đã tác động không nhỏ đến ngành thương mại vận tải bô-xít của Trung Quốc. Theo biểu đồ trên, trong 8 tháng đầu năm 2007, Trung Quốc nhập khẩu tổng cộng 44,6 tỉ đơn vị tấn.dặm, tăng 246% so với năm trước và gấp 19 lần năm 2005”.

Do đó, khi nền kinh tế của Trung Hoa càng ngày càng phát triển để bành trướng xuất cảng thì nhu cầu nhập cảng bauxite càng lên cao. Việt Nam là nước Tàu cần đến để khai thác.

Theo Báo cáo của Bộ Công thương với Quốc hội thì chỉ có dự án khai thác bauxite tại Tân Rai (Lâm Đồng) có “ thông qua đấu thầu quốc tế công khai”.

Báo cáo viết: “ Chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu thiết kế-mua sắm-xây dựng và đào tạo (EPC) nhà máy alumin với nhà thầu CHALIECO (Trung Quốc) thông qua đấu thầu quốc tế công khai, gói thầu đã được khởi công ngày 26 tháng 7 năm 2008.”

Nhưng tại sao dự án Nhân Cơ (Đắk Nông) lại không có đấu thầu mà Chalieco vẫn có thể nhẩy vào ngồi chồm hổm ở đó ?

Báo Tuổi Trẻ ngày 10-05-2009 trả lời cho mọi người: “Ông Bùi Quang Tiến, tổng giám đốc VNAC (Công ty cổ phần alumina Nhân Cơ, cho biết dự án Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ đã được khởi động đầu tư từ cuối năm 2005 với công suất dự kiến lúc đó là 100.000 tấn alumin.năm (tương đương 250.000 tấn quặng tinh.năm). Các hồ sơ dự thầu lúc ấy không đáp ứng yêu cầu và xét thấy hiệu quả kinh tế không có nên chủ đầu tư (Tập đoàn Khoáng sản Việt Nam) kiến nghị và được Thủ tướng cho phép điều chỉnh nâng công suất lên 300.000 tấn alumin.năm.

Tuy nhiên, kết quả đấu thầu lần thứ hai cũng không chọn được nhà thầu và tính toán lại hiệu quả kinh tế nên chủ đầu tư một lần nữa kiến nghị và được Thủ tướng cho phép điều chỉnh công suất lên mức 600.000 tấn.năm vào đầu tháng 5-2008. Lần này chủ đầu tư không tổ chức đấu thầu mà được Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải cho phép TKV chỉ định Công ty TNHH Công trình quốc tế nhôm Trung Quốc (Chalieco) – nhà thầu chính dự án bôxit Tân Rai – thực hiện gói thầu Nhà máy alumin Nhân Cơ.

Theo ông Tiến, ngày 18-3, VNAC và Chalieco đã ký hợp đồng, theo đó nhà thầu chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ thiết kế, nguyên vật liệu, thi công xây dựng các hạng mục công trình của nhà máy alumin và các dịch vụ đi kèm. Thời gian thi công và vận hành, chạy thử nhà máy là 24 tháng, bắt đầu tính từ ngày 1-10-2009.”

Như thế có phải Bộ Công thương đã “nói láo” không chỉ với Quốc hội mà với đồng bào cả nước?

Nhưng bây giờ thì chuyện Tàu vào “giúp” Việt Nam khai thác bauxite đang diễn ra thì lợi nhuận sẽ ra sao ?

Thứ nhất, giá bán quặng bauxite rẻ như bèo mà giá alumina chế biến từ quặng bauxite cũng chẳng cao mấy trên thị trường hiện nay, nhưng khi alumina biến thành nhôm (aluminum) để sản xuất xe hơi, máy móc, đồ dùng v.v.. thì lại đắt như vàng.

Thứ nhì, vì Việt Nam chỉ có thể sản xuất đến alumina và khách hàng gấn nhất sẽ là Trung Hoa nên tuy có làm cách mấy cũng không lời bằng kẻ mua về để chế biến phục vụ cho kỹ nghệ của họ.

Quanh đi quẩn lại chỉ có anh Tàu là hưởng lợi từ lúc đào bới, xây dựng đến khi khai thác lấy quặng rồi chở về nước qua cảng Bình Thuận.

Trong khi số phận hàng triệu dân Việt, từ đời nay qua đời khác, sẽ phải thay nhau gánh chịu ảnh hưởng tai hại của 1,5 tỷ tấn bùn đỏ, mà Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết gọi là “những “quả bom” bùn treo trên cao, trên Đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.”

Trách nhiệm này thuộc về ai? 

Phạm Trần
29.05.2009

– Di cảo thơ LƯU QUANG VŨ

(Di Cảo 1972-1975)

LUU QUANG VU va vo 

Những điều xỉ nhục
và căm giận

 

những điều xỉ nhục và căm giận
một dân tộc đã sinh ra
Trần Ích Tắc Lê Chiêu Thống
Hoàng Cao Khải Nguyễn Văn Thiệu…

những điều xỉ nhục và căm giận
một đất nước luôn có kẻ dẫn đường
cho người ngoài kéo đến xâm lăng
cho những cuộc chiến tranh
đẩy con em ra trận

những điều xỉ nhục và căm giận
một xứ sở
nhà tù lớn hơn trường học
một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới
có những cái đinh để đóng vào ngón tay
có những người Việt Nam
biết mổ bụng ăn gan người Việt

một đất nước
đến bây giờ vẫn đói
không có nhà để ở
không đủ áo để mặc
ốm không có thuốc
vẫn còn những người run rẩy xin ăn

nỗi xỉ nhục buốt lòng
khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng
phải làm việc mệt nhoài dưới nắng
khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng
khi người mình yêu
nói vào mặt mình những lời ti tiện
khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch
bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn

khinh mọi người và tự khinh mình
như chính tay ta đã gây ra mọi việc
và tất cả không cách nào cứu vãn

nỗi xỉ nhục ngập tràn trái đất
khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh
những nền văn minh chạy theo dục vọng
những guồng máy xấu xa chà đạp con người

đi suốt một ngày
giữa rác rưởi và chết chóc
luôn thấy bị ném bùn lên mặt
nói làm sao được nữa những lời yêu

nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào
nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở
nỗi tức giận làm mặt cha méo mó
trong hận thù không thể có niềm vui
nhưng không thể sống yên, không thể được nữa rồi
nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây
nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn
nỗi tủi nhục trên mỗi bậc thang lười biếng
trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt
trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng
mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm
mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên
trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường
nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng
trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thỏa mãn

cha chẳng có gì để lại cho con
ngoài một cửa sổ trống trơn
ngoài một tấm lòng tủi nhục và căm giận
ngoài kỷ niệm về những năm tàn khốc
cho một ngày con được sống thương yêu

 

 

Cơn bão

 

Những năm nhà nào cũng thiếu người
làng mạc ruộng vườn vắng bặt con trai
chúng tôi đi
cơn bão dữ thổi hai đầu đất nước
tuổi trẻ, ước mong, những gì quý nhất
đều trôi qua trong bụi xám chiến hào
triệu con người lên sống rừng sâu
khoét núi làm đường, chặt cây nhóm lửa
võng bạt, lán tranh, đất bùn nhầy nhụa
những đường dây, binh trạm, những sư đoàn
những sinh viên đi lái xe tăng
những dân chài trở thành pháo thủ
kế toán, thợ nề, nông trường viên, thợ mỏ
thành lính gỡ mìn và xung kích đâm lê
chúng tôi đào hào bám giữ đảo xa
gánh lên núi ngàn cân pháo nặng
chúng tôi lao máy bay mình vào máy bay của giặc
chúng tôi bắc cầu trong chớp lửa bom bi
những đội quân hốc hác lầm lì
xông lên đồi cao, lăn, toài, ném, bắn
nấp đỡ, gào la, mặt mày cháy xém
những vết thương rách nát máu bầm đen…
sự tàn khốc tận cùng
sức dẻo dai kỳ lạ
cơn bão lớn mười mấy năm chưa dứt
bao lớp người vẫn nườm nượp ra đi

từ đâu từ bao giờ
năm 60 năm 54?
từ Hướng Điền từ Phú Lợi?
hay từ lúc ngăn đôi dòng Bến Hải
viên tướng Mỹ đầu tiên xách cặp tới Đông dương?
hay từ lâu hơn, những thế kỷ xa xăm
những đạo quân Nam Hán, Nguyên Mông
những ranh giới phân tranh Trịnh, Nguyễn?

