- Vị trí chiến lược của Tây Nguyên

Trần Quốc Hiên

TAY NGUYEN

Trong các hồi ký, Tướng Giáp từng nhận xét về vị trí chiến lược của Tây Nguyên: “Tây Nguyên nằm ở Nam Trung Bộ, nối liền 2 miền Bắc Nam của đất nước, tiếp giáp với Hạ Lào và Bắc Campuchia, có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Nếu còn tham vọng chiếm Đông Dương, địch không thể để mất địa bàn chiến lược cực kỳ lợi hại này”… “Nhiều nhà quân sự, cả ta và địch, đều nói nắm được Tây Nguyên là khống chế được toàn bộ chiến trường miền Nam Đông Dương. Đây là mái nhà của miền Nam bán đảo Đông Dương”.

Sự thật, Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt về quân sự, quốc phòng, hơn là về phát triển kinh tế; đây là vùng cao nguyên trải dài nằm tiếp nối với dãy Trường Sơn hùng vĩ, tạo thành một bức tường thiên nhiên liên hoàn, hiểm trở. Quá trình Nam Tiến của nhiều thế hệ người Việt gắn liền với việc khai mở tuyến đường mòn Trường Sơn, vượt qua dãy Hải Vân tiến vào kiểm soát Tây Nguyên, làm chủ cả vùng Nam Trung Bộ, rồi Nam Bộ, và tiến ra Biển Đông đóng giữ tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Sau này, người Pháp, người Mỹ cũng nhận thức được vị trí chiến lược của Tây Nguyên: nơi đây là vị trí “yết hầu”, “tử huyệt” của cả nước, là “mái nhà của Đông Dương”.

Như vậy, với nhãn quan chiến lược, Tướng Giáp và Bộ thống soái tối cao Cộng sản Bắc Việt đã lựa chọn Tây Nguyên là trận quyết chiến chiến lược. Chiến dịch Tây Nguyên làm rung chuyển chiến trường miền Nam, tạo thế chia cắt mạnh mẽ, mang đến thời cơ mở chiến dịch Huế – Đà Nẵng, rồi tiếp đó mở cuộc tấn công vào Sài Gòn làm tan rã hoàn toàn quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trường Sơn, Tây Nguyên và Biển Đông có vị trí chiến lược quan trọng như vậy, và tập đoàn bành trướng Cộng sản Trung Quốc biết rất rõ điều này, do đó năm 1975, họ đề nghị được viện trợ cho Việt Nam 2000 xe vận tải vào Trường Sơn, nhưng phải cho 500 lái xe người Trung Quốc đi cùng.

Theo lời bà Bẩy Vân, vợ của cố Tổng bí thư Lê Duẩn trả lời phỏng vấn đài BBC, thì khi ấy ông đã nói dứt khoát: “Một thằng tôi cũng không cho… Nó nói đưa người vào giúp ta, nhưng thực chất là muốn đưa dân vào lập làng, lập huyện người Tàu ở Trường Sơn và Tây Nguyên. Nắm được Trường Sơn và Tây Nguyên là khống chế được toàn Đông Dương”.

 

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN

Trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 12.2001, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ra tuyên bố chung: “hai bên nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án (bauxite) Bô-xít nhôm Đắc Nông”. Tiếp đó, ông Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Trung Quốc ngày 30.5 đến 2.6.2008, tái khẳng định trong tuyên bố chung: “hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xít Đắc Nông…”. Điều này được ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đảm bảo chắc chắn: “Khai thác bô-xit Tây nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị đã nghe và kết luận về phát triển bô-xit Tây nguyên. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bôxit Tây nguyên…”.

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN đã mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc, dự kiến có khoảng 20 ngàn công nhân Trung Quốc, sẽ vào làm việc tại Tây Nguyên. Cùng đi với đoàn người Trung Quốc đó, sẽ có các chuyên gia, kỹ sư, quản lý, đặc biệt là sự có mặt của các An ninh mật và gián điệp Trung Quốc. Cũng không loại trừ khả năng các Công ty quân đội Trung Quốc đưa người vào Tây Nguyên.