Chưa bao giờ đất tan hoang đến thế
những chuyến tàu chở đầy lính Mỹ
quần áo mới tinh, súng đạn đầy người
bom lân tinh và thuốc giang mai
cánh trực thăng ầm ầm quạt gió
ụ cát ngổn ngang, rào gai tua tủa
dải đất hẹp, mùa hè gió lửa
giành giật nhau từng viên gạch chân tường
một bên là con trai Thanh Hóa, Thái Bình
một bên là con những bà mẹ Thừa Thiên, Phan Thiết
những sinh viên Sài Gòn
những sĩ quan Đà Lạt
những đội quân mang tên dã thú
những tiểu đoàn không còn sót một ai
những mô đất con đổi bằng mạng trăm người
bằng pháo kích, lưỡi lê, bằng chân tay vật lộn
chúng tôi nằm dưới đường hào ngập nước
xa mọi người, xa mẹ, xa quê hương
ai bảo chúng tôi là tuổi trẻ tươi xanh
với mũi lê, với phát đạn đầu tiên
chúng tôi đã không còn trẻ nữa

từ bao giờ và còn bao giờ nữa
những quy luật tàn khốc của loài người
lý lẽ của súng đạn
những mục đích tốt đẹp
những mưu đồ xấu xa
những ý tưởng quá đà
những ngẫu nhiên tai ác
cơn bão lớn, lấp vết thương của đất
chúng tôi là triệu viên đá trên đê

mai đây bão táp lùi xa
những lớp người sau bình tâm nhìn lại
gọi chúng tôi là những người vĩ đại
hay chỉ là những thế hệ đáng thương?
sẽ xuýt xoa thán phục biết ơn
hay kinh hãi trước bạo tàn bắn giết?

tất cả chẳng có gì nói được
chẳng có gì gần gũi với chúng tôi
bằng một chiếc thìa gọt bởi cành cây
một chiếc ca thô sơ bằng vỏ đạn
chúng tôi làm dưới chiến hào bụi bậm
một dòng thư viết vội gửi mẹ già
một giấc mơ chợp ngủ thấy quê nhà
một tình yêu chúng tôi chưa được sống
một khu vườn chúng tôi chẳng kịp qua…

Bao tháng năm vô tận sẽ phai nhòa
đất đổi khác, mọi người rồi cũng khác
hãy quên chúng tôi đi
như quên quá khứ nặng nề
hãy quên chúng tôi đi
để chúng tôi được yên lặng trở về
để chúng tôi được hóa thành bụi đất
thành mưa rào trên xứ sở yêu thương.

 

 

Những đám mây ban sớm

 

quá khứ là một quả trứng ung
tương lai là một quả trứng đang ấp
hiện tại, chính là trái tim tôi
nhịp tiết của tim tôi là nhịp tiết của muôn đời
Paul Eluard
(Les sentiers et les routes de la poesie)

 

mây trắng ào ào bay trên thành phố
nắng sớm đầm đìa các ngả
đêm tan tành như khối thủy tinh đen
hầm hố muỗi ùa lên
những cô gái xõa tóc dài rửa mặt
những hiên gác tung bay quần áo rách
những đầu hè lộc ngộc trẻ bơm xe
vội vã bước người đi
nghe có gì lạ khác
huyệt bom tối còn khét mùi chết chóc
lá đã ngời nước mắt của bình minh
tôi đã nghe hơi thở của hòa bình
trên tường xiêu gạch vỡ
trong tiếng rao báo mới ngoài cổng chợ
trong mùi khói bánh mì và tiếng bánh xe lăn
hơi thở của hòa bình
run rẩy gió trên toa tàu bụi bậm
trên mệt nhọc mặt người trên vỉa hè bùn rác
trên mũi xám những con chuột chết
và hương nhài ủ rũ dưới vòm xanh
hơi thở của hòa bình
trên thân xác những cô gái tắm
trên nạng gỗ vẹo xiêu trên lừ đừ súng đạn
trên cồn cào nỗi nhớ người thân
trận mưa rào xám xịt mái tôn cong
cái thành phố thương tâm
cùng tôi sống chết
tôi nhớ hết mấy ngàn đêm dằng dặc
cả dân tộc cởi trần đứng trên bùn ướt
đầu đội mưa bom, tay cầm khẩu súng trường
những lòng người chia cắt đến tan hoang
những núi rào gai và vỏ đạn
đồng bãi hoang liêu, phố phường gạch vụn
bao cỏ ngọt bị giày đinh dẫm đạp
bao tha ma gò đống ngổn ngang nằm
chúng ta còn lại gì sau cuộc chiến tranh?
một tuổi trẻ sớm tàn
một đôi môi sớm tắt
không nhớ hết bao bạn bè đã chết
xác gục giữa bùn lầy
thái dương rỉ máu
không thể phủ huân chương
lên ngực trần đã rữa
cũng không thể bồi thường
bằng những đồng tiền viện trợ
làm sao có thể trở về
ngủ yên trên giường cũ
làm sao yên lành nhìn hoa nở
làm sao bình tâm ôm một người con gái
trong tay?
màu thuốc đạn trong mắt ta nguyền rủa
những nắm tay trong ngực ta phẫn nộ
mặt tương lai đẫm máu bơ phờ
mặt tương lai nặng trĩu âu lo
mọi thứ gió quay cuồng gầm xoáy
đã nổi bão trên đất này trơ trụi
máu đổ ra lênh láng tấm gương hồng
chúng ta đo bằng xương thịt của mình
những lầm lạc những bước chân vạch hướng
đất hai miền đạn hai phe cày nát
con người ơi xin con người tỉnh thức
xưa thấp bé trước nhỏ nhoi đích hẹp
nay con người vụt lớn trước bao la
nước Việt thân yêu nước Việt của ta
sao người phải chịu nhiều đau đớn thế
thân quằn quại mọi tai ương rách xé
con nghẹn ngào nhìn mẹ, mẹ yêu ơi
mẹ hãy nhận, lòng con như ống sáo
môi con bỏng, ngón tay con rỏ máu
những vần thơ con đặt dưới chân người