Các dự án này đang được triển khai gấp rút, trong tháng 12.2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường, đến nay lượng người Trung Quốc vào Tây Nguyên tiếp tục tăng nhanh mỗi ngày. Cùng với đó, để đẩy nhanh tiến độ dự án, tỉnh Đắc Nông đang gấp rút chuẩn bị khởi công nhà máy luyện quặng bô-xít.

Cũng như những chủ trương lớn trước đây của Đảng và Nhà nước CSVN, như việc phá bỏ Hội trường Ba Đình, mở rộng Hà Nội gấp hơn 3 lần… thì nay “chủ trương mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác bô-xit nhôm” đã gây ra phản ứng rất mạnh mẽ từ dư luận xã hội; nhiều ý kiến phản đối kịch liệt từ giới khoa học, trí thức, tướng lĩnh quân sự, cựu chiến binh, và đặc biệt là người dân sống ở Tây Nguyên, những người trực tiếp bị ảnh hưởng xấu về môi trường sống và cơ hội làm việc.

Trong thư gửi Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng, hôm 5.1.2009, Tướng Giáp đã nói rõ: “Việc xác định chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên…”.

Mới đây, báo điện tử VietnamNet có đăng bài phân tích của 2 chuyên gia quân sự, Đại tá Nguyễn Huy Toàn, chuyên gia lịch sử quân sự và ông Quách Hải Lượng, chuyên gia Viện nghiên cứu Chiến lược Quân sự, nêu ý kiến: khu vực này (Tây Nguyên) rất không nên đưa bất cứ một người nước ngoài nào vào khai thác, vì đây là địa chính trị, địa kinh tế và địa quân sự rất nhạy cảm. Ta phải biết cách bảo vệ và gìn giữ “yếu huyệt” này. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt, chúng ta sẽ có tội với thế hệ mai sau”.

Trung Quốc là nước đang đói khát tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là nhôm dùng cho ngành công nghiệp quốc phòng, chế tạo vũ khí tối tân. Họ đã vào đến Tây Nguyên, vùng đất giàu có tài nguyên, không chỉ có bô-xít nhôm, mà còn nhiều loại khoáng sản quý hiếm khác.

Môi trường Tây Nguyên sẽ bị tàn phá nặng nề; văn hóa Tây Nguyên sẽ bị đe dọa nghiêm trọng; người dân Tây Nguyên sẽ bị xáo trộn cuộc sống, nơi ở; an ninh quốc phòng tại Tây Nguyên sẽ bị sơ hở, rối ren… nhưng đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN.

 

Thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc

Vừa qua, hai Nhà nước Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc, đúng thời hạn mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận là kết thúc trong năm 2008…! Vào hạn chót đó, Cộng sản Việt Nam đã buộc phải chấp nhận nhượng bộ, để mong được yên ổn biên giới phía Bắc.

Có người cho rằng việc cắm mốc biên giới lần này là một “bức tường thành văn minh” ngăn chặn quân bành trướng phương Bắc. Nhưng đây chỉ là biên giới cứng ! Sự thật ảnh hưởng của Trung Quốc đã mở rộng “biên giới mềm” đến toàn bộ Việt Nam và Đông Dương: Họ đã chiếm lĩnh các cao điểm lợi hại ở dọc biên giới phía Bắc nước ta, tiến vào vị trí “tử huyệt” ở Tây Nguyên. Tại Biển Đông, hải quân Trung Quốc vẫn đang hoành hành, đe dọa, khiêu khích các Tàu nước ngoài đi vào vùng biển này…

Khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cho xây dựng căn cứ quân sự, cơ sở hạ tầng, sân bay, tiến hành tập trận và khai thác du lịch. Còn tại quần đảo Trường Sa, sau khi đánh chiếm 6 đảo do quân đội Cộng sản Việt Nam đóng giữ (năm 1988), họ cho xây dựng các cơ sở quân sự và vận tải trên các hòn đảo này. Trung Quốc cũng đánh chiếm đảo Đá Vành Khăn (Mischief Reef) từ tay Philippines vào đầu năm 1995, đặt ở đây chiến hạm và sử dụng nơi này để yểm trợ các chiến dịch hải quân; kiểm soát huyết mạch
Cùng với việc thành lập Thành phố Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc ưu tiên tăng cường cho Hạm Đội Nam Hải thành lực lượng hải quân hùng mạnh nhất; quân chủ lực tinh nhuệ, hùng hậu nhất của hải quân Trung Quốc đều thuộc Hạm Đội Nam Hải, cho thấy chiến lược của họ là Nam Tiến.
Theo nhiều nguồn tin, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ hải quân rất lớn ở gần thành phố Tam Á, phía Nam đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Việt Nam 200 km; đây là một căn cứ trọng yếu cho các tầu ngầm nguyên tử và hàng không mẫu hạm.
Nhờ căn cứ hải quân lợi hại này, quân đội Trung Quốc sẽ dễ dàng kiểm soát vùng Biển Đông và các tuyến đường hàng hải trong khu vực, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với Hạm Đội Thái Bình Dương của Mỹ.
Gần đây, hải quân Trung Quốc đang có những bước đi mang tầm chiến lược, khiến Mỹ đặc biệt quan tâm. Các hành động này cho thấy Trung Quốc đang từng bước thay đổi từ chiến lược “phòng ngự biển gần”, chuyển sang hướng phát triển “hải quân viễn dương”; với lực lượng hải quân hùng mạnh, đủ sức tác chiến tại vùng biển xa.

Cộng sản Trung Quốc đang tham vọng chiếm đoạt Biển Đông, chờ đợi thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa. Mục đích của họ rất rõ ràng: tấn công quân sự quy mô nhỏ; thực hiện đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng biển tranh chấp; bắn giết, bắt giữ các ngư dân, ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên ở vùng biển tranh chấp; chia rẽ các nước trong khu vực ASEAN bằng kinh tế và ngoại giao; tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.

Nếu tại Tây Nguyên, Trung Quốc bí mật cho xây dựng căn cứ quân sự, thiết lập đường tiếp tế từ Lào và Campuchia, cùng lúc đưa dân Trung Quốc vào lập làng, lập huyện ở đây núp dưới vỏ bọc “khai thác bô-xít nhôm”, khi đó Việt Nam sẽ hoàn toàn nằm trong thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc.

 

Tây Nguyên trong thế gọng Kìm

Về mặt chiến lược, nếu nắm được địa bàn Tây Nguyên, làm chủ vùng Bắc Tây Nguyên, thì sẽ dễ dàng đánh chiếm 2 thành phố lớn là Huế – Đà Nẵng, cắt đôi nước Việt Nam tại đây. Điều này không khó, khi mà Trung Quốc có căn cứ quân sự ở Bắc Tây Nguyên, gần ngã 3 Đông Dương, nơi tiếp giáp với Lào và Campuchia.

Họ đã có căn cứ Tam Á hùng mạnh ở đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Huế – Đà Nẵng 200 km, phạm vi hoạt động lý tưởng của tàu ngầm và chiến hạm. Quá trình xây dựng căn cứ này được tiến hành song song với việc Trung Quốc đề nghị thúc đẩy hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Tây Nguyên, nó cho thấy rõ ý đồ muốn biến Tây Nguyên thành căn cứ quân sự của Trung Quốc. Hai căn cứ quân sự này sẽ tạo thành thế trận gọng Kìm vô cùng lợi hại nhắm vào Huế – Đà Nẵng.

Trong thế trận bao vây chiến lược, cùng với thế trận gọng Kìm, đất nước sẽ đứng trước nguy cơ bị chia cắt, rơi vào một cuộc nội chiến vô cùng tàn khốc; đây sẽ là cuộc chiến đẫm máu hủy diệt giống nòi Lạc Hồng, được sự hậu thuẫn, giật dây của bọn bành trướng Trung Quốc, nó đánh gục sức kháng cự của dân tộc ta mãi mãi. Đây là thời cơ để Trung Quốc thôn tính Biển Đông, khống chế Việt Nam, Đông Nam Á và một phần Đông Bắc Á, hoàn thành mộng bá chủ, trở thành mối đe dọa cho Hòa bình trên thế giới.