dải đất liền không thể mãi chia đôi
cần chi đâu cái nỏ thần khốn nạn
cái móng độc vứt trả cho rùa biển
Trọng Thủy về sum họp với Mỵ Châu
trăm người con Âu Lạc nắm tay nhau
đập vỡ mọi xích xiêng đê nhục
cho xóa sạch những niềm vui chém giết
cho ta về lợp lại mái nhà xưa
có nước lành có lửa ấm có hoa
sẽ mọc lên chiếc liềm hái khổng lồ
sẽ lớn dậy những thiên tài mới mẻ
những ban mai không tả tơi đạn xé
không ai phải chôn giấu điều mình nghĩ
không còn ai đạp lên những mối tình
không còn hàng rào biên giới nhà giam
không còn đứa trẻ móc túi nào để mọi người xúm vào đánh đập
không đứa trẻ nào bị na-pan thiêu đốt
không đứa trẻ nào không có đồ chơi
bà mẹ không đẻ ra những kẻ giết người
không còn những ngày tháng lắt lay
không ra sống không ra chết
con người là mục đích không còn là phương tiện
không còn lời ca thù hận
dậy oán hờn chia rẽ tự trong nôi
không còn ai phải xấu hổ bởi con người
không còn những văn sĩ viết thuê
không còn lũ đàn em nhố nhăng lũ đàn anh hèn hạ
những chính khách khua môi những tượng thần gian trá
những tên tổng thống và những thằng cố vấn
những điếm hoang 16 tuổi gầy còm
những sinh viên chán chường
những quan tài tuyệt vọng
cuộc đời có lý do để sống
có đập lớn cho triệu dòng điện sáng
có tình yêu cho mỗi trái tim người

biển bao la sau trận mưa dài
sắp tới là những ngày khó nhất
những người tốt không được quyền vô dụng
không được quyền ngu dốt
hãy im đi lời bịp bợm dối lừa
lũ nước ngoài xảo quyệt cút ngay ra
máu con người không phải thứ bán mua
cái bánh vẽ không no lòng ai được
bài học lớn của một thời đau xót
trên hận thù nóng bỏng tàn tro
bên vực tối đen ngòm vô lý
phút sinh nở đau xé lòng bà mẹ
phút bàng hoàng thấp thoáng bóng tương lai
một tương lai mơ ước đã ngàn đời
nơi đoàn tụ mọi con người cách biệt
nơi quây quần mọi gương mặt khác nhau
anh không đưa ra một giải đáp nào
lời giải ấy mọi người sẽ giải
anh hãy đập vào ngực mình giục giã
hãy nổi gió cho cánh người rộng mở
và mai sau, sẽ có những nhà thơ
đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ
họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa
không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ
bởi vô biên là khát vọng của con người

tiếng chuông rung vang động khắp bầu trời
tiếng búa gõ trên dương cầm to rộng
mây trắng xóa ùa lên từ vực thẳm
trái bàng tròn trên miệng trẻ thơ ngây
những người mù nằm ngủ dưới tàn cây
trên bậc cửa, người đưa thư đã tới
những đồng bãi đã mọc đầy cỏ mới
những dòng sông vỗ gọi những con thuyền
ta ra đường em nhé, ngẩng đầu lên
trên mặt đất, ta có quyền được sống
nhiều cay đắng, ta có quyền được khóc
nhưng sáng nay anh muốn thấy em cười
những mặt gầy ướt đẫm ánh ban mai
những người lính trở về từ cát bụi
những đôi lứa ôm ghì nhau không nói
nghe trống đồng bát ngát đỉnh rừng cây
làm lảo đảo cả mặt trời mê dại
những Vua Hùng tóc râu bạc phới
những bé em la khóc chào đời
ống điều dài nghi ngút khói bay
chân người dậm dập dồn trên mặt trống
điệu múa lớn của một ngày đang mọc
ngọn lửa lớn của muôn đời náo động
tâm hồn ta như sóng tới chân trời.

 

Cho Quỳnh những ngày xa

I
Khi cách nhau hàng vạn dặm không gian
anh mới hiểu khoảng cách không đáng sợ
anh thấy em bên mình, như nghe từng nhịp thở
anh là cửa sổ con tàu nơi xứ lạ em đi
Là quê hương ngóng đợi em về
Tổ quốc là gì, nếu nơi đó không có người mình yêu dấu?
Tình yêu là gì, nếu không vì nó ta yêu thêm Tổ quốc?
Chúng ta yêu nhau, chúng ta chiến thắng
Cái đáng sợ nhất trên đời này: những khoảng cách
Những khoảng cách giữa thực tại và ước mơ, giữa những điều ta mong với những gì ta có được

 

II
Em ở đâu? một thành phố xa xôi
Em đi trong những bảo tàng rộng lớn
Từ pho tượng cổ xưa đến bức tranh mới nhất
Những ưu tư kế tiếp của loài người…
Anh và con ở đây
Tháng sáu trời thật nóng
Vẫn nỗi lo thiếu ăn
Vẫn nỗi lo lũ lụt
Lửa đạn còn cháy bỏng
Những làng biên giới xa
Những con tàu Trung Hoa
Chập chờn ngoài biển
Hàng trăm năm, hàng ngàn năm trước đây
Những tàu này đã đến
Lịch sử thường lắp lại những tai ương
Thành phố xôn xao. Chỉ có trẻ con
Như thằng Mí con mình là không để ý
Anh đọc thư em
Nó ngồi ở trên sàn
Cái hộp bút nó xếp thành tàu hoả
Tờ lịch nhỏ nó gọi là tấm vé
Cầm trên tay, vui sướng đợi lên đường

Anh viết thâu đêm, đánh vật với từng trang
Rồi thao thức không sao ngủ được
Kim đồng hồ tích tắc, tích tắc
Hai tiếng động nhỏ bé kia
Hơn mọi ầm ào gầm thét
Là tiếng động khủng khiếp nhất đối với con người
Đó là thời gian
Nó báo hiệu mỗi giây phút qua đi không trở lại
Nhắc nhở cái gì đang đợi ta ở cuối
Nhưng anh, anh chẳng sợ nó đâu
Thời gian – đó là chiều dài những ngày ta sống bên nhau
Thời gian – đó là chiều dầy những trang ta viết.

Bây giờ, anh mới hiểu hết câu nói trong kịch Sêcxpia:
Tồn tại hay không tồn tại?
Không có nghĩa là sống hay không sống
Mà là hành động hay không hành động, nhận thức hay không nhận thức, tác động vào cuộc đời hay quay lưng lại nó?
Anh không băn khoăn mình có tài hay kém tài, thành công hay thất bại
Chỉ day dứt một điều: làm sao với những sự vật bình thường
Những ngày tháng bình thường
Như chiếc hộp con, như tờ lịch trên tường
Ta biến thành con tàu, thành tấm vé
Những ban mai lên đường

LƯU QUANG VŨ

CHÚ THÍCH ẢNH: vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh

– BÀI HỌC BẤT NGỜ VỚI TRUNG QUỐC

Nguồn: kinhtebien.vn

DONG SONG MAUNgày 17.2.1979, Trung Quốc bất ngờ tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Và cả nước cũng hoàn toàn bất ngờ, không tin vào tai mình khi nghe đài truyền thanh Việt Nam thông báo.

Ngày  14.3.1988, Trung Quốc bất ngờ dùng vũ lực tấn công đảo Gạc Ma thuộc huyện Trường Sa của Việt Nam. Mới đây, trong tháng 3.2008 Trung Quốc đưa lên mạng đoạn phim do họ quay toàn cảnh đánh chiếm đảo Gạc Ma của Việt Nam, nhằm mục đích biểu dương lực lượng hải quân Trung Quốc.

Tóm tắt đoạn phim trên youtype của Trung Quốc : về phía Việt Nam là tàu hàng vận chuyển hậu cần. Các chiến sĩ Việt Nam, người cởi trần, người đứng ung dung trên boong tàu, ngắm nhìn tàu chiến Trung Quốc như ngắm nhìn những đồng nghiệp đi biển. Họ không hiểu rằng chỉ vài phút nữa cuộc sống của họ sẽ bị tước đoạt, để lại vợ con nheo nhóc ở quê nhà. Thuyền viên Việt Nam lên đảo. Là đảo chìm, nhưng nước ở đây chỉ đến đầu gối. Trên đảo không có một phương tiện phòng vệ tối thiểu: không công sự, không vũ khí. Trung Quốc dùng các tàu chiến hiện đại nhất bất ngờ bắn vào những người lính Việt Nam không có phương tiện chống cự trên đảo. Những người lính Việt Nam ngã xuống như đang xếp hàng ngang giữa trường bắn. Tàu hàng vận tải Việt Nam lao lên đảo để che đạn cho những người lính trên đảo và cứu thương nhưng bị tàu chiến Trung Quốc dùng hỏa lực hạng nặng chặn lại và bắn chìm…

Chiến thuật “bất ngờ” là một hình thức chiến tranh truyền thống của Trung Quốc. Họ đưa ra các cách tiếp cận khác nhau, sau đó bất ngờ tiêu diệt đối phương. Hãy nhìn lại năm 2008 là năm xảy ra nhiều sự kiện có tính liên hoàn về chiến lược của Trung Quốc với Việt Nam.

Đầu năm 2008, đài truyền hình Việt Nam đưa tin Tập đoàn Tân Tạo đề nghị đưa Trung Quốc vào quần đảo Nam Du xây dựng cảng than cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện Kiên Lương. Giữa năm 2008, Đài Loan thành công chiếm hữu vịnh Sơn Dương với vốn 100% vốn của Đài Loan xây dựng khu luyện thép lớn nhất Việt Nam. Cuối năm 2008 sự việc Nhà máy luyện nhôm Tân Rai và Nhơn Cơ bị lộ ra.

Về công nghệ, để tinh luyện bauxite Tây Nguyên cần qua năm bước: (1) khai thác quặng bauxite; (2) tinh luyện bằng nước: (3) tinh luyện bằng xút và hoá chất; (4) nung kết sản phẩm để có alumin (oxit nhôm); và (5) điện phân oxit nhôm để lấy nhôm.

Việc tuyển quặng bằng nước và xút cùng hoá chất trong bước 2 và 3 để tạo ra alumin sẽ thải ra môi trường một lượng rất lớn chất thải nước hoặc được làm khô tại thượng nguồn sông Đồng Nai. Dù có được làm khô, chúng cũng sẽ bị nước mưa hoà tan và làm ô nhiễm vùng đầu nguồn.

Từ năm 1988, theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ GTVT Lê Ngọc Hoàn, tôi đã nghiên cứu khá kỹ giải pháp xử lý bô xít Tây Nguyên. Kết luận khi đó là dứt khoát không thực hiện  bước 2,3,4,5 tại Tây Nguyên, vì sẽ tạo ra quả bom hóa chất ngày càng lớn theo công suất và thời gian nằm trên đầu nguồn sông Đồng Nai hay sông Sebroc. Việc xây đập chứa bùn đỏ trên đầu nguồn hai dòng sông trên không chỉ cực kỳ tốn kém, mà còn giúp cho kẻ thù tạo ra một loại vũ khí mới có tính hủy diệt cực kỳ ghê gớm với nền kinh tế Việt Nam, khi có chiến tranh.

Trong kháng chiến chống Mỹ, để phá hủy các cơ sở tự cung tự cấp lương thực của Việt Nam trong chiến khu, Mỹ phải dùng từng chiếc may bay đi rải chất độc da cam để phát quang.

Với Trung Quốc thì họ thâm hiểm hơn nhiều. Họ thiết kế, thi công cho Việt Nam các nhà máy luyện bô xít trên Tây Nguyên với mục tiêu không chỉ thỏa mãn cơn khát nhôm của họ mà nhân cơ hội này họ còn sản xuất và “thả” được quả bom nằm “ngủ” trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Khi xảy ra kịch bản chiến tranh biên giới như năm 1979, dự đoán là Trung Quốc có thể sẽ một mặt chiếm Sơn Dương –Hà Tĩnh chặn đường tiếp tế từ Nam ra Bắc bằng đường biển và đường bộ, mặt khác sẽ chiếm quần đảo Nam Du để cắt đứt con đường tiếp tế đường biển của Quốc tế đến Việt Nam, và sẽ có thể tiến hành đánh bom phá hủy các bể chứa bùn đỏ trên thượng nguồn sông Đồng Nai nhằm cắt đứt nguồn nước uống của các tỉnh miền Đông và Thành phố Hồ Chí Minh để phá hủy nền kinh tế và gây hỗn loạn hậu phương của Việt Nam.

Giả như kịch bản đó xảy ra, chúng ta sẽ làm gì? Câu trả lời là vô phương cứu vãn!

Xem phim Trung Quốc đánh Gạc Ma ngày 14.3.1988, chúng ta hiểu Trung Quốc đã và sẽ hành động “bất ngờ” khi chúng ta mất cảnh giác.

Vậy hôm nay hợp tác với Trung Quốc xây dựng nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ, chúng ta  có tính đến khả năng  một ngày nào đó sự hợp tác hữu hảo đôi bên không còn (vốn dĩ đã chẳng có), thì Trung Quốc sẽ đánh bom phá hủy các bể chứa bùn đỏ, để khống chế kinh tế và làm hỗn loạn xã hội Việt Nam khi có chiến sự không? 

KS Doãn Mạnh Dũng

 

– Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc China

Trung Quốc đã quan tâm từ lâu đến các dự án ở châu Phi

TRUNG QUOC MUA DATTrung Quốc và các nước Ảrập mua hoặc thuê dài hạn hàng triệu hectare đất nông nghiệp ở châu Phi và cả Đông Nam Á, gây quan ngại về nạn “thực dân mới”.

Báo Anh, tờ The Economist số 23.05.2009 có bài nói về hiện tượng các nước nhập lương thực đang mua rất nhiều đất ở bên ngoài để canh tác dài hạn với hậu quả khác nhau cho chính nhà nông bản địa.

Theo bài báo, những người ủng hộ thì nói đây là cách để có thêm đầu tư, công nghệ mới và tiền bạc nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở các nước lạc hậu.

Nhưng những người phản đối nói đây là một hình thức “cướp đất” khiến những nông dân nghèo bị đẩy ra khỏi ruộng vườn của mình.

Hậu quả là sự phẫn nộ trong giới dân nghèo, dẫn đến cả chuyện lật đổ chính phủ ở Madagascar gần đây.

Chiếm quá nhiều đất

Bản đồ và các sơ đồ chi tiết trên trang của The Economist nói Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua hoặc thuê đất ở nước ngoài.

Bài báo có hình Chủ tịch Hồ Cẩm Đào được giới cầm quyền Mozambique đón tiếp nồng hậu trong một chuyến thăm.

Châu Phi từ lâu nay là điểm đến của các nhà đầu tư Trung Quốc được chính quyền hỗ trợ.