Làm cho Việt Nam suy yếu, ép nước ta theo “quỹ đạo” trở thành “chư hầu” quy phục Thiên Triều Bắc Kinh. Âm mưu thâm độc ấy của Trung Quốc được ngụy trang khéo léo dưới vỏ bọc “đồng chí XHCN”. Sách lược “đánh vào trái tim” bằng việc trói buộc “Ý thức hệ Cộng sản”, từ đó khống chế mọi hành động của “đồng chí” Việt Nam, nhờ đó họ dễ dàng thực hiện các bước đi chiến lược, và đang tiến rất gần tới đích.

Không loại trừ khả năng họ mua chuộc lãnh đạo Đảng CSVN và dùng “mỹ nhân kế”, làm cho đối thủ mất cảnh giác, đắm chìm trong cuộc sống xa hoa hưởng lạc. Trải qua nhiều thế hệ lãnh đạo, và nay Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tạo thời cơ rất tốt cho họ tiến vào Tây Nguyên.

Cái bắt tay của hai Chính quyền Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc làm chúng ta nhớ lại bài học Mị Châu – Trọng Thủy từ hơn 2000 năm trước.

 

Bài học Mị Châu – Trọng Thủy

Tổ tiên ta đã sớm biết đoàn kết để giữ nước, chống ngoại xâm phương Bắc. Khi mà đất nước là của riêng kẻ cầm quyền, dòng họ, hay gia đình trị; không biết dựa vào dân để chống ngoại xâm, thì sẽ mất nước.

Đó là bài học lịch sử to lớn đầu tiên từ truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy.

Thục Phán An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc, triều đại kế tiếp các Vua Hùng, ông cho xây thành Cổ Loa kiên cố và chế tác vũ khí Nỏ Thần lợi hại. Tần Thủy Hoàng bên Tàu cho quân sang xâm phạm, đã bị đánh thua. Triệu Đà, vốn là tướng Nhà Hán, dùng gian kế “cầu hòa”; xin cho con trai là Trọng Thủy kết duyên với Mị Châu con gái vua An Dương Vương, thực chất là cho người sang làm gián điệp nhằm phá hoại từ bên trong.

An Dương Vương đã mắc mưu kẻ địch, tưởng là gả con gái cho Bắc Triều, mong giữ hòa hiếu mà giữ được ngôi báu. Do mất cảnh giác, lại bị đánh bất ngờ, An Dương Vương đã thua chạy, kết cục nước mất nhà tan, dân ta chìm đắm trong cảnh lầm than suốt 1000 năm Bắc Thuộc… Nàng Mị Châu bị vua cha chém đầu, còn Trọng Thủy vì nhớ vợ cũng gieo mình xuống giếng tự vẫn.

“16 chữ vàng” và “4 tốt” không bảo vệ được “ngôi báu” của Đảng CSVN; dựa vào CNXH đặc sắc Trung Quốc với “lý luận tương đồng, vận mệnh tương quan” để giữ Chế độ này lại càng sai lầm; cắt đất nhượng biển và bán bô-xít cho Trung Quốc cũng không thể mang lại yên ổn cho đất nước; lịch sử đã chứng minh chỉ có Dân chủ hóa, phát huy sức mạnh toàn dân, mới giữ được đất nước trọn vẹn.

Chúng ta không được để tấn bi kịch Mị Châu – Trọng Thủy sẽ tái diễn trong thời đại ngày nay. Vào thời điểm lịch sử này, chúng ta hiểu ra rằng để bảo vệ vững chắc nền Độc lập của đất nước, chỉ có duy nhất con đường tiến tới Dân chủ hóa.

Việt Nam, ngày 14-3-2009

Trần Quốc Hiên