Các hợp đồng thường đặt một nhóm người vào tình thế đối đầu với nhóm khác và câu hỏi là làm sao giải quyết các xung đột đó

Báo The Economist

Họ đã giành được quyền khai thác các đồn điền dầu cọ ở Congo với diện tích 2,8 triệu hectare, khu vực trồng cây tạo nhiên liệu sinh học (biofuel) rộng 2 triệu hectare nữa ở Zambia.

Theo BBC News hồi tháng 3.2008, các dự án của Trung Quốc ở Zambia gây ra mâu thuẫn với người địa phương.

Nguồn tin này cũng nói hồi 2007, lãnh đạo Trung Quốc tung ra kế hoạch đầu tư chiến lược vào nông nghiệp và khai khoáng ở châu Phi trị giá một tỷ USD.

Quan hệ làm ăn giữa giới đầu tư và tầng lớp cầm quyền địa phương nhắc lại mô hình “cộng hòa chuối” thời Chiến tranh Lạnh mà nay tầm vóc còn lớn hơn nhiều.

Trong nhiều trường hợp, không phải người bản địa có việc làm mà công nhân nước ngoài như từ Trung Quốc đã sang phục vụ cho các dự án.

Riêng tại Đông Nam Á, kế hoạch đất đai của Trung Quốc và cả các nước Ảrập có vẻ thành công tại Campuchia nhưng không đạt mục tiêu tại Philippines và Indonesia.

Vẫn theo bài báo, tại Philippines, giới đầu tư Trung Quốc phải hoãn lại một hợp đồng 1,24 triệu hectare vì sự phản đối ở địa phương.

Indonesia cũng không đồng ý với hợp đồng nửa triệu hectare của Ảrập Saudi.

Bên cạnh Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước như Ai Cập và các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư vốn ít đất cũng bỏ tiền vào những kế hoạch thâm canh lớn bên ngoài biên giới. 

Công bằng mà nói, sản xuất gà và trứng cũng là cách công ty Mỹ đầu tư vào chính Trung Quốc trong một dự án trị giá nửa tỷ USD.

Nhưng điều gây lo ngại, như The Economist nêu ra, là hậu quả của các kế hoạch sản xuất lương thực, thực phẩm đại trà do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đối với chính nền kinh tế địa phương.

Tờ báo nêu ví dụ nhà đầu tư Saudi được miễn thuế trong dự án trồng lúa mì trị giá 100 triệu đôla ở Ethiopia, trong khi chính Ethiopia có 4,6 triệu dân bị đói kinh niên và quốc tế phải bỏ vào đây 116 triệu đôla để cứu họ.

Bài báo cho hay các quan chức nước Ảrập Saudi đã thăm Việt Nam và cả Campuchia thời gian qua để tìm hiểu đề tài thuê đất.

Gần đây, báo chí Việt Nam nói đến dự án hàng tỷ đôla của các nhà đầu tư vùng Vịnh vào tỉnh Phú Yên của Việt Nam nhưng với mục tiêu khai thác du lịch và tài nguyên biển.

Tuy bài báo này không nói ra nhưng các giới quan sát môi sinh cũng từng nêu tên Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan trong số những nhà đầu tư vào canh tác đồn điền ở Campuchia, gây quan ngại về nạn phá rừng.

Bài của The Economist trích lời ông Joachim von Braun, chủ tịch Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực (IFPRI) ở Washington DC, để nói rằng cần phải giám sát làm sao các dự án đầu tư vào đất chia sẻ lợi ích với người dân địa phương.

Các hợp đồng đất nông nghiệp trên thế giới nay được IFPRI ước tính trị giá từ 20 tới 30 tỷ đôla.

Trước viễn cảnh nhu cầu lương thực và giá nông sản đã và đang tăng cao, chia sẻ lợi ích với người dân sở tại là cách duy nhất ổn định về lâu dài và để cả hai bên cùng có lợi. 

© BBC (26.May.09)

– TRỞ LẠI BẢO LÂM

Thực hiện: B-Đ-V 

TRO LAI BAO LAMChúng tôi quay lại Bảo Lâm nhằm lúc Quốc Hội đang bàn về Bô Xít. Đèo Bảo Lộc đang bị đào bới ngổn ngang, có đoạn đủ 1 chiếc xe lách qua. Hành khách trên xe ai cũng ngao ngán: “ Bô Xít đó”, nhằm chỉ làm đường để phục vụ việc khai thác Bô Xít ở Bảo Lâm

Từ ngã 3 Lộc Sơn, còn gọi là ngã ba Phẹt, ngay tại chỗ rẽ từ Quốc lộ 20 vào Bảo Lâm đã cảm nhận được cái hối hả của những chiếc xe tải chở vật liệu vào khai thác Bô Xít. Không khí khu mỏ đã “nóng” dần lên dù trên bàn nghị sự của Quốc Hội chưa biết được 493 đại biểu YES hay NO cho dự án đầy tai tiếng này.

Nóng nhất là việc sang nhượng đất tại đây, nhiều hộ bị giải tỏa tìm mua đất khiến giá đất ở đây biến động không ngừng, từ 5 triệu đồng cho 1 met tới thì giá hiện nay nhảy lên là 30 triệu đồng 1 met tới, người dân ở đây tính đất bằng mét theo cặp lộ còn chiều dài thì hết lô đất của họ.Trong khi đó giá đất được đền bù trung bình 30 triệu cho 1000 mét vuông. Nên những hộ dân trong diện bị giải tỏa đang đứng ngồi trên lửa. Vào khu mõ tại ngã 3 Cát Quế thì thấy khu nhà của TKV được xây cất biệt lập cùng với khu vực thí nghiệm thật khang trang

Xung quanh khu mõ đã được rào bằng lưới B40, trên đó có cắm cờ bằng các chữ Tàu . Khu nhà ở cho công nhân Trung Quốc thì nhiều hơn và được mở rộng ra nhiều khu vực xung quanh không còn tập trung vào 1 khu như trước đây . Làng Trung Hoa đã được định hình ngay trong khu vực mõ, nhiều gia đình có trẻ con người Trung Hoa sinh sống ở đây, trẻ con Tàu vui chơi chạy nhảy trên các ống bê tông làm cống hay chơi diều được mang từ Tàu sang ngay khu vực mõ, còn khu vực ngoài hàng rào thì trẻ con người Việt nhìn vào thèm thuồng  

Đến ngã 3 Cát Quế thì nhiều hàng quán phục vụ người Trung Hoa được nâng cấp lên, người Trung Hoa đi lại có phần tự nhiên hơn khúm núm trước đây, nếu trước đây họ đi vào khu dân cư từng tốp, từng nhóm thì bây giờ có thể đi riêng lẽ. Và các vấn nạn bắt đầu phát sinh từ chỗ này

Một nguồn tin thân cận phía UBND huyện Bảo Lâm cho hay là công an huyện vừa bắt 3 người dân gần ngã 3 Cát Quế vì họ tiếp tay chó 1 số công nhân Trung Quốc ăn cắp xi măng xây dựng nhà my để tiêu thụ bên ngoài. Số xi măng ban đầu xác định là bị mất gần 3 tấn rưỡi. Các đối tượng người Việt, dân địa phương tiêu thụ bán cho các hộ dân tái định cư thì bị bắt, hiện chưa biết phía công nhân Trung Quốc ăn cắp vật tư bị xử lý như thế nào. Việc phát sinh tình cảm giữa các chàng trai Tàu và các cô gái địa phương trở nên bình thường, nhà nào có con gái thì rất đông thanh niên Tàu đến chơi, nhiều người dân đã biết nói tiếng Tàu, và các công nhân Trung Quốc cũng bập bẹ được khá nhiều tiếng Việt đủ để giao tiếp. Các lớp dạy tiếng Hoa đàm thoại cấp tốc tại Thị Trấn Lộc Thắng luôn đông nghẹt người

Người Trung Quốc tại đây tự đi chợ nấu ăn chứ không thuê người Việt nấu như trước đây, bởi họ đã có gia đình đem theo . Tiền tệ của Trung Quốc bắt đầu hiện diện ở khu vực này, được tính theo tỷ giá 1 tệ ( yuan) ăn 2500VND. Vào các tiệm hay hàng quán có thể trả tiền Việt hay tiền Tàu đều được.

Khu vực 2km từ ngã 3 Cát Quế về phía trung tâm thị trấn đang sắp bị giải tỏa, và những người dân trong bán kính 5km thì đang thấp thỏm chờ gọi tên đển nhận tiền đền bù và 1 xuất tái định cư.

Buôn làng của người Việt hay dân tộc K”ho, Châu Mạ hẹp dần nhường chỗ cho Bô Xít. Văn hóa Tàu thì mở rộng ra ngay cả các phim hoạt hình bày bán công khai cho trẻ con cũng là phim Tàu

Những gì đang diễn ra cho thấy Làng Trung Hoa đang được hình thành và mở rộng ngay trên Tây Nguyên.

493 Đại biểu Quốc Hội có được báo cáo về thực tế những gì đang diễn ra tại đây chăng? Lẽ nào không chỉ 493 Đại biểu Quốc Hội bị bịt mắt mà cả dân tộc cũng bị làm cho mù và đầu óc lú lẫn để rước voi dày mã tổ ư ?

Bảo Lâm ngày 24/5/2009

– S.O.S sông Trà Khúc

LỆ DÂN

SONG TRA KHUCChính quyền tỉnh Quảng Ngãi có kế hoạch vào tháng 6/2009 sẽ khởi công xây một đập dâng ngang sông Trà. Theo thiết kế, con đập có chiều dài hơn 800m, cao 3,15m chắn ngang sông Trà khoảng 1km phía đông cầu Trà Khúc, cách cửa biển khoảng 10km. Văn bản dự án cho rằng con đập có tác dụng ngăn lũ, điều tiết mực nước nổi và làm tăng độ cao và trữ lượng nước ngầm ở lưu vực, cải tạo khí hậu và làm điểm vui chơi cho cư dân giàu ở thành phố, đồng thời tạo điều kiện phát triển giao thông thủy.

Tất cả những kết luận ấy dựa trên những số liệu và tính toán có chủ ý, duy ý chí, thuộc tư duy cấp dự án cần đầu tư bằng mọi giá và không có tính thuyết phục.

Đây là công trình có vốn xây dựng trên 230 tỉ đồng từ ngân sách nhà nước, tức của toàn dân, chưa từng có với tất cả dòng sông cả nước nói chung và miền trung nói riêng (đặc sản Quảng Ngãi).

Ngoài sự không thuyết phục về mục tiêu, ý nghĩa, tác động xã hội và môi trường đã nói ở trên, thực chất việc xây con đập là sự thể hiện quyền lực của nhà nước cấp tỉnh trong việc dùng tiền công để làm một công trình có mục đích tiêu tiền, tạo điều kiện hưởng lợi cho những nhà thầu xây dựng, phục vụ nhu cầu mát mẻ vui chơi của bộ phận dân cư giàu có, có điều kiện sống cao hơn (quan chức và giới doanh nhân thương gia ăn theo) ở khu vực đô thị . Việc xây dựng không tính đến sự tác động đến dòng sông bình thường đã là hình ảnh, biểu tượng văn hoá của người dân Quảng Ngãi, đã đi vào ký ức và thi ca; cũng không tính đến sự tác động môi trường do nước biển dâng vì thay đổi khi hậu mà dự kiến là sẽ cao hơn khoảng 0,5m vào năm 2050 tại khu vực ven biển miền trung; không tính đến sự thay đổi địa lý sinh thái và chu kỳ sinh thái, sinh sản phân bố suốt dòng sông của những loại thủy sản truyền thống như cá bống – cá thày bai; không tính đến sinh nhai của 5 vạn cư dân phía sau đập với những mục đích hiện có đối với dòng sông như thủy lợi, đánh bắt ốc, don hến, khai thác vật liệu xây dựng, tắm giặt. Thế hệ trẻ em phía sau đập không còn dòng sông, bến nước với vị trí bình thường để bơi tắm, nghịch đùa, hẹn hò và yêu nhau. Cũng không biết  dòng nước sau khi đã được người dân thành phố thưởng lãm rồi sẽ có chất lượng như thế nào trong khi điều chắc chắn là lượng bồi tích phù sa hàng năm bổ sung cho những cánh đồng phía dưới sẽ không còn. Đó là chưa nói đến nguy cơ và hậu quả của  những sự cố kỹ thuật xảy ra khi lũ về mà hệ thống thoát bị hỏng (loại sự cố kỹ thuật không thể nói là tuyệt đối không xảy ra, cả với những nhà máy điện hạt nhân) hoặc những hư hỏng dứt khoát phải có khi hàng nghìn tấn rác củi đổ xuống khi mùa lũ về

Chúng tôi, những người dân Quảng Ngãi thiết tha yêu mến quê mình, muốn dòng sông  cứ bình thường như vậy với thế hệ chúng tôi và cũng vậy với thế hệ tương lai , thấy rằng công trình chẳng cần thiết chút nào. Chúng ta đã hy sinh dòng sông cho đập thủy lợi Thạch Nham ở đầu nguồn để bảo đảm có đủ lương thực cho tỉnh rồi. Cả nước hiện nay cũng chỉ khai thác các dòng sông cho mục đích thủy lợi, thủy điện chứ chưa có tiền lệ làm đập dâng để phục vụ du lịch, cải thiện khí hậu khu vực cục bộ cả. Có con đập dâng cũng không làm cho GDP Quảng Ngãi tăng lên hoặc người dân bớt nghèo đi. Con đập chẳng thu lại được đồng tiền nào, chưa nói đến hàng năm lại phải tiêu tốn thêm cho quản lý, bảo dưỡng, gia cố, sửa chữa, khắc phục những sự cố mà thiết kế chưa tiên liệu hết và những chi phí vét dọn bùn cát, củi rìu sau lũ. Những đồng tiền đó nên xây nhà cho người nghèo, giúp đỡ người tàn tật, làm mới những ngôi trường miền núi. Một tỉnh hàng năm phải xin bổ sung ngân sách từ trung ương và hiện có  số huyện miền núi nghèo chiếm 1/10 cả nước với tỉ lệ hộ nghèo trên 50% cùng hàng vạn người dân tha phương kiếm sống xa quê không thể dùng 230 tỉ đồng cho một công trình làm cảnh một cách bất bình đẳng cho một bộ phận không lớn cư dân giàu có ở đô thị.

Chúng tôi thiết tha kêu gọi những người dân Quảng Ngãi khắp nơi hãy nghiên cứu để phản biện, bày tỏ tâm tư chủ kiến của mình để Quảng Ngãi không rơi vào qui luật đầu tư với bất cứ giá nào, khai thác tài nguyên với bất cứ giá nào mà kết quả là sự không còn hoặc sự méo mó của dòng sông Trà Khúc.

 Lệ Dân (Quảng Ngãi)

– BIẾT XẤU HỔ

HUY ĐỨC

TONG THONG HAN QUOCSGTT – Cuộc sống quả là “khó khăn” như ông Roh Moo-hyun trăn trối. Từ một công nhân, tự học để trở thành luật sư, trở thành một chính trị gia lên tới đỉnh cao: đắc cử tổng thống của một quốc gia dân chủ. Để rồi, sáng 23.5.2009, phải kết thúc cuộc đời bằng cách gieo mình xuống một vách đá sâu. “Tôi cảm thấy xấu hổ trước người dân của mình”, trước đó, ông Roh Moo-hyun thừa nhận khi phải đến Seoul theo triệu tập của toà.

Ông Roh thành công nhờ xây dựng được niềm tin của công chúng vào ông như là một chính trị gia trong sạch. Cái chết của ông được mô tả là gây sốc cho cả nước, từ hôm 23.5, người dân ở vùng quê ông đã xếp hàng dài, đã khóc khi quan tài ông đi qua. Ông nói, ông chỉ biết đến khoản tiền 6 triệu USD mà người thân ông cầm ấy khi không còn là tổng thống. Rõ ràng đã có những động cơ chính trị. Nhưng, rõ ràng cũng đã có những khoản tiền lọt vào nhà, qua những người thân nhất, là vợ, là con trai, là cháu rể, là trợ lý. Thật là chua xót nếu ông thực sự vẫn còn trong sạch mà phải kết thúc sự nghiệp lẫy lừng trong xấu hổ bởi vợ con.

Cũng sáng nay, 25.5, trong một diễn tiến có thể liên hệ, cảnh sát Úc xác nhận với báo chí là sẽ điều tra một vụ “môi giới” liên quan đến con trai của ông Lê Đức Thuý, cựu thống đốc ngân hàng Việt Nam. Cảnh sát vào cuộc sau khi tờ báo The Age, có bài cáo buộc những môi giới viên cho hãng Securency đã “trả hàng triệu đôla tiền hoa hồng cho công ty CFTD”.

CFTD được tờ báo này xác định là công ty mẹ của Banktech, công ty thuộc quyền quản lý của ông Lê Đức Minh, con trai ông Lê Đức Thuý, liên quan đến việc in tiền polymer hồi năm 2002. Chưa rõ kết quả điều tra từ Úc sẽ đi tới đâu, nhưng nếu thực sự có một khoản hoa hồng lên tới hàng triệu USD đã được chi ra thì “cánh cửa vợ con” quả thực là ở đâu cũng vô cùng lợi hại.

Sau những Siemens, những CPI – Huỳnh Ngọc Sỹ… vụ Securency cho thấy lợi ích của Việt Nam khi hội nhập không chỉ là thương mại mà còn là khả năng phát hiện ra tham nhũng do làm ăn với những quốc gia lấy tính minh bạch làm đầu.

Theo nguồn tin của chúng tôi,ông Lê Đức Minh được điều về Banktech bởi một ngành không liên quan đến vai trò thống đốc của ông Lê Đức Thuý. Tuy nhiên, như kết luận trước đây của Thanh tra Chính phủ, việc ông Minh “nắm” Banktech “tuy không trái quy định của pháp luật, nhưng đã gây nghi ngờ về sự khách quan, minh bạch”.

Banktech là một trường hợp rất hiếm được đưa ra công luận, nhưng, những mối liên hệ kiểu “Lê Đức Minh” trên thực tế không phải hiếm hoi. Vấn đề không chỉ là trái hay không trái những “quy định” hiện hành vốn đang có nhiều khoảng trống. Một nhà lãnh đạo nghiêm minh không nên để vợ con làm những việc mà dư luận có thể “nghi” về tính khách quan. Đừng đợi đến khi nhân dân đưa ra chứng cứ, phải biết xấu hổ từ những “dự án” đầu tiên mà anh em, vợ con, dâu rể… tham gia.

Cho dù ở trong thể chế nào, ở đâu có quyền lực là ở đó có tham nhũng. Vấn đề là ở đâu, những người giàu có nhất là nhân dân; ở đâu những người giàu có nhất là “con ông cháu cha”; ở đâu, tham nhũng vẫn cứ “vinh thân phì gia”; ở đâu tham nhũng không có nơi để an toàn hạ cánh. Quốc gia nào thì tham nhũng cũng cần phải được coi là “thế lực thù địch” nguy hiểm nhất. Nguy hiểm vì nó không rõ ràng phân tuyến; nguy hiểm vì, đôi khi nó nhởn nhơ bên cạnh, và đôi khi là cánh tay đắc lực của những bậc có quyền.

Chỉ ở những quốc gia, lãnh thổ biết xấu hổ, kết cục của một kẻ dính tới tham nhũng mới có thể là tù tội như cựu tổng thống Trần Thuỷ Biển (Đài Loan); có thể phải lưu vong như Thaksin, Thái Lan; có thể phải cắn rứt lương tâm như tổng thống Roh Moo-hyun, Hàn Quốc. Ở những quốc gia không biết xấu hổ thì kết cục cũng có nhiều bi thảm; nhưng, người gánh chịu lại rất tiếc là thường ở phía nhân dân.

Huy Đức

– Hoan hô ông dân biểu

HOAN HÔ ÔNG DÂN BIỂU NÓI VỀ BAUXITE 

LTS: Vị dân biểu này là một người rất đáng ca ngợi. Bạn đọc ai có tin tức gì về vị này xin gởi cho chúng tôi để nêu gương sáng cho cái quốc hội u ám của chúng ta hiện nay.

TRUNG HOA XUAT KHAUÝ kiến cuối cùng của phiên họp quốc hội sáng nay, 26 tháng 5, là ý kiến về vụ Bauxite Tây Nguyên. Bằng một giọng ôn hoà, vị dân biểu mà tôi không biết tên đã nói rõ tất cả những điều tai hại mà dự án quái đản này có thể gây ra. Trong đó có ý nói rằng lãnh đạo cố tình “chia nhỏ” dự án lớn thành các “tiểu dự án” để lách luật.

Thật xấu hổ những vị ngồi trên tầng cao nhất của cơ quan làm luật lại bày trò “lách luật”! Và hẳn là các vị chủ trương khai thác bauxite tức tím ruột bầm gan. 

Hoan hô ông dân biểu dũng cảm! Ông là người đầu tiên đấu tranh chống lại một dự án thuộc loại lớn nhất của giới lãnh đạo cao nhất tại nghị trường.

Những ngày vừa qua vẫn còn nhiều người cho rằng những ông như Nguyễn Huệ Chi, Nguyên Ngọc, Phạm Đình Trọng, Đào Hiếu,… cố tình la lối, thổi phồng những nguy cơ liên quan đến bauxite.

Nay thì bằng ý kiến của mình trước quốc hội, ông dân biểu đã cho thấy đó là những nguy cơ hoàn toàn có thật. 

Chắc chắn rằng những vị có trách nhiệm sẽ tiếp tục bao biện trước quốc hội, đồng thời dùng  mọi biện pháp có thể như phỉnh nịnh, uy hiếp hoặc thậm chí gây hại đối với những người có ý kiến trái chiều để vẫn tiếp tục cái dự án giết dân các vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và giơ gáy cho người ngoài nắm ấy.

LÊ HỒNG ANH (Đồng Nai)

– ÔNG CHỦ TỊCH HUYỆN ĐẢO HOÀNG SA

NGUYỄN VỌNG

CHU TICH HOANG SAHôm đầu tháng 5 thành phố Đà nẵng tổ chức linh đình lễ trao quyết định bổ nhiệm lần đầu tiên chức danh chủ tịch uỷ ban nhân dân quận huyện trực thuộc thành phố. Người dân thành phố cũng chẳng quan tâm cho lắm bởi lẽ ai cũng biết rằng thực chất cũng chẳng có gì thay đổi. Mấy chục năm diễn hoài vở tuồng bầu bán dân chủ, bầu hội đồng nhân dân, rồi hội đồng nhân dân bầu ra ông chủ tịch quận, huyện nghe cũng oải, thôi nay ta chỉ định luôn cho tiện việc sổ sách mà đỡ tốn kém. Phần người dân thì ai phận nghèo thì chúi mũi vào chuyện kiếm sống, ai phận giàu thì cũng lo chúi mũi vào kiếm thêm tiền, chuyện kinh tế mới cần quan tâm chứ chuyện thời sự, chính trị cho dù là loại chuyện chính trị “theo lề bên phải” cũng nhác bàn luận! Nói vậy nhưng không phải hoàn toàn như vậy, cũng có người bàn luận, nhưng người ta bàn luận chuyện liên quan đến ông Huyện Hoàng Sa. Số là trong đợt bổ nhiệm này ngoài 6 ông quận, ông huyện thuộc thành phố Đà nẵng còn có thêm một ông huyện mới là ông huyện Hoàng Sa, cai quản cái huyện đảo Hoàng Sa chỉ toàn dân Tàu cư ngụ. Người ta bảo nhau rằng sau bao năm cho dân nghe mãi cái “đĩa CD Lê Dũng, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao” Nhà nước cũng cảm thấy ê mặt nên lần nầy cho ra một đĩa khác có vẻ “tích cực” hơn, đó là tạo ra một ông huyện theo kiểu “điều khiển từ xa” vậy.

Người ta bàn luận gì về ông huyện này? Cái ông huyện này mới nhậm chức được có mấy bữa, chưa có tai tiếng gì so với mấy ông bạn đồng liêu kia, nhưng so với mấy ông huyện kia thì ông huyện này có vài điểm có thể gọi là đặc thù mà những ông huyện kia không có được. Ông cũng có trụ sở, thậm chí còn có cả ô-tô con, nhưng cái phần lãnh thổ mà ông được phân công cai quản thì chắc chắn là ông chưa từng trông thấy một lần trong đời, thậm chí cả chuyện trông thấy trên truyền hình. Có người bảo ông xui hay bị đì nên mới được trên cho đi làm cái chức trời ơi như vậy, không có lấy một tên dân đen nào để cai quản thì biết lấy ai ra mà hoạnh hoẹ mà hạch xách đây hở trời! Lại còn chưa biết cái huyện của mình nó rộng dài tròn méo ra sao thì làm sao mà “dự án, mà quy hoạch”, thôi phen này thua là cái chắc. Có người lại bảo là ông sướng, chẳng làm gì cả mà tháng nào cũng lãnh lương đủ, nhưng nói như mấy người trên là chưa hiểu đầy đủ về ông rồi, không có tiền trước mắt thật đấy nhưng rồi các anh ở trên cũng sẽ chiếu cố vào nhiệm kỳ sau thôi, chỉ sợ không có sức mà ăn, điều làm ông huyện Hoàng Sa bận tâm là chuyện này cơ, số là trong cái quyết định có đoạn nói rằng cái nhiệm vụ chính yếu của ông Huyện Hoàng Sa trong giai đoạn hiện nay là “thu thập chứng cứ, tài liệu lịch sử về chủ quyền của ta về Hoàng Sa”. Cái này mới gay đây vì người ta quá biết là những cái liên quan đến tài liệu, lịch sử, chữ nghĩa đều không phải là sở trường của các anh Huyện thời nay .

Còn một chuyện liên quan đến Quần đảo Hoàng Sa thân yêu của toàn dân Việt nữa, nhưng lần nầy dính líu đến tờ báo Tuổi trẻ. Thấy người ta đọc xong, bàn luận rồi cười với nhau ngoài quán cà phê vĩa hè tôi chỉ xin ghi lại. Trên tờ Tuổi trẻ số thứ 7 tuần trước có tin một cột đăng ở trang 2 nội dung tóm tắt như sau: “Hôm 6/5 tàu của hải quân vùng 3 duyên hải đã chạy ra Hoàng Sa để đón 11 ngư dân Quảng Ngãi bị nạn trong cơn bảo số 1 trong biển đông. Được biết tàu đánh cá của họ bị bảo va vào rặng san hô bị chìm ở đảo Duncan họ được hải quân Trung cộng cứu vớt và cho trú trên đảo, sau đó Bộ ngoại giao TC đã báo cho VN để ra đón” . Người ta cười vì nghĩ đến một kịch bản khác chắc chắn phải diễn ra mà bài báo đã không nói đến. Xét theo những sự kiện phô trương rầm rộ trong đất liền thì người ta có lý do, có quyền để tin rằng chuyện không thể nào khác đi được là bộ đội hải quân ta sẽ vừa xông ra, vừa la vừa bắn, rồi đưa ngư dân bị nạn ra về (người đọc báo cũng công bằng, không đòi hỏi gì hơn vì báo đưa tin là ta chỉ đưa ra một con tàu nhỏ, làm được như vậy cũng quá oai rồi. Chứ còn gì nữa, gặp ngay kẻ địch đang chiếm đóng đất đai biển đảo của Tổ quốc, không làm vậy thì làm sao?

Nhưng rõ ràng chuyện đó không xảy ra, và người ta cười tủm tỉm với nhau vì cái kịch bản mà họ biết chắc đã xảy ra ngoài đó giữa quân đội 2 bên. Chẳng lẽ lại chữi nhau rồi đón ngư dân về bình yên, làm gì có chuyện đó được, tụi Trung Cộng ở ngoài đó đâu phải đi cắm trại du ngoạn, chửi nhau mà không ôm đầu máu đi về sao. Không chửi nhau thì phải chào hỏi nhau chứ gì? vậy thì chào hỏi nhau ra làm sao ? chuyện này không thấy báo ghi lại, nhưng mỗi ngưòi tuỳ theo cái đầu của mình mà tưởng tượng ra một cách để cười, càng nghĩ người ta càng cảm thấy cái việc bổ nhiệm anh huyện Hoàng sa sao mà dỡm quá. Có lẽ sau khi đọc cái bài báo nầy các anh ở trên cũng phát hiện ra cái điều bất tiện nên ngay hôm sau chủ nhật, báo Tuổi tré cho đăng lại tin này, do phóng viên khác viết, nội dung thay đổi như sau : “ngư dân bị bão chìm tàu trong khu vực Hoàng sa nhưng đã kịp báo về đất liền, đất liền đã yêu cầu tàu TC cứu hộ, rồi tầu hải quân ta ra đón” . Bài báo muốn cho người đọc có cảm tưởng rằng cuộc chuyển giao người bị nạn diễn ra trên mặt biển không dính dáng gì đến cái đảo Hoàng Sa cả. Muốn vậy nhưng được hay không là chuyện khác, có điều nó chỉ làm lộ rõ cái bản chất trí trá của báo chí VN hiện nay mà thôi.

Nguyễn Vọng

(Một cư dân thành phố Đà Nẵng)

CHÚ THÍCH ẢNH: Tư gia của ông Chủ tịch Huyện Hoàng Sa ở số 132 Yên Bái, thành phố Đà Nẵng